Ngày những người bình thường trở thành anh hùng (phần I)

Ngày này hai mươi năm trước, một biến cố ở Hoa Kỳ đã tạo ra những thay đổi lớn, không những ở nước Mỹ mà còn cho cả thế giới.

Bốn chiếc phi cơ phản lực hàng không dân dụng bị cướp. Bọn không tặc đã cướp máy bay của các hãng hàng không dân dụng, dùng làm vũ khí tấn công vào trung tâm nước Mỹ. Một loại vũ khí không ai ngờ đến, và những mục tiêu cũng chẳng ai dám nghĩ đến.

Hai trong số các máy bay bị cướp lao xuống Trung tâm Thương Mại Thế giới ở New York, một vào trụ sở Ngũ giác đài ở Arlington, Virginia.

Phi cơ thứ tư bị cướp là chiếc Boeing 757 của hãng hàng không United Ways, Flight 93, từ Newark đến Washington D.C. Bọn không tặc đã không thành công, mục tiêu có thể là Điện Capitol hoặc Bạch ốc, đã không đạt được.

Các hành khách tay không trên Flight 93 đã phá hỏng mưu đồ của bọn không tặc.

Chiếc phi cơ lao xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania.

Bốn mươi người trên chuyến bay – đã trừ ra 4 tên không tặc, đã từ những con người rất bình thường trở thành các anh hùng.

Từ những mẩu thông tin rất nhỏ, đặc biệt là những cuộc gọi từ trên máy bay cho những người thân của các hành khách, các nhà báo đã khai thác, tìm hiểu, thêm thắt các chi tiết mà họ thu lượm được sau đó, để viết lại thành một bản anh hùng ca.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm biến cố 9-11, Thời Báo gửi đến bạn đọc bản dịch của một trong số các bản anh hùng ca đó. Nguyên bản được đăng trên tạp chí Vanity Fair, số tháng 12 năm 2001.

Vào khoảng quá nửa đêm, sấm sét và những cơn mưa như trút nước cuối cùng cũng kết thúc, một chiếc Mitsubishi màu đỏ tấp vào bên ngoài khách sạn Marriott ở Phi trường Quốc tế Newark. Khách sạn nằm bên trong vòng bán nguyệt lớn được hình thành bởi ba nhà ga của sân bay, vẫn rực sáng đèn. Hai người đàn ông mảnh khảnh, người Ả Rập, bước ra khỏi xe và đi vào trong, đến quầy tiếp khách. Trong khi họ làm thủ tục, một người đàn ông thứ ba lái chiếc xe đến khách sạn Days Inn gần đó và đậu xe ở đó.

Hôm đó là thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, và sự việc chỉ bắt đầu đơn giản như thế.

Trước khi xảy ra thảm kịch ngày 11 tháng 9, chủ nghĩa anh hùng là một khái niệm trừu tượng đối với nhiều người Mỹ. Lớn lên trong những năm tháng êm đềm của thời Reagan và Clinton, họ gần như chỉ biết về khái niệm này qua truyền hình và phim ảnh, cảm thấy nét đẹp này qua hình ảnh một người lính cứu hỏa hối hả dìu một cô gái nhỏ ra khỏi một chung cư đầy khói, hoặc một người đàn ông Trung hoa vô danh đối đầu với một chiếc xe tăng ngoài quảng trường Thiên An Môn.

Đột nhiên, trong một buổi sáng duy nhất, đối mặt với một cái ác mà trước đây không thể tưởng tượng ra được, hàng chục người Mỹ đã chứng minh rằng họ có thể, theo bản năng và tức khắc, vươn lên đến tầm vóc của những anh hùng: các nhân viên của Trung tâm Thương mại Thế giới, những người đã ở lại để chắc chắn rằng các đồng nghiệp của họ đã thoát ra; những người lính cứu hỏa và cảnh sát của Thành phố New York đã lao vào địa ngục để cứu mạng người mà không hề nghĩ đến sự an toàn của chính họ; những tình nguyện cứu hộ đã làm việc không hề mệt mỏi tại các địa điểm xảy ra thảm họa để tìm kiếm những người sống sót.

