Những điều tác giả “Mưa Đỏ” viết không đúng với thực tế chiến trường Quảng Trị năm 1972 (Phần II)
LTS:“Mưa Đỏ” của Chu Lai ra đời năm 2016, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành. Được gọi là “tiểu thuyết chiến tranh”, sách đã được chuyển thể thành kịch (2022), rồi tuồng chèo (2024). Nhưng phải đến năm nay, 2025 nó mới được biết đến như một cơn sóng đỏ trong nước sau khi cuốn phim Mưa Đỏ được phát hành.
“Bản hùng ca thời đại” — tên gọi cuốn phim của báo chí trong nước, nhanh chóng thành công về mặt doanh thu — 699.3 tỷ đồng và thu hút hơn 8 triệu lượt khán giả, trở thành phim điện ảnh Việt Nam có doanh thu cao nhất mọi thời đại tính đến ngày 25 tháng 9 năm 2025. Nữ đạo diễn và nhà phát hành phim đã chính thức thông báo phim sẽ ngưng chiếu ở rạp từ ngày 29/09/2025, sau khi không ít người trong nước đã lên tiếng về những chi tiết bịa đặt nhằm gây thêm thù hận trong cuốn phim tuyên truyền này.
Dịp này, nhà báo Ngy Thanh, người đã rửa tay gác bút nhiều năm nay, đã chẳng đặng đừng phải có ý kiến về tính hư cấu đến mức giả tưởng của những chi tiết trong quyển sách Mưa Đỏ.
Cũng cần nhắc lại, Ngy Thanh là một cựu phóng viên chiến trường, nhân chứng của giai đoạn lịch sử 1971-1975 và là tác giả của quyển Đại lộ Kinh hoàng, một công trình lớn về cuộc thảm sát người Việt bởi tay người Việt sau khi Quảng Trị thất thủ năm 1972 (nhà xuất bản Nhân ảnh phát hành năm 2022).
Thời Báo
6. Mất phương hướng về dinh tỉnh trưởng
Ở chương 8 viết về “thành cổ”, nhà văn Chu Lai mô tả khu hầm chỉ huy “dưới một tòa nhà hai tầng khá rộng có bốn ngăn, mỗi ngăn chừng mười lăm thước vuông. Lúc này, khu hầm tạm thời là kho chứa đồ và nơi đóng quân của trạm xá luôn. Trong ngăn rộng nhất, Bộ chỉ huy Thành cổ và các đơn vị trưởng đang ngồi cao thấp trên các bao gạo, thùng đạn khác nhau” thì “Chính ủy Phạm Lân gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn, vẻ nhắc nhở:
– Này, nói đây thì được nhưng đừng nói rộng ra, bộ đội dễ hoang mang. Đây vốn là dinh tỉnh trưởng cũ của ngụy được xây từ thời Pháp, và cũng chỉ còn nơi này là có kiến trúc kiên cố nhất.”
Như thế, dinh tỉnh trưởng vốn nằm trên đường Gia Long chạy dọc theo bờ Nam sông Thạch Hãn đã được ông Chu Lai dùng ngòi bút của mình để dời vào bên trong cổ thành Đinh Công Tráng. Và ông ấy đã trịnh trọng lặp lại việc mất phương hướng về dinh tỉnh trưởng ở chương 10, “Hải cũng rướn cổ lên, há hốc mồm. Trước mắt anh, tầng mái của khu dinh tỉnh trưởng đã bay biến đi đâu mất.”

7. Thiết vận xa M113 và tăng M-41
“Cho đến khi những chiếc mũ sắt như những mu rùa nhấp nhô nhiều hơn, hỏa lực nổ chát chúa mạnh hơn và loáng thoáng có những đầu xe thiết giáp M113 đen trũi như đầu tê giác gầm ghì chồm tới thì trận đánh mới bắt đầu trở thành ác liệt.”
Mô tả việc giao tranh ở cổ thành, tác giả ở chương 10 đã vận dụng đến xe bọc thép M113— là dòng xe chuyên chở quân sĩ và quân trang quân dụng thay vì chiến đấu và yểm trợ bộ binh tùng thiết. Và lại, chung quanh thành cổ Đinh Công Tráng là một vòng hào sâu với bùn sình và nước, phía VNCH chỉ sử dụng các toán nhỏ lách luồn qua, trèo lên những chỗ tường bị bom và pháo cày phá với mục đích cắm cờ thay vì chiến đấu.
