The Vietnamese Newspaper in Canada

Giải Nobel hòa bình 2025 có chủ rồi?

Xin đừng vội chia buồn với đương kim tổng thống Mỹ. Không, cái tựa đề của bài viết này hơi mập mờ một chút. Đúng ra nó phải là “Giải Ig Nobel Hòa bình năm 2025 đã có chủ!” Ông Trump vẫn còn vài tia hy vọng.

Hằng năm, cứ vào tháng 9, một loạt các công trình nghiên cứu tầm cỡ thế giới thuộc loại “mới nghe thì phì cười, nhưng rồi sau đó phải ngẫm nghĩ” được chọn để trao giải thưởng tại Boston, Massachusetts, đất thánh của nền học thuật Hoa kỳ. 

Giải thưởng đó mang tên Ig Nobel. Người ta giải thích rằng trong danh hiệu đó, từ Ig là viết tắt của từ “Ignoble” có nghĩa là “thiếu danh dự” hoặc “thiếu phẩm chất, không đáng tin”. Tên gọi “Ig Nobel” là một cách chơi chữ kết hợp từ này với “Nobel Prize” để nhấn mạnh tính chất hài hước, châm biếm, và đôi khi phi lý của nghiên cứu được vinh danh. Giải thưởng Ig Nobel tôn vinh những thành tựu khiến người ta cười trước, rồi mới suy ngẫm. 

Nhà nghiên cứu Tomoki Kojima không còn bị các đồng sự ruồi cắn khi đổi áo vằn

Nhái theo cái giải Nobel thứ thiệt, sẽ được Hàn lâm viện Thụy điểm công bố vào tháng 10, Ig Nobel cũng có nhiều giải cho những ngành khoa học và một giải mang tên Ig Nobel Hòa bình”.

Buổi lễ trao giải Ig Nobel 2025 vừa được tổ chức tối 18 tháng 9 tại Metcalf Ballroom  trong tòa nhà George Sherman Union của Đại học Boston

Muốn nói giỏi ngoại ngữ, hãy uống rượu!

Năm nay, giải Ig Nobel Hòa bình 2025 về tay Fritz Renner, Inge Kersbergen, Matt Field, và Jessica Werthmann. Họ là các nhà khoa học Hòa Lan ở Đại học Bath và công trình nghiên cứu đoạt giải của họ đã phát giác uống rượu có thể cải thiện khả năng ngoại ngữ.

Mới nghe thì thật ngược đời. Hồi nào giờ, người ta vẫn cho rằng nhậu xỉn thì sẽ lè nhè, phát âm không rõ. Ngoài tác động vật lý, còn có tác động đến các “chức năng điều hành”, ảnh hưởng đến những thứ như trí nhớ làm việc và kiểm soát ức chế. Nhưng cũng có một niềm tin rộng rãi trong số những người song ngữ rằng một chút rượu thực sự cải thiện sự trôi chảy khi nói tiếng nước ngoài, điều này cũng dựa vào chức năng điều hành. Vậy thì việc say rượu thực sự sẽ có tác động bất lợi đến sự trôi chảy ngôn ngữ ngoại quốc không? Renner và các đồng sự đã quyết định điều tra thêm bằng cách tuyển 50 sinh viên khoa tâm lý tại Đại học Maastricht ở Hoà Lan. Họ là những người nói tiếng Đức (mẹ đẻ), nhưng cũng thông thạo tiếng Hoà Lan (Dutch) và chia ngẫu nhiên thành hai nhóm. Một nhóm được cho uống thức uống có cồn (vodka với chanh đắng), và nhóm kia cho uống nước. Mỗi tham dự viên uống trong 15 phút, nuốt vô đủ để khá say, và sau đó tham gia vào một cuộc thảo luận bằng tiếng Hoà Lan với một người mà tiếng Hà Lan là ngôn ngữ mẹ đẻ. Sau đó, họ được yêu cầu tự đánh giá về kỹ năng tiếng Hoà Lan của họ, trong khi những người nói tiếng Hoà Lan với họ đưa ra đánh giá của người quan sát độc lập.

Nhóm nghiên cứu đã ngạc nhiên khi thấy rằng việc say rượu đã cải thiện sự trôi chảy tiếng Hoà Lan của nhóm đã được chuốc rượu, dựa trên các báo cáo của người quan sát độc lập.