Tuy nhiên, một câu chuyện về ngày 11 tháng 9 quá kinh hoàng, vượt khỏi những khuôn mẫu bình thường, có thể được nhớ đến như một trong những câu chuyện vĩ đại nhất về chủ nghĩa anh hùng từng được kể: câu chuyện về Flight 93 của United Airlines. Một chuyến bay vào sáng sớm, lẽ ra nó phải là một chuyến bay hoàn toàn bình thường từ Newark đến San Francisco, vắng khách chỉ có 33 người, họ là các nhân viên bán hàng, giám đốc điều hành, sinh viên và người về hưu, năm tiếp viên hàng không, hai phi công. Nhưng trong số các hành khách cũng có bốn tên không tặc Ả Rập đã toan tính giết sạch họ. Chuyến bay chỉ kéo dài một tiếng rưỡi, nhưng vào thời điểm của cái kết thúc rực lửa ở một cánh đồng phía tây nam Pennsylvania, phi hành đoàn và hành khách của chuyến bay không chỉ chứng tỏ mình là anh hùng mà còn tạo ra một huyền thoại đích thực của Mỹ và có lẽ đã thay đổi hướng đi của lịch sử Hoa Kỳ.

Với hầu hết những người trên chiếc phi cơ, Flight 93 bắt đầu trong bóng tối với tiếng ồn chói tai của đồng hồ báo thức: tiếng chuông, những đoạn nhạc Beethoven trên đài WQXR, Donna Summer trên băng tần Jammin 105, bản tin giao thông và thời tiết trên đài WINS. Dụi mắt cho tỉnh ngủ, tắm vội, hôn nhanh lên trán những đứa trẻ đang ngủ, cà phê và bánh bagel, bước ra ngoài trời yên tĩnh trước bình minh, đóng cửa lại. Để đón một chuyến bay sớm.

4:50 SÁNG. Tại nhà riêng ở Marlton, New Jersey, đồng hồ báo thức của LeRoy Homer vang lên. Anh lăn ra khỏi giường và vớ lấy bộ đồng phục mà anh đã trải ra vào đêm hôm trước, sau đó vào phòng tắm và đóng cửa lại, cẩn thận để không đánh thức vợ anh, Melodie. Phi công phó (First Officer) của Flight 93 , Homer, 36 tuổi, mang nửa dòng máu Đức và nửa Mỹ gốc Phi. Anh đã dành cả ngày thứ Hai để chăm sóc Laurel, cô con gái 11 tháng tuổi của anh, đi tập thể dục, làm việc nhà và lo cho Melodie, người vợ đang ốm dở của anh.

Trong phòng tắm, Homer tắm rửa và mặc đồng phục — quần dài xanh nước biển và áo sơ mi ngắn tay trắng, áo khoác màu xanh hải quân với ba sọc vàng trên cầu vai biểu thị cấp bậc, và một chiếc mũ lưỡi trai có huy hiệu United Airlines ghim ở giữa. Anh dành một chút thời gian để đánh giày, sau đó chu đáo đánh bóng một đôi giày của Melodie; về sau, khi nàng nhìn thấy đôi giày đó, nàng đã nghĩ, “Tính cách của anh ấy là thế, làm những việc tốt đẹp như vậy.”

Anh hâm một thứ gì đó trong lò vi ba – sau này Melodie đã có thể ngửi thấy mùi của món đó – rồi cầm lấy một chiếc bình thủy bằng bạc trước khi quay trở lại phòng ngủ để hôn tạm biệt vợ. Nàng vẫn không thức dậy. Anh để lại bản lịch trình chuyến bay của mình (Newark-San Francisco-Denver-San Jose-Denver-Newark) – anh sẽ về nhà vào tối thứ Năm. Bước lên chiếc Toyota 4Runner màu xanh lá cây của mình, anh tạt vào một cửa hàng Wawa để đổ đầy cà phê vào cái bình thủy, và đi về hướng bắc về phía sân bay. Một đoạn đường 90 phút lái xe.