8. Xe Jeep
Ở chương 21, Chu Lai viết: “Hắn định đứng dậy thì vừa lúc một chiếc Jeep cuốn bụi lướt đến, dừng sững. Viên Đại tá sư trưởng dù cùng một viên cố vấn Mỹ mặc thường phục mở nhanh cửa, gần như nhảy xuống, cả hai vỗ tay.”
Chiến tranh đã dứt nửa thế kỷ trước. Số quân trang quân dụng mà VNCH bỏ lại và phía bộ đội chiếm hữu không ít, nhất là loại xe nhỏ chỉ huy (general purposes, gọi tắt là GP, đọc nhanh là “Gee P”, nghe rất giống với từ “Jeep”).
Xin hỏi ông đại tá Quân đội Nhân dân Chu Lai: đến nay, Hoa Kỳ đã chế tạo trên 812,000 chiếc xe Jeep nhà binh, do Bantam thiết kế nhưng chủ yếu được sản xuất bởi Willys-Overland Motors và Ford Motor đến lúc kết thúc sản xuất chính thức vào đầu thập niên 1980 để chuyển qua loại xe Humvee — nhưng xin ngài cho tôi biết phiên bản nào là thiết kế có cửa?
9. “Bảy tiểu đoàn TQLC đã bị xóa phiên hiệu”
Ở chương 24, sau khi lặp lại lầm lần về màu mũ của binh chủng TQLC VNCH là màu mủ Đỏ — thay vì màu Xanh, tác giả viết câu nói của đại tá sư đoàn trưởng TQLC đáp câu hỏi của Tổng thống Thiệu:
“- Thưa, sư đoàn thủy quân lục chiến đã làm hết sức, mười tiểu đoàn thì tới bảy tiểu đoàn đã bị xóa phiên hiệu là một minh chứng ạ.”
Nếu lược lại lịch sử của binh chủng mũ Xanh nầy từ ngày Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 991/NĐ thành lập Binh chủng Thủy Quân Lục chiến hiệu lực kể từ ngày 1/10/1954, qua các giai đoạn lịch sử chiến đấu, có những thời điểm bị tan tác, nhưng đến ngày 30/04/1975 vẫn chưa có tiểu đoàn nào trong 11 tiểu đoàn bị xóa phiên hiệu. Riêng Lữ Đoàn 468 mới được thành lập ngày đầu năm 1975 tại căn cứ Sóng Thần Thủ Đức, gồm có TĐ14, TĐ16 và TĐ18 chỉ mới kịp hoàn tất TĐ14 và 16 thì đã đuợc lệnh xuất quân tăng phái cho Tiểu khu Long An. Sau một tuần, lữ đoàn nầy đươc không vận ra Đà Nẵng thay thế cho Lữ Đoàn Nhảy Dù, phòng thủ khu vực đèo Hải Vân từ đầu tháng 2 cho đến ngày 29/03/1975 thành phố Đà Nẵng thất thủ, được triệt thoái ra tầu Hải quân di chuyển về đến Vũng Tàu ngày 4/04/1975. Sang ngày 8/04 thì TĐ16 cùng với TĐ8 (Ó Biển) được tăng phái cho BTL QĐ3 bảo vệ khu vực Long Bình, còn TĐ14 ở lại Vũng Tàu bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cho đến ngày buông súng theo lệnh Dương Văn Minh.
10. Sau ngày 27/07/1972 khi Thủy Quân Lục Chiến đã thay quân cho phía Nhảy Dù
Ở chương 15, tác giả ghi “Ngày thứ 30”, tức là ngày 27/07/1972. Vậy mà đến chương 25, ông Chu Lai vẫn ghi câu nói của Trung đoàn trưởng Thành tán dương Tấn:
“- Thay mặt Bộ chỉ huy, tôi biểu dương tinh thần chiến đấu kiên cường và đầy sáng tạo của các đồng chí! Với trận đánh lui bọn liên đoàn biệt động tổng trù bị này, một lần nữa đã chứng tỏ Thành cổ là một pháo đài bất khả xâm phạm.”
Như thế, thêm lần nữa, tác giả đã sai lạc từ Nhảy Dù, qua Hắc Báo, đến Thủy Quân Lục Chiến và mang cả lính mũ Nâu Biệt Động Quân vào trận phòng giữ cổ thành.