Các tác giả nghiên cứu cho rằng việc say rượu làm giảm sự lo lắng về ngôn ngữ, do đó làm tăng khả năng thành thạo ngoại ngữ của một người. (Điều này các cụ ta ngày xưa đã biết, điếc không sợ súng!) 

Ig Nobel 2025

Những năm đầu, lễ trao giải được tổ chức tại Viện Công nghệ MIT, ban đầu tại Bảo tàng MIT và sau đó là tại Hội trường Kresge từ năm 1992-1994. Sau đó, buổi lễ được chuyển đến Đại học Harvard vào năm 1995 và tiếp tục được tổ chức tại đây trong nhiều năm. Trong đại dịch Covid-19 (2021-2023) do điều kiện bất khả kháng, lễ trao giải được tổ chức hoàn toàn online.

Năm 2024, lễ trao giải đã trở lại với hình thức trực tiếp tại MIT, nhưng năm nay được chuyển đến Metcalf Ballroom trong tòa nhà George Sherman Union của Đại học Boston.

Giống như hầu hết các buổi lễ trước, lễ trao giải Ig Nobel lần thứ 35 là một sự kiện kết hợp giữa giải trí và truyền thống, chẳng hạn như một vở opera nhỏ mới và khán giả ném máy bay giấy lên sân khấu.

Sự hiện diện của các khôi nguyên Nobel thứ thiệt tại các lễ trao giải xác nhận tính khoa học của các công trình được giải (và cả khả năng biết cười của các khoa học gia.)

Năm nay, có 6 vị đã từng đoạt Nobel (thứ thiệt) tham dự và là người trao giải, gồm ba giáo sư Viện MIT: Esther Duflo (Nobel Kinh tế 2019), Moungi Bawendi (Nobel Hóa học 2023), Robert Merton (Nobel Kinh tế 1977), hai Giáo sư trường Đại học Harvard: Eric Maskin (Nobel Kinh tế 2007), William Kaelin (Nobel Sinh lý học 2019) và một giáo sư trường Đại học Leipzig: Svante Pääbo (Nobel Sinh lý học/Y học 2022). 

Cũng như mọi năm, lễ trao giải lần này có một chủ đề, và chủ đề được chọn cho 2025 là Tiêu hóa (Digestion). Cho chủ đề đó, phần phụ diễn ca kịch nhỏ (mini-opera) truyền thống có các diễn viên là những y sĩ ngành gastroenterology – chuyên khoa tiêu hóa.   

Năm nay, ban tổ chức giải thích rằng ngoài giấy chứng nhận, phần thưởng sẽ không có tiền – mười ngàn tỷ đô là Zimbabwe như những năm trước, do…lạm phát. Thay vào đó, giải sẽ gồm một miếng khăn lau ẩm (wet towel)!

Ig Nobel Sinh học: Các nhà khoa học Nhật bản Tomoki Kojima, Kazato Oishi, Yasushi Matsubara, Yuki Uchiyama, Yoshihiko Fukushima, Naoto Aoki, Say Sato, Tatsuaki Masuda, Junichi Ueda, Hiroyuki Hirooka, và Katsutoshi Kino đã làm cho hội trường trở nên sinh động khi lên nhận giải.

Công trình của họ: Sơn vằn lên thân thể cho bò sữa sẽ giúp chúng bớt bị ruồi muỗi chích. 

Người ta thường thấy bò lắc đầu, giậm chân, vẫy đuôi và co giật da để cố gắng đuổi ruồi. Bị ruồi cắn là một tai họa cho gia súc, nhưng cũng gây ra tổn thất kinh tế vì nó khiến gia súc ăn ít hơn, nằm nghỉ trong thời gian ngắn hơn và tụ tập lại, làm tăng tình trạng căng thẳng do nóng và nguy cơ bị thương. Hậu quả là sản lượng sữa thấp hơn đối với bò sữa và sản lượng thịt bò thấp hơn đối với bò thịt.