5:00 SÁNG. Tại căn hộ ở tầng hai của cô trong khu Hell’s Kitchen ở West Side của Manhattan, chuông đồng hồ báo thức của Deborah Welsh vang lên. Welsh là tiếp viên hàng không từ năm 1972 và đã làm việc cho United trong nhiều năm. Cô đã không ngủ được nhiều, trằn trọc trở mình sau khi cô và chồng, Patrick, đi chơi ở một câu lạc bộ hài kịch.

Trong nhà bếp, Patrick, một diễn viên, đã xem lại xong lịch trình của mình, chuẩn bị cho một buổi thử vai. Sau khi chuông báo thức vang lên, Patrick mang cho vợ một tách cà phê pha theo cách cô thích – “không quá nhiều sữa, không quá nhiều đường”. Trong phòng ngủ, Deborah mặc bộ đồng phục vào, một chiếc váy ngắn tay màu xanh nước biển với đường ống màu hạt dẻ và nút pewter, và chiếc mũ tiếp viên hàng không. Patrick đôi khi đùa với cô về cái mũ, nói rằng nó khiến cho cô trông giống như anh thủy thủ trên cái hộp bánh Cracker Jack. Anh gọi cô là “Skippy” khi cô đội cái mũ lên. Nhưng một người bạn đã nói với cô rằng cô ấy là người duy nhất trên thế giới này trông đẹp khi đội cái mũ đó – và cô tự hào về bộ đồng phục của mình.

Deborah vào bếp, uống một hớp cà phê, sau đó cô tạm biệt Dylan, chú chó đốm 12 tuổi của họ. Patrick giúp cô xách cái va li màu đen có bánh xe, xuống vỉa hè; Patrick nhớ lại, như mọi khi, chiếc va li rất nặng, “như thể trong đó có vài quả bóng bowling”. Bên ngoài, thành phố đang xôn xao. Deborah là một người thuộc thành phần quan tâm đến an ninh của khu phố mình sinh sống, người yêu mến Hell’s Kitchen, cô từng nổi tiếng vì đã hét vào mặt những người đạp xe trên vỉa hè, “Này, đây là vỉa hè đi bộ chứ không phải vỉa hè xe đạp nghe, anh bạn!” Cô thường mang những phần ăn còn dư lại từ các chuyến bay của mình về cho những người vô gia cư trong khu phố.

Patrick hôn cô. Anh nói, “Anh yêu em. Chúc em một chuyến bay an toàn, mai gặp lại em nhé.” Anh nhìn theo cô bước đi, kéo chiếc vali phía sau, đi về phía bến xe buýt của Cảng vụ, nơi cô sẽ lấy chuyến xe Olympia Trails đến Newark. Sau đó, Patrick chợt nhận ra rằng anh không biết cô sẽ bay đi đâu.

5:30 SÁNG. Tại nhà riêng ở Elizabeth, thành phố của giới lao động cứng cỏi, New Jersey, chuông báo thức của Colleen Fraser vang lên. Ở tuổi 51, Fraser là một phụ nữ nhỏ bé, cao khoảng 4 feet và đôi chân mà bà vung ra khỏi giường vào sáng hôm đó không bình thường. Bà bị còi xương từ khi còn nhỏ và phải trải qua 21 lần phẫu thuật chỉ ở đôi chân mới đạt được khả năng đi lại bằng gậy. Bà vào phòng tắm và ngắm nhìn khuôn mặt mình trong gương. Bà trông rất tuyệt. Bà đã làm tóc ngày hôm trước, mái tóc đã được chải thành những chiếc gai màu đỏ rực. Fraser đi tắm, sau đó đeo kính, mặc vào một cái T-shirt trắng và quần dây rút hoa.