11. Trực thăng hạ cánh
Đầu chương 26, Chu Lai viết:
“Lúc này đã vào cuối chiều. Một chiếc trực thăng gầy guộc như con nhặng đói è è làm một đường bay ngoạn mục xuống sát mặt nước đang dâng cao, cuộn chảy đục ngầu dưới bụng rồi nghiêng cánh lạng vào bờ, kín đáo hạ xuống một bãi cỏ gianh um tùm cách đó không xa. Tiếng mưa và tiếng sóng ồn ào đã khiến cho sự hạ cánh của nó êm nhẹ như một cánh diều mỏng rồi rùng mình nôn ra chừng hơn chục tên Hắc Báo nai nịt như cướp rừng của Trung úy Quang, mặt mày bôi vằn vện, quần áo màu cỏ úa cũng vằn vện.”
Ở chương trước, tác giả vừa kể “trận đánh lui bọn liên đoàn biệt động quân trừ bị”, qua đầu chương nầy đã lại liệt kê “hơn chục tên Hắc Báo của Trung úy Quang”, thêm vào đó, ông đại tá đã biến chiếc máy bay lên thẳng thành máy bay… có cánh.
12. Đại tướng Cao Văn Viên đội mũ đen của binh chủng Thiếp Giáp
Ở chương 34, tác giả viết: “Từ ngoài hành lang kín đáo, viên Đại tướng tổng tham mưu trưởng và tốp tùy tùng đi vào…” tiếp theo đó, ông Chu Lai viết thêm: “Viên Đại tướng bỏ chiếc mũ bê-rê màu đen ra khỏi đầu để lộ một mái tóc bồng bềnh và một vầng trán khá đẹp.”
Theo chỗ tôi tìm hiểu về quân nghiệp của Tướng Cao Văn Viên, sinh ngày 21/12/1921, năm 1949 tốt nghiệp Khóa 1 Võ bị Đà Lạt, cuối thập niên 1950 là tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho, năm 1962 đến 1964 làm tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, năm 1965 được bổ nhiệm chức Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, đến tối Chủ nhật 27/04, sau khi Quốc Hội biểu quyết trao quyền tổng thống lại cho ông Dương Văn Minh, vì thời gian quá gấp rút, theo hệ thống quân giai, ông Cao Văn Viên trình miệng với Trung tướng Trần Văn Đôn (đang là Tổng Trưởng Quốc Phòng trong Nội Các của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn), trình lên Tổng thống Trần Văn Hương nguyện vọng được về hưu của mình đã xin từ năm năm về trước. Tổng thống Hương biết rõ chuyện này nên đã ký sắc lệnh cho về hưu. Khi biết đã được phép giải ngũ, ông liên lạc với Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ (DAO) để xin di tản ra Đệ Nhất Hạm Đội. Khi rời Việt Nam ngày 28/04/0975, ông mặc thường phục vì đã về hưu. Như thế, trong suốt quá trình từ khi làm tư lệnh Nhảy Dù, ông Cao Văn Viên đã luôn sử dụng quân phục của binh chủng nầy, với đồ rằn ri và mũ đỏ – thay vì mũ đen của binh chủng Thiếp Giáp, là sắc lính mà ông không hề có liên quan.
13. Bẻ gãy lịch sử hay tạo độ vênh lịch sử thái quá?
Ebola 2026: Đáng lo đến mức nào?
Mạng lưới tội phạm tại sân bay Canada: Bạn có thể trở thành “con lừa thồ” bất cứ lúc nào!
Chuyện một người có cái tên xấu
Trong trận Chiến dịch Trị – Thiên 1972 (Mặt trận B5), sau khi chiếm được thị xã Quảng Trị ngày 1/05/1972 Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Ban Chỉ huy Mặt trận bảo vệ thị xã Quảng Trị là Đại tá Hoàng Thiện. Cũng trong bộ tư lệnh Mặt trận B5 ấy, cùng với Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo làm Phó Tư lệnh Chiến dịch và Thiếu tướng Nguyễn Hữu An giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch, thì Trung tướng Cao Văn Khánh là Phó Tư lệnh. Vậy ông Hoàng Thiện và ông Cao Văn Khánh đã để lại những lời gì cho hậu thế?