Các nhà khoa học từ lâu đã tranh luận về chức năng của các vằn sọc đen trắng độc đáo của ngựa vằn. Để ngụy trang? Để làm rối mắt những con thú săn mồi? hay để xua đuổi những con ruồi phiền toái? Cũng từ lâu người ta đã biết rằng ngựa vằn là sinh vật rất ít bị ruồi chích. Nhóm nghiên cứu của Tomoki Kojima đã quyết định kiểm tra giả thuyết sau bằng cách sơn sọc vằn lên sáu con bò cái Nhật Bản đang mang thai tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Aichi ở Nhật. Họ dùng sơn nước có thể trôi đi sau vài ngày, vì vậy những con bò này có thể được dùng thay phiên ở ba nhóm khác nhau: sọc vằn, chỉ sọc đen, hoặc không có sọc (nhóm đối chứng).

Kết quả: bò mang sọc vằn đã giảm đáng kể cả số lượng ruồi cắn trên gia súc và các hành vi để xua ruồi của chúng so với những con có sọc đen hoặc không có sọc. 

Khi lên lãnh giải, các nhà khoa học đã giả làm ruồi chích lên Tomoki Kojima, nhân vật đại diện phát biểu khi ông này mặc áo jacket đen. Sau đó, ông cởi áo để lộ ra cái sơ mi vẽ vằn trăng và “bọn ruồi” lảng ra xa. 

Marc Abrahams và Ig Nobel

Giải Ig Nobel được thành lập và những giải thưởng đầu tiên được trao năm 1991. Người sáng lập món hàng nhái để ca ngợi những thành tựu kỳ cục của khoa học này tuy không phải là một nhà sáng chế giàu có nhưng thực sự là một nhân vật có thẩm quyền, đủ trình độ.

Ông Marc Abrahams đam mê những con số, khoa học, rồi những chuyện kỳ lạ ngay từ ngày còn rất nhỏ. 

Marc Abrams theo học khoa Toán Ứng dụng tại Đại học Harvard. Sau khi tốt nghiệp, một điều mà sau này ông thú nhận là “sai lầm”, ông làm việc cho Kurzweil Computer Products, một công ty phát triển hệ thống máy tính nhận dạng ký tự quang học (Optical Character Recognition / OCR). 

Vài năm sau, Marc Abrahams bỏ việc, lập công ty điện toán riêng, nhưng rồi chán, chuyển sang…viết báo. Ông làm chủ biên cho tờ Journal of Irreproducible Results (JIR, một tập san về những kết quả không thể lập lại được) một tạp chí khoa học chuyên về những chuyện buồn cười trong khoa học.

Năm 1991, ông lập giải IgNobel. Do không đủ tiền mua lại tờ JIR v. bị chủ tịch tờ báo ra giá một triệu đô la, Marc Abrahams quyết định tự ra báo. Ông cùng một số thân hữu lập ra tờ Annals of Improbable Research (AIR/Biên niên sử những nghiên cứu khó mà có thật và khó mà tin được). Tờ tạp chí có một ban biên tập đáng nể: hơn 50 nhà khoa học nổi tiếng, trong đó có nhiều người đoạt giải Nobel, một số người đoạt giải Ig Nobel, bà Marilyn Vos Savant – người giữ kỷ lục về thương số thông minh (IQ) cao của Guiness World Records, và một…phạm nhân từng có án. Tạp chí AIR được Hội Sinh viên Vật l. học trường Radcliffe, Harvard và Hội khoa học giả tưởng trường Radcliffe, Harvard bảo trợ.

Tờ báo Pháp Le Monde gọi Marc Abrahams là “vị giáo hoàng của khoa học khó thể tin được” (the pope ofimprobable science), trong khi tạp chí The Journal of the American Medical Association của hội Y khoa Hoakỳ gọi ông là “cục puck của khoa học” (the Puck of Science, từ puck có hai nghĩa, cục puck trong môn hockey, nhưng trong tiếng lóng – slang, cũng có nghĩa là con quái.)

Lần trao giải Ig Nobel đầu tiên, được tổ chức tại một lớp học của Học viện Công Nghệ Massachussetts (M.I.T.) chật cứng người tham dự. Ba năm sau, năm 1994, ban tổ chức phải chuyển buổi lễ qua Hí viện Sanders Theater của trường Đại học Harvard vì mỗi năm một đông thêm khán giả. 

Hàng năm, trước khi Hàn lâm viện Thụy Điển công bố những giải Nobel, tạp chí AIR công bố và trao những giải Ig Nobel tại Sanders Theater. Sau đó, nhữngngười đoạt giải sẽ có những bài thuyết trình về công trình của họ trước công chúng, ở Học viện Công nghệ MIT.