Trong nhà bếp, Christine, em gái và bạn cùng nhà của Fraser, nghĩ rằng mình hiếm khi thấy Colleen bình tĩnh như vậy; cuộc sống của chị ấy cuối cùng đã đâu vào đó. Sau nhiều năm thời trẻ khổ sở với tình trạng khuyết tật của mình, Colleen Fraser đã trở thành một trong những người vận động hàng đầu cho quyền của người khuyết tật ở New Jersey. Bà đã tổ chức các cuộc biểu tình dân quyền và làm chủ tịch hội đồng quản trị một trung tâm dành cho người tàn tật ở Elizabeth. Sáng hôm đó, bà sẽ đi Reno để tham dự một hội nghị năm ngày, nơi bà sẽ được huấn luyện về viết đề án xin tài trợ, và mặc dù rất sợ đi máy bay, Colleen vẫn rất phấn khích.

Hai chị em xem chương trình Good Day New York trên Fox 5 trong khi Colleen nhâm nhi ly nước rau quả V-8. Đến bảy giờ, Christine giúp bà chị chất chiếc xe scooter có động cơ của mình lên chiếc Honda Civic màu đỏ của họ trong 10 phút lái xe qua các con phố trong thành phố để đến sân bay. Trên đường Colleen chợt nhận ra mình đã quên áo khoác; bà sợ sẽ bị lạnh trong những đêm ở Nevada. Colleen trở nên yên lặng khi họ đến gần sân bay. Khi họ đi qua một bảng chỉ dẫn lối vào, bà hít vào một hơi thật sâu và trở nên rất tĩnh lặng, như bà vẫn đã làm mỗi lần được Christine chở đến sân bay.

Christine đưa tay qua và chạm vào cánh tay của bà chị.

“Chị ổn chứ?” Cô hỏi.

“Chị ổn cho đến khi chị nhìn thấy dấu hiệu đó,” Colleen nói. Vỉa hè phía trước Terminal A gần như vắng vẻ – “ma quái,” như Christine nói – khi họ lái xe lên. Một nhân viên bốc vác nhận chiếc vali của Colleen và giúp bà lắp ráp chiếc scooter. Hai chị em ôm nhau trước khi Christine quay lại xe. Trong gương chiếu hậu, cô nhìn thấy Colleen đang ngồi trên chiếc scooter trên vỉa hè, hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày của bà.

5:44 SÁNG. Chuông báo thức của Todd Beamer vang lên. Tại nhà của anh trong khu nhà mà chủ nhân chỉ về để ngủ Cranbury ở trung tâm của New Jersey, Beamer, 32 tuổi, giám đốc tài khoản của công ty nhu liệu Oracle ở Thung lũng Silicon, ra khỏi giường và đi vào phòng tắm mà không đánh thức Lisa, vợ anh. Hôm trước đó, họ vừa từ Ý về. Trên đường từ sân bay về, họ đã đến nhà cha mẹ Lisa để đón hai đứa con nhỏ. Hôm nay, Beamer có một cuộc họp kinh doanh được sắp xếp ở West Coast. Là một tín đồ Cơ đốc sùng đạo và quý trọng thời gian bên gia đình, anh đã dự định sẽ về lại New Jersey ngay đêm hôm đó. Anh mặc nhanh quần áo, cầm lấy một thanh PowerBar, rời khỏi nhà và lướt vào sau tay lái chiếc Toyota Avalon màu trắng của mình.

Sân bay Newark là một điểm đến thẳng, cách trạm thu lệ phí đường New Jersey 45 phút. Xe cộ thưa thớt, và khi Beamer đi về phía bắc, mặt trời đang loay hoay mọc trên đường chân trời phía đông. Đó là một buổi sáng tuyệt đẹp, 64 độ, bầu trời quang đãng và một cơn gió nhẹ. Thời tiết để chơi football. Đêm hôm trước một loạt giông đã tràn qua từ phía Tây, quét sạch những dấu vết cuối cùng của cái ẩm mùa hè. Không khí nhẹ nhàng, mang một cảm giác mùa thu về những khả năng mới, những khởi đầu mới. Các kỳ nghỉ đã kết thúc, và khắp New Jersey và New York, các ông bố bà mẹ đang thức dậy, chuẩn bị cho con cái họ bước vào ngày đầu tiên đến trường.