Nhà báo Lưu Trọng Văn kể khi hỏi Hoàng Ba (người con trai đang sống cùng và trực tiếp chăm sóc cựu chính uỷ Hoàng Thiện tại Đồng Hới, Quảng Bình) về “cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị” thì Hoàng Ba đáp: “ba em bảo không có cái gọi là “81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị” mà chỉ có “81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị” thôi, vì thành cổ rất nhỏ nằm trong thị xã Quảng Trị; không có đánh nhau trong thành cổ mà chỉ đánh nhau ở thị xã.
Hoàng Ba đã cho Lưu Trọng Văn xem bức thư viết tay của Đại tá Hoàng Thiện gửi ban viết sử về cuộc chiến này, trong đó có đoạn:
“Trước hết tôi xin mạnh dạn và thẳng thắn mà nói rằng chủ trương giữ Thị xã Quảng Trị là 1 sai lầm lớn về chiến lược: Duy ý chí không khoa học, không tuân thủ những nguyên lý, nguyên tắc, tư tưởng quân sự mà cha ông đã đúc kết. Nhất là trong điều kiện “Mỹ hoá chiến trường”, chủ yếu là bằng hoả lực, nó thừa hoả lực và đầy đủ các yếu tố để sử dụng tối đa hoả lực!
Tôi thấy có những đoạn của cuốn sử như là hư cấu, ví dụ các trận vận động tấn công giữa ban ngày dưới phi pháo của địch… diệt bao nhiêu địch… nghe rất chính quy, rất bài bản, như là diễn tập thực binh vậy! Ta thử tưởng tượng xem, với địa hình trơ trụi như vậy, máy bay trinh sát liên tục trên đầu, tọa độ nó đã chuẩn bị sẵn, nó thừa bom đạn, máy bay đã cài bom, đạn pháo đã lên nòng, ta tập kết quân, tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng thế vào đây mà dám thoát ly công sự đánh vào mũi này mũi nọ. Quân ta vận động chiến đấu dưới sự yểm trợ của hoả lực cấp trên (thử xem được mấy quả pháo, mấy quả cối). Còn tập kích ban đêm. Phải nói địa hình quân ta không thành thạo, địch ta nắm không chắc, chúng luôn né tránh, nghi binh, nó thừa biết ta là tập kích ban đêm, nó dại gì ở 1 chỗ cho ta tiêu diệt. Chưa nói chuyện ta tổ chức chiến đấu, tổ chức hiệp đồng xong thì trời gần sáng. Thường trong đánh Mỹ ta phải dùng bí mật bất ngờ, khéo nghi binh bám sát thắt lưng địch mà đánh mới diệt được chúng… Tình tiết thì còn nhiều vấn đề nữa.”
Đại tá Hoàng Thiện tường thuật tiếp trong thư:
“Sau khi tôi vào thị xã được khoảng 1 tuần, thì xảy ra mâu thuẫn chủ yếu giữa tôi và đồng chí Thuý (trong ban chỉ huy). Tôi thì cho rằng tình hình này chủ yếu là phải giữ chốt, còn phản kích thì chỉ khi cần thiết và có điều kiện. Đồng chí Thuý thì lại thiên về vận động tấn công ban ngày và tổ chức tập kích ban đêm. Nhưng bộ đội càng thoát ly công sự thì càng bị tổn thất và mất dần trận địa (thực ra tôi đã từng quần với địch ở đồng bằng QK5), tiếp xúc với nhiều loại đối tượng địch (tôi ở E21 QK5) rất thấm thía là bộ binh địch không mạnh, nhưng nó luôn dựa vào hoả lực để diệt ta, bộ binh luôn né tránh và lừa ta. Suốt thời gian ở Thị xã, tôi chưa thấy được 1 trận vận động tấn công và tập kích nào có hiệu quả, có chăng chỉ dựng lên mà thôi.
Nhưng khốn nỗi trên lại nghe 1 chiều báo cáo của đồng chí Thuý, còn tôi luôn bị lép vế. Tôi suy nghĩ là Chính uỷ, là Bí thư Ban cán sự phải làm gì đây? Tôi đã ba lần gửi 3 bức thư về sư đoàn, nói rõ thực trạng tình hình địch, ta (mỗi lá thư tôi viết cả 1 tờ giấy liền), lá thư thứ 3 tôi có nói: Cần phải quý trọng tính mạng của người chiến sĩ: “hành quân chết, vượt sông chết, tập kết chưa có công sự chết, lạc vào địch chết v.v…” Thế là tôi được mang bản án đầu tiên là sợ địch, hữu khuynh, không dám tấn công, sợ chết!