Mỗi năm, Ig Nobel được trao cho những thành tựu trong 10 lãnh vực khoa học. Hồi đầu, tiêu chuẩn lựa chọn chỉ giản dị là “những thành tựu không thể hoặc không nên được lặp lại.”

Trong số mười giải Ig Nobel mới, khoảng một nửa được trao cho những điều mà hầu hết mọi người cho là đáng khen ngợi – có lẽ là vì quái dị. Nửa còn lại dành cho “những thứ mà trong mắt một số người,ít đáng khen ngợi hơn.”

Năm 2009, ông Abrahams mô tả rõ ràng hơn tiêu chuẩn chọn lựa: “Giải Ig Nobel được trao cho những thành tựu khiến mọi người phải CƯỜI, rồi SUY NGHĨ.”

Khi xét trao giải, Hội đồng Có những điều người ta trông thấy/nghe thấy là phải bật cười ngay. Các thành tựu được giải Ig Nobel suốt 33 năm nay đều phải mang tính chất đó. Nhưng đó mới chỉ là một điều kiện. Điều kiện thứ hai là sau khi cười, người ta phải suy nghĩ.

Giải Ig Nobel Văn chương: Được trao cho Bác sĩ William B. Bean vì tác phẩm đồ sộ, được viết ra với văn phong hoa mỹ của ông, được viết trong khoảng thời gian dài hơn một phần tư thế kỷ. tác phẩm của ông, được công bố trên Tạp chí Nội khoa năm 1980, chín năm sau ông qua đời.

 Trong tác phẩm, Dr. Bean “liên tục ghi chép và phân tích tốc độ phát triển của một trong những móng tay của mình suốt 35 năm.” 

Công trình 35 năm của ông phát giác rằng khác với lệ thường là tốc độ mọc móng tay giảm dần khi một người già đi; tốc độ mọc móng tay của ông vẫn ổn định lúc ban đầu, nhưng “giảm một chút” trong năm năm cuối. Tác phẩm của Dr. Bean cũng xác nhận móng tay mọc nhanh hơn ở trẻ em so với người lớn và môi trường ấm áp cũng như việc cắn móng tay cũng có thể đẩy nhanh tốc độ mọc. Dr. Bean đã bác bỏ truyền thuyết dân gian về tóc và móng tay mọc ngay cả sau khi chết: ông giải thích rằng sự co rút của da sau khi chết khiến móng tay có vẻ như đang mọc.

Ig Nobel Hóa học: Có thể do chủ đề là Tiêu hóa, các giải IgNobel năm nay về tay nhiều công trình có liên quan đế thực phẩm và ăn uống. 

Giải Hóa học về tay các nhà khoa học Rotem Naftalovich, Daniel Naftalovich (Israel), và Frank Greenway (Hoa Kỳ), vì các thí nghiệm để kiểm tra xem liệu ăn việc ăn polytetrafluoroethylene – một dạng nhựa thường được gọi là Teflon – có phải là một cách an toàn và hiệu quả để tăng thể tích thức ăn và khiến mọi người cảm thấy no hơn mà không làm tăng lượng calorie hay không.

Nghiên cứu của các nhà khoa học từ Hoa Kỳ và Israel đã ghi nhận “bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ tính an toàn sinh học” của việc ăn phải nhựa.

Họ tin rằng thứ vật liệu này – Teflon, sẽ trôi qua hệ tiêu hóa và sau đó đơn giản là trượt ra ngoài

Hai anh em và đồng tác giả của nghiên cứu, bác sĩ gây mê Rotem Naftalovich và nhà khoa học vật liệu Daniel Naftalovich, đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho “sáng kiến” này.

Công trình của họ còn cho thấy có thể dùng Teflon để…giảm cân. “Các thử nghiệm trên động vật cho thấy những con chuột được cho ăn chế độ ăn 25% PTFE trong 90 ngày không có dấu hiệu ngộ độc và chúng đã giảm cân,” họ viết trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Obesity Technology.

Đọc thêm

Hai lục địa trong lửa rừng

Mùa hè năm nay cháy nhiều quá. Đâu cũng cháy. Từ Âu châu sang Mỹ châu. Những hình ảnh truyền

Ebola 2026: Đáng lo đến mức nào?