06:00 SÁNG. Nicole Miller thức dậy tại nhà của ông bà của người bạn trai ở ngoại ô Trenton. Một cô gái 21 tuổi nhỏ nhắn với làn da màu ô liu và nụ cười rạng rỡ, Miller là tiếp viên của nhà hàng Chili và là sinh viên đại học sống ở San Jose, California. Cô đã đến miền đông vào thứ Năm tuần trước — đó là chuyến đi đầu tiên của cô đến New York — để cùng người yêu thời trung học, một salesman bán nhu liệu 21 tuổi tên là Ryan Brown, lúc đó đang đi thăm gia đình. Chuyến đi là tất cả những gì Miller mơ ước — đá chân trên những đụn cát ở bờ biển Jersey, đi dạo trên lối đi lát ván ở Wildwood, mua một chiếc mũ đi rừng của Úc và kéo máy trong các sòng bạc ở Thành phố Atlantic. Nhưng điểm nổi bật là New York: một ngày Chủ nhật mùa hè rực rỡ, Quảng trường Thời đại, một bữa tối ở Planet Hollywood, nắm tay nhau đi dọc theo các vỉa hè Midtown. Brown nhớ lại rằng Miller đã rất phấn khích, “đến mức tôi thậm chí không thể dừng lại để buộc dây giày của mình, vì ở dãy nhà tiếp theo nàng đã xuất hiện. Nàng ấy giống như một đứa trẻ nhỏ”.

Họ đã lái xe đến sân bay Newark vào chiều thứ Hai, dự định quay trở lại Bờ Tây bằng các hãng hàng không khác nhau. Nhưng các cơn bão đã làm trì hoãn chuyến khởi hành của họ, và họ có thể đã bỏ lỡ các chuyến bay nối chuyến, vì vậy họ đã sắp lại các chuyến đi vào sáng Thứ Ba và trở về nhà của ông bà Brown. Bây giờ, trong bóng tối trước bình minh, Miller buộc tóc phía sau lại thành búi và mặc vào một chiếc áo sơ mi màu xám và quần dài ấm màu xanh lam. Ông của Brown chở họ đến sân bay, nơi họ đến trước bảy giờ một chút. Brown dẫn Miller đến quầy United. Cô rất lo lắng, trong đời cô mới chỉ bay bốn hoặc năm lần. Brown tiếp tục đoan quyết với cô rằng chuyến bay an toàn.

Khi các vé của cô đã đâu vào đó, họ ôm hôn nhau. Brown nhắc cô rằng hôm đó là ngày 11, ngày mà hai người mừng “ngày kỷ niệm của họ” mỗi tháng.

“Anh yêu em,” anh nói.

“Em cũng yêu anh,” cô nói.

Brown vội vã ra ngoài để đi về. Rồi, không hiểu vì sao, anh dừng chân và quay nhìn lại. Miller đang đứng đó, nhìn theo anh.

“Anh yêu em,” anh nói.

“Em cũng yêu anh,” cô nói.

6:30 SÁNG. Trong một phòng ký túc xá tại Đại học Fairleigh Dickinson ở ngoại ô Teaneck, New Jersey, chuông báo thức của Deora Bodley vang lên. Giống như Nicole Miller, Bodley là một sinh viên đại học California — một cô gái 20 tuổi ở Đại học Santa Clara trông giống như Ashley Judd. Cô dùng thời gian rảnh để dạy kèm cho các học sinh lớp hai và muốn trở thành một nhà tâm lý học thiếu nhi. Cô đã đến miền đông từ thứ Bảy tuần trước để thăm Aly Picker, người bạn thân nhất của cô. Hai cô gái lớn lên cùng nhau ở San Diego, đã dự một trận đấu giải bóng chuyền mà Picker là một tuyển thủ tại Đại học St. John’s ở Queens trước khi Bodley chạy sang Yale vào Chủ nhật hôm đó để gặp một người bạn khác.