Quá bức xúc ngày 13/09 trước tình thế hiểm nghèo, tôi qua sông đến Nhan Biều để báo cáo thực trạng với đ/c Việt – tham mưu trưởng sư đoàn. Nào ngờ tôi lại được mang bản án thứ 2 là “giao động, lui về sau, bỏ nhiệm vụ.”
Ở các đoạn khác, ông Thiện mổ xẻ chi tiết: “Trong bản Dự thảo nhiều đoạn các đồng chí viết về tổ chức phòng ngự và càng về sau càng có liên hoàn và có chiều sâu. Tôi cho rằng các đồng chí không bám thực tiễn lúc đó. Và tư liệu cung cấp có thể là do các đồng chí ở E48. Rõ ràng là không đúng sự thật. Tôi xin nói ở Thị xã Quảng Trị lúc bấy giờ không có khái niệm về phòng ngự. Từ ‘phòng ngự’ là 1 từ huý, không ai được phát ra lời. Đụng đến từ ấy sẽ mất đầu như chơi, thì làm gì có tổ chức phòng ngự. Quảng Trị chỉ được nói tấn công, liên tục tấn công, vận động tấn công mà thôi. Trên thực tế thì có hình thành những điểm chốt, cụm chốt. Và chốt cũng để làm cơ sở cho tấn công thì làm gì có liên hoàn và chiều sâu.” Và “Nếu có ý đồ phòng ngự thì với đặc điểm Thị xã như vậy, làm gì phải đem vào trên 10 d bộ binh, 1 số đơn vị binh chủng kỹ thuật làm mồi cho bom đạn địch. Do đó tổn thất lớn cũng là từ đây, thua địch từng bước cũng là từ đây! Trong dự thảo có nhiều đoạn mô tả ra vẻ rất bài bản, rất chính quy và bộ đội ta luôn sung sức. Thực tế luôn có nhiều loạc choạc và không có Tiểu đoàn nào trụ nổi 10 ngày đâu. Như các đồng bí biết thương vong bình quân mỗi ngày 100…! Tiểu đoàn 4 E95, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đến khi quân số còn 7, d5 còn 15, tôi cho ra sau để thu lượm anh em để củng cố lại, thế là tôi lại được thêm 1 cái tội là ‘tự tiện và vô nguyên tắc.’… Địch “Mỹ hoá chiến tranh” đến cao độ chủ yếu là hoả lực và phương tiện kỹ thuật. Chúng thực hiện huỷ diệt để lấn chiếm. Bộ binh địch luôn dựa vào hoả lực và đi sau hoả lực. Nó làm nát các ổ đề kháng của ta rồi mới cho bộ binh vào. Trong tình hình như vậy mà ta tổ chức lực lượng, đánh vận động tấn công để tiêu diệt 1, 2 B của địch thì thật là ảo tưởng.”
Phía “ta”, ông Thiện viết: “Quân số liên tục hao hụt, cán bộ chỉ huy luôn bị xáo trộn, có khi cán bộ Tiểu đoàn phải chỉ huy 1 B, thậm chí 1 A, có khi cán bộ Trung đội lại chỉ huy Tiểu đoàn.v.v… Lính lúc đầu vào thì sung sức, được huấn luyện tốt, càng về sau chất lượng giảm dần, có những lứa 16, 17 tuổi, vào bộ đội huấn luyện gấp được 1 tháng vào chiến trường ngơ ngơ ngác ngác, lại vào ban đêm hỏi ở đơn vị nào không biết, hỏi cán bộ Đại đội là ai… không biết. Thế mà lúc nào cũng cứ quân ta anh dũng kiên cường, quân địch tang hoang mang giao động!! Súng, pháo bị tiêu hao dần, đạn không có đủ. Cao xạ gần như bị tê liệt, pháo binh chi viện được tính từng quả…” Và ông đại tá kết luận: “Phải dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói đúng sự thật. Tôi cho rằng trong chiến tranh, trong chiến đấu đặc biệt là ở Thị xã Quảng Trị thì sự tổn thất hy sinh là không thể tránh khỏi. Nhưng người lãnh đạo, người chỉ huy phải tìm đủ mọi cách để tránh được tổn thất hy sinh không đáng có. Không nên xây lầu vinh quang trên xương máu của chiến sĩ – Đây là 1 tội ác. Tôi thấy cũng cần phải tổng kết để rút kinh nghiệm cho đời sau. Là 1 cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt trong Thị xã Quảng Trị, tôi luôn tự vấn mình –trước vong linh chiến sĩ, tôi tự thấy mình luôn là người có lỗi.”