Ebola, siêu vi đã cướp đi sinh mạng của hơn 15,000 người ở Phi Châu trong 50 năm qua, và trận đại…

Mạng lưới tội phạm tại sân bay Canada: Bạn có thể trở thành “con lừa thồ” bất cứ lúc nào!

Hãy tưởng tượng: Bạn vừa giao va li cho nhân viên sân bay, lên máy bay và mơ về những ngày vui tại…

Chuyện một người có cái tên xấu

Bây giờ đã là cuối tháng Tư, và chuyện đang sắp kể là có thật. Chuyện của một người có cái tên xấu…
1 của 5,780

Trong bài phát biểu nhận giải được trình bày thay mặt họ tại buổi lễ, các tân khôi nguyên đã gửi lời cảm ơn đến “các đồng nghiệp đáng kính, những người thân đang bối rối và những người qua đường tò mò. Khoa học là một hành trình được trải đầy những câu hỏi kỳ lạ và đôi khi là những câu trả lời kỳ lạ. Mong rằng chúng ta sẽ không bao giờ cạn kiệt cả hai thứ đó.”

Ig Nobel Dinh dưỡng: Giải được trao cho Daniele Dendi, Gabriel H. Segniagbeto, Roger Meek, và Luca Luiselli. 

Nghiên cứu của họ, được công bố trên Tạp chí Sinh thái Châu Phi, tìm ra rằng thằn lằn cầu vồng (rainbow lizards) thích “pizza bốn loại phô mai” (four cheese pizza). 

“Tại một khu nghỉ mát ven biển ở Togo, chúng tôi đã quan sát thấy hành vi đáng kinh ngạc của chúng khi “ăn trộm” pizza của khách du lịch”, nhà sinh thái học Luca Luiselli nói. 

Đương nhiên, họ muốn biết đây có phải là một trường hợp đơn lẻ hay không, những con thằn lằn cầu vồng địa phương có thường xuyên ăn pizza hay không. Và liệu những chúng có thích một loại topping nhất định nào không? Vì vậy, họ đã theo dõi hành vi của chín con thằn lằn cụ thể, cho chúng lựa chọn giữa một đĩa pizza bốn phô mai và một đĩa pizza “bốn mùa”, cách nhau khoảng 10 mét.

Chỉ mất 15 phút để những con thằn lằn tìm thấy pizza, đôi khi đánh nhau để giành những lát còn lại. Nhưng chúng chỉ ăn pizza bốn phô mai. Đối với các tác giả, điều này cho thấy có thể có một số dạng tín hiệu hóa học thu hút chúng đến những chiếc pizza phô mai, hoặc có lẽ thứ này dễ tiêu hóa hơn.

Nhóm nghiên cứu tin rằng có thể loại pizza đó dễ tiêu hóa hơn đối với chúng, hoặc có thể có một số tín hiệu thu hút chúng đến với những lựa chọn nhiều phô mai hơn.

Sáu khôi nguyên Nobel là những người sẽ trao giải thưởng

Ig Nobel Nhi khoa: Các nhà nghiên cứu Julie Mennella và Gary Beauchamp thuộc Trung tâm Giác quan Hóa học Monell đã giành được Giải thưởng Nhi khoa cho khám phá của họ rằng trẻ sơ sinh thích sữa mẹ từ những người vừa ăn…tỏi. 

“Trẻ sơ sinh ngậm vú mẹ lâu hơn và bú nhiều hơn khi sữa có mùi tỏi”, Mennella và Beauchamp viết trong nghiên cứu của họ (Pediatrics 1991, DOI: 10.1542/peds.88.4.737).

Mennella và Beauchamp đã thiết kế thí nghiệm của họ để điều tra hai câu hỏi: Việc tiêu thụ tỏi có làm thay đổi mùi của sữa mẹ hay không? và nếu có, những thay đổi đó có ảnh hưởng đến hành vi của trẻ sơ sinh đang bú sữa mẹ hay không? (Tỏi được chọn vì nó được biết là tạo ra mùi vị khó chịu trong sữa bò và ảnh hưởng đến mùi cơ thể người.) Họ đã tuyển tám phụ nữ chỉ cho con bú sữa mẹ, lấy mẫu sữa của những người này trong một khoảng thời gian mà các bà kiêng ăn các loại thực phẩm có lưu huỳnh (tỏi, hành tây, măng tây), và lấy thêm nhiều mẫu sau khi các bà mẹ dùng một viên nang tỏi hoặc một viên giả dược.