Tối thứ Hai, họ ở trong phòng ký túc xá của Picker, xem cuốn phim diễu Mallrats, cuốn phim họ yêu thích, cùng với một lô bạn bè ở đại học của Picker. Sau đó, họ thức đến ba giờ, ôn lại những ngày cũ và những kế hoạch trong tương lai. Khi chuông báo thức vang lên, Bodley mặc vội cái quần jeans lửng và một chiếc áo thun màu đỏ có dòng chữ vàng “Rub My Tummy I’m Lucky Buddha”; Picker gọi Bodley là “Buddha”. Lúc bảy giờ, họ lao xuống cầu thang và lên chiếc Mercury Cougar màu đỏ của Picker để đến sân bay, một đoạn đường ngắn. Họ dừng lại trên đường để ăn sáng tại Dunkin’ Donuts. Trở lại xe, họ nốc sữa trong khi Bodley một mình xơi hết cả một hộp 25 chiếc chocolate donut — cô có một thân hình cho phép mình muốn ăn gì cũng được.

Tại Terminal A, Picker thả bạn xuống lề đường; cô phải quay lại trường để dự một lớp xã hội học lúc 8:30. Khi họ dỡ chiếc túi La Jolla Country Day của cô, Bodley đã làm bạn ngạc nhiên khi trao một thiên thần nhỏ bằng gốm màu hồng. “Để bảo hộ cho bạn khi tôi không có mặt,” Bodley nói. Họ ôm nhau và Bodley tiến về Terminal. Cô dừng chân, quay lại ôm Picker một lần nữa. Và rồi cô ra đi.

6:31 SÁNG. Đồng hồ báo thức của Mark Bingham đã được đặt là sáu giờ, nhưng anh đã tắt đi. Bingham, một cầu thủ Rugby cao ٦ foot ٥ inch, chủ nhân một công ty giao tế công chúng, đang ngủ tại Denville, New Jersey, căn nhà phố của một nhà tuyển dụng kỹ thuật tên là Matt Hall. Hai người đã hẹn hò với nhau được vài tuần và đã trải qua ngày lễ Lao động vào cuối tuần ở New Orleans cùng nhau. Họ đã đi ăn nhà hàng Tàu ở Manhattan vào đêm hôm trước, sau đó về nhà của Hall, nơi họ đã cùng cười khi xem quyển kỷ yếu thời trung học của Hall. Hall tỏ ra hơi nhút nhát, và Bingham đã chỉ cho anh những cách để cởi mở hơn. Hall kể lại, “Mark biết tôi gặp khó khăn khi gặp gỡ đàn ông, và anh đã nói với tôi một điều mà tôi sẽ không bao giờ quên. Anh nói,» Khi bạn đưa tay ra để giới thiệu mình với một người nào đó, bạn đã làm cho ngày của anh ta, cũng như của chính bạn, trở nên tốt hơn.»

Hall thức dậy trước. “Mấy giờ rồi?” anh lầm bầm hỏi Bingham.

“Sáu giờ ba mươi mốt,” Bingham nhìn đồng hồ, giọng khàn đục.

“Nào, chúng ta phải đi,” Hall nói.

Họ tắm nhanh và mặc quần áo vào — Bingham mặc quần corduroy và sơ mi ca rô đỏ. Họ chạy ra chiếc Beretta của Hall; Bingham ném chiếc túi rugby Cal-Berkeley của mình ở băng ghế sau. Hall nhìn đồng hồ. Đã gần bảy giờ. Bingham có một cuộc hẹn với khách hàng ở San Francisco sau bữa trưa. Nếu đường đông xe, họ sẽ không đến được.

Hall đã thử lấy một đường nhỏ ra đường cao tốc và bị lạc, lãng phí những phút quý giá. Bingham nhận ra mình đã quên thắt lưng.

“Bạn muốn dùng cái của tôi không?” Hall hỏi.

Bingham nói: “Tôi sẽ mua một cái ở sân bay.”