(https://www.facebook.com/luu.trong.van.634976/posts/pfbid09Px5oQAHX1xjQwUzfhyFpGmhVCM6DvJqgnsTUKVAriTaKusN8A7fwsstG1cP4LnYl)
Trong khi đó, ở sách “Tướng Cao Văn Khánh — Hồi ức lịch sử” do Cao Bảo Vân, con gái của cố Trung tướng Cao Văn Khánh viết, chương 35 từ trang 618 đến 631 của toàn bộ cuốn sách dày 699 trang do nhà Tri Thức xuất bản năm 2017, chúng ta đọc thấy:
“Khi viết tổng kết cho Cục Tác Chiến về trận Quảng Trị, Đại tá Giang Hà nhận xét: “Tôi nhớ lại câu đồng chí Cao Văn Khánh nói với đồng chí Lê Trọng Tấn: “Phàm ở đời, việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc”. Và đồng chí Tấn cũng triết lý thêm: “Đúng đấy, tướng chiến thuật là tướng dũng cảm, tướng chiến dịch là tướng mưu trí, còn tướng chiến lược là tướng quyết đoán và nhân nghĩa”.

Ở chương sách nầy, câu chuyện về bảo vệ thành cổ Quảng Trị đã được ông tướng người Thừa Thiên ghi nhận:
“…Chiến dịch Quảng Trị đã kết thúc một cách bi thảm. Chỉ trong phạm vi 16 ha Thành cổ và 3 km2 thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm, các đơn vị chiến đấu bị trút lên đầu 328.000 tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima (Nhật Bản). Số lượng bom mìn ở đây theo ước tính phải 300 năm nữa, Quảng Trị mới rà phá hết.”…”Để phục vụ yêu cầu chính trị và đấu tranh ngoại giao, các đơn vị chiến đấu bảo vệ Thị xã và Thành cổ Quảng Trị đã giữ vững trận địa trong 81 ngày đêm dưới tầm hỏa lực bom pháo ác liệt trong điều kiện lực lượng chiến đấu rất chênh lệch. Sinh lực quân đội đã bị vắt kiệt để phục vụ những thắng lợi trên bàn đàm phán”… “Tài liệu tổng kết chiến dịch mùa hè 1972 của Bộ Tổng Tham mưu (mã số KHTM/1972-BQP) viết: ‘Chúng ta đã thiệt hại nặng nề nhất kể từ sau Tổng tấn công Mậu Thân năm 1968 mà cần phải một thời gian chừng 4 năm nữa mới có thể khôi phục lại. Theo sổ tay tác chiến: Ta hy sinh 10.767, mất tích 1.550, bị bắt 98, bị thương 27.573, đào lạc ngũ 5.957, hàng 136; tổng cộng là 46.081. Thiệt hại binh lực có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến’”.
Câu chuyện lịch sử rành rành như thế, mà ông Chu Lai đã viết câu chuyện thực về “81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị” thành câu chuyện giả “81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị”.
***
Như vừa trình bày, cuốn “Mưa Đỏ” của ông Chu Lai còn nhiều “sạn”, nếu phải nhặt kỹ, thì cũng không cứu vớt được phần nào những lỗi quá thông thường và tầm thường đến mức tuy có thể không nên gọi toàn cuốn sách là một thùng rác hỗn tạp, nhưng phải nghiêm túc chọn một từ ngữ để gọi cho 38 chương sách chẳng khác một mớ bòng bong của người mất trí nhớ và thiếu kiến thức sơ đẳng khi sử dụng ngòi bút để viết về câu chuyện chiến tranh sau hơn 50 năm — để đánh lừa được Luật Điện ảnh năm 2022 và Nghị định số 131/2022/NĐ-CP ngày 31/12/2022 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết một số điều của Luật Điện ảnh, theo đó, “việc sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng nhằm phục vụ trực tiếp cho các nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, đặc biệt chú trọng những đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước như lịch sử, cách mạng, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc, thiếu nhi, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…” thay vì dùng văn tài của mình để hoàn thành một tác phẩm văn chương mang tính đặc thù, có vai trò bồi dưỡng lý tưởng, giáo dục truyền thống và khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa dân tộc.