Kết quả: Các bà mẹ dùng viên nang tỏi đã tạo ra sữa có mùi nồng hơn. Mùi nồng đạt đỉnh điểm sau hai giờ ăn và giảm nhanh chóng, Đối với trẻ sơ sinh, những em bé có mẹ ăn tỏi bám vào vú lâu hơn và bú nhiều hơn khi sữa có mùi tỏi. 

Ig Nobel Hàng không: Các khoa học gia Francisco Sánchez, Mariana Melcón, Carmi Korine, và Berry Pinshow cho công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của rượu trên khả năng bay và khả năng định vị bằng tiếng vang của dơi.

Sánchez và các đồng sự đã quyết định xem xét cụ thể tác động của ethanol đối với dơi ăn trái cây Ai Cập, loài dơi này đã được chứng minh là tránh các trái cây có hàm lượng ethanol cao. Họ đặt câu hỏi liệu điều này có phải là vì dơi muốn tránh bị say hay không.

Họ đã tiến hành các thí nghiệm trên những con dơi trưởng thành được nuôi trong một cái lồng ngoài trời đóng vai trò là một hành lang bay dài. Dơi được cho uống thức ăn lỏng với lượng ethanol khác nhau và sau đó được thả vào hành lang rồi tính thời gian mỗi con dơi bay từ đầu này sang đầu kia. Một thí nghiệm thứ hai, cùng một quy trình, nhưng các nhà nghiên cứu đã ghi lại tiếng kêu định vị bằng tiếng vang của dơi bằng một micro siêu âm. Kết quả: Những con dơi nhận được thức ăn lỏng có hàm lượng ethanol cao nhất mất nhiều thời gian hơn để bay hết chiều dài hành lang, cho thấy khả năng bay bị suy giảm. Khả năng định vị bằng tiếng vang của những con dơi đó cũng bị ảnh hưởng bất lợi, khiến chúng có nguy cơ va chạm với chướng ngại vật giữa chừng khi bay cao hơn.

Nhóm mini – opera gồm các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa trình diễn trong lễ trao giải

Ig Nobel Vật lý: Nghiên cứu về loại sốt cacio e pepe hoàn hảo đã được công bố vào tháng 4 trên tạp chí khoa học quốc tế Physics of Fluids. Bài báo của nhóm khoa học gia Davide Revignas và Daniel Maria Busiello (Đại học Padua), Giacomo Bartolucci (Đại học Barcelona), ​​Fabrizio Olmeda (Viện Khoa học và Công nghệ Áo), và Matteo Ciarchi, Ivan Di Terlizzi, Vincenzo Maria Schimmenti, Alberto Corticelli (Viện Max Planck ở Dresden).

“Pasta alla cacio e pepe” là một món ăn đơn giản: chỉ gồm mì ống tonnarelli, phô mai pecorino và tiêu. Nhưng món ăn này nổi tiếng là khó làm vì nước sốt rất dễ bị vón cục với kết cấu giống như phô mai mozzarella dai hơn là mềm và kem. Để để tránh vón cục khi protein phô mai “biến tính”, đầu bếp sẽ lấy một phần dung dịch nước và tinh bột – được làm nguội đến nhiệt độ thích hợp – và trộn nó với phô mai để làm nước sốt, thêm tiêu cuối cùng, ngay trước khi dọn ăn.

Các nhà vật lý Ý đã tìm ra một công thức không thể thất bại dựa trên nhiều thí nghiệm khoa học của họ: tỷ lệ tinh bột chính xác là từ 2 đến 3 phần trăm trọng lượng phô mai. 

Ig Nobel Thiết kế Kỹ thuật: Vikash Kumar, phó giáo sư, và Sarthak Mittal, một nghiên cứu sinh thuộc Đại học Shiv Nadar (SNU) ở Uttar Pradesh, vì đã phân tích, từ góc độ thiết kế kỹ thuật, “cách giày có mùi hôi ảnh hưởng đến trải nghiệm tốt khi sử dụng giá để giày.”

Theo các tác giả của bài báo này, mùi hôi giày là một vấn đề phổ biến. Nhiệt độ và độ ẩm cao khiến mọi người đổ mồ hôi. Cộng thêm việc thiếu thông gió và giặt đúng cách, giày dép trở thành nơi sinh sôi của vi khuẩn gây mùi Kytococcus sedentarius. Hầu hết người Ấn Độ sử dụng giá để giày dép, và mùi hôi có thể trở nên khá nồng nặc trong môi trường kín đó.

Dự án bắt đầu như một bài tập của sinh viên sau khi Mittal nhận thấy giày dép thường được đặt bên ngoài phòng ký túc xá.

“Ban đầu, chúng tôi nghĩ rằng đó là do thiếu chỗ để kệ giày, nhưng chúng tôi tìm ra lý do thực sự là mùi hôi”, Kumar nói.

Kumar và Mittal đã thực hiện cuộc nghiên cứu với sự giúp đỡ của 149 sinh viên năm thứ nhất tại SNU. Hơn một nửa cho biết họ cảm thấy khó chịu về đôi giày có mùi hôi của chính mình hoặc của người khác, và 90% cất giày của họ trong giá để giày. Các phương pháp phổ biến để khử mùi bao gồm giặt giày và phơi nắng; sử dụng xịt khử mùi; hoặc rắc bột kháng khuẩn lên giày. 

Rõ ràng là có một cơ hội để kiếm bộn tiền trên thị trường giá để giày chống mùi. Vì vậy, Kumar và Mittal đã quyết định tự thiết kế cái “thiết bị khử mùi” . Họ đã chọn sử dụng tia UV diệt khuẩn (từ một đèn ống UV-C) làm “máy khử mùi” tích hợp, thử nghiệm thiết bị trên giày của một số thể tháo gia của  SNU, “những đôi giày này có mùi rất khó chịu”. Họ kết luận rằng chỉ cần thời gian tiếp xúc từ hai đến ba phút là đủ để tiêu diệt vi khuẩn và khử mùi hôi.

Nhóm Ig Nobel Vật lý và món mỳ ống với sốt cacio e pepe hoàn hảo

Ig Nobel Tâm lý học: Một trong những giải IgNobel “đáng ngẫm nghĩ” nhứt năm nay là giải Tâm lý học,được trao tặng cho công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học Ba Lan Marcin Zajenkowski, cùng với Gilles E. Gignac từ Trường Khoa học Tâm lý tại Đại học Western Australia. 

Giải thưởng được trao “vì đã điều tra những gì xảy ra khi bạn nói với những người ái kỷ (narcissist) – hoặc bất cứ người nào khác – rằng họ thông minh.”

Công trình nghiên cúu của hai khoa học gia được công bố vào năm 2021 cho thấy việc khen người khác rằng họ thông minh có liên quan đến một cảm giác đặc biệt thái quá

Những phát hiện này có thể phần nào giải thích cách thức chứng ái kỷ phát sinh ở trẻ em – đặc biệt là những trẻ luôn được cha mẹ liên tục khen ngợi là quá thông minh.

Thí nghiệm của họ có sự tham gia của 361 người, được cho làm một bài kiểm tra IQ (thương số thông minh). Bất kể điểm số thực tế của họ là bao nhiêu, họ đều được thông báo ngẫu nhiên rằng kết quả của họ cao hơn hoặc thấp hơn mức trung bình.

Ông Zajenkowski nói về phát hiện của các nhà nghiên cứu: “Chúng tôi nhận thấy rằng khi những người tham gia được thông báo rằng trí thông minh của họ cao hơn mức trung bình, cảm giác tự tin, sự độc đáo và sự vĩ cuồng kỷ của họ tăng lên”.

Các tác giả kết luận rằng phản hồi từ bên ngoài đã giúp định hình nhận thức của các đối tượng về trí thông minh của chính họ, bất kể độ chính xác của phản hồi đó.

Những phát giác này có thể phần nào giải thích cách thức chứng ái kỷ phát sinh ở trẻ em – đặc biệt là nếu chúng có cha mẹ liên tục khen ngợi chúng thông minh. 

Đỗ Quân 

(tổng hợp từ nhiều nguồn)

Tin liên quan