Riêng đoạn văn kể về việc quân nhân VNCH thiêu sống “Hải Gù” ở chương 32, chúng tôi xin nhường cho người đọc phê phán về tính xuyên tạc lịch sử, cũng như đi ngược tinh thần hòa hợp hòa giải mà nhà nước Việt Nam đang chủ trương:
“’Đốt!’ Gã rít lên. Liền đó, những can xăng màu chì mang nhãn USA đã đặt sẵn dưới đất được nhấc lên, mở nắp, tưới xối xả lên đầu, lên cổ, lên cả người anh. Đâu đó, gã hơi lùi lại, rút hộp quẹt cũng mang nhãn Zippo USA, quẹt lửa rồi quăng vào. Lửa bùng lên, liếm nhanh, trùm lên anh. Phút chốc, toàn thân người chiến sĩ đã hóa thành ngọn đuốc sống cháy giữa mênh mông hoang tàn, cháy ngút lên trời cao trộn vào lửa khói…”
Tóm lại, 81 ngày, từ 28/6/1972 đến 16/9/1972, là thời gian bảo vệ thành cổ hay bảo vệ thị xã Quảng Trị — là việc mà sau khi cuốn sách đã được tái bản và cuốn phim đã chiếu xong ở rạp và ngưng chiếu cho khán giả kể từ ngày 29/09/2025, hẳn sẽ có những người còn lương tâm để minh định hai vấn đề lịch sử ấy, như bác sĩ Trịnh Hòa Bình — một cựu chiến binh quân Bắc Việt từng có mặt tại chiến trường và thành cổ Quảng Trị vào năm 1972 nhận xét:

“Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị là bao gồm thành cổ Quảng Trị và các làng xã xung quanh. Đó là các địa danh: nhà thờ Trí Bưu, thánh địa La Vang, chợ Sải, làng Hạnh Hoa, ngã ba Long Hưng… mà thành cổ nằm ở trung tâm các địa danh ấy về phía Bắc, phía sau thành cổ là sông Thạch Hãn.
Từ những ngày đầu tiên của 81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị cho đến khoảng 10/09/1972, các trận đánh ác liệt giằng co chỉ diễn ra ở các làng xã xung quanh ấy, chưa bao giờ trong lòng thành cổ! Quân địch cũng từng muốn đặt chân lên thành cổ để tạo áp lực cho hội nghị tại Paris, nhưng không thể. Đêm 22 rạng sáng 23/07, một trung đội lính dù đã lẻn vào thành để tìm cách cắm cờ, nhưng đã bị tiêu diệt. Phải gần hai tháng sau, đến sáng ngày 15/09/1972, lực lượng Thuỷ quân Lục chiến với sự yểm trợ của pháo binh, xe tăng, máy bay mở một đợt tổng công kích vào khu vực trường Bồ Đề, từ đó tiến sát dinh Tỉnh trưởng tạo thế gọng kìm nhằm bao vây và tiêu diệt các lực lượng Quân giải phóng trong thành, thì cuộc chiến bên trong thành cổ mới diễn ra. Tại trường Bồ Đề, một tiểu đội Quân giải phóng đã hy sinh toàn bộ sau nhiều giờ chiến đấu. Chiều 15/09/1972, một số xe tăng của địch đã tiến sát đến bờ sông khu vực dinh Tỉnh trưởng, thậm chí một chiếc M48 còn dừng ngay trên nóc hầm khẩu đội 12 ly 7 của đại đội 16, trung đoàn 95. Chiếc xe tăng này sau đó bị ta bắn cháy, một chiếc khác gần dinh Tỉnh trưởng phải lùi lại phía sau vì trời cũng đã tối.”
Đến lúc nầy, hẳn nhà văn Chu Lai cũng như nữ đạo diễn Đặng Thái Huyền đã thấm thía lời khẳng định của ông bác sĩ Trịnh Hòa Bình:
“Trong phim Mưa đỏ, các trận đánh đều diễn ra trong lòng thành cổ từ những ngày đầu tiên. Và điều đó là sai cơ bản với lịch sử.”
Ngy Thanh
24/09/2025