Cuối cùng họ cũng đến lối vào đường cao tốc, Hall chạy theo đường số 1-287, lái xe về phía nam theo hướng Morristown, sau đó rẽ sang Highway 24, đi ngang qua Mall at Short Hills trước khi đi về hướng đông vào ngày 1-78 về phía sân bay. Đột nhiên, Bingham trông thấy các tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới.

“Này, nhìn kìa – New York,” anh nói.

Những tòa tháp hiện ra mờ ảo trong bầu trời buổi sáng, đó là một màu xám của thép mà Matt Jall sẽ không bao giờ quên được. Anh nhìn đồng hồ. Họ sẽ lỡ chuyến bay. Hoặc ít nhất, sẽ suýt lỡ.

Về sau, sau tất cả những cái chết, kinh hoàng và bi kịch, các điều tra viên sẽ tìm thấy một tài liệu viết tay cung cấp một số manh mối về cách mà ba người đàn ông Ả Rập mảnh khảnh đã trải qua những giờ cuối cùng của họ vào sáng hôm đó tại khách sạn Marriott của sân bay Newark. Họ đã nhịn ăn. Họ đã cầu nguyện. Họ đọc kinh Koran. Họ đã chiến đấu với nỗi sợ hãi và ngờ vực của chính họ. Họ cố giữ cho quần áo và giày dép của họ sạch sẽ. Họ đã xem lại thông hành. Họ đã xem lại dao. “Anh phải làm cho con dao của anh sắc bén,” các hướng dẫn nhắc nhở, “và anh không được làm cho con vật khổ sở trong lúc giết mổ.”

Và sau đó, không lâu sau khi trời hừng sáng, họ rời khách sạn Marriott, băng qua bãi đậu xe đông đúc để đến Terminal A, và đi về phía Gate 17, đến nơi mà họ đã nhiệt thành tin là con đường dẫn đến thiên đường vĩnh cửu.

Khoảng 7:00 SÁNG. Khi Charles Gibson của chương trình Good Morning America xuất hiện hiện trên tivi sân bay, Jason Dahl đi qua khu vực cổng, mở cửa và bước vào trung tâm điều hành Newark của hãng hàng không. Ông là phi công trưởng của Flight 93 vào sáng hôm đó. Dahl, 43 tuổi, đã bắt đầu bay trước khi đủ tuổi lái xe. Ông từng viết rằng mình muốn trở thành một phi công vì không có gì tốt hơn là “được trả tiền để làm những gì anh thích”. Bây giờ, 10 năm trong sự nghiệp của mình với United, ông đã trở thành một “standards captain”, phụ trách việc dạy các phi công khác các quy trình khẩn cấp.

Tại quầy, một trong những đại diện dịch vụ điều hành chuyến bay của United, được gọi là các F.O.S.R., trao cho Dahl một tập tài liệu được in ra từ máy tính. Tài liệu trình bày kế hoạch bay, cập nhật thời tiết và dự báo, thông báo cho các nhân viên hàng không, được gọi là ghi chú, và mọi báo cáo của phi công về sự nhiễu loạn trên đường bay, được gọi là các pirep. Vào một ngày bình thường như thế này, phi công trưởng Dahl sẽ mất khoảng 20 phút để phân loại giấy tờ với phi công phụ của ông, LeRoy Homer, trước khi họ lên máy bay.

Vào lúc này, Deborah Welsh đã đi đến một cánh cửa không được đánh dấu trong phần nội bộ của sân bay, bấm mật mã của mình vào và đến trung tâm hoạt động tiếp viên hàng không của United. Tại quầy, cô viết nguệch ngoạc tên tắt của mình trên cái mà United gọi là FLT LOF, đường bay. Tới giờ phút đó, cô đã chính thức vào ca nhiệm vụ. Tại một trạm máy tính, cô in ra một I.B.S., tờ thông tin tóm tắt trên chuyến bay, trong đó liệt kê tên của các tiếp viên khác trên Flight 93, lượng hành khách dự kiến và các chi tiết khác. Welsh có thể thấy đó là một chuyến bay vắng khách, và do đó là một chuyến bay dễ dàng.

Khi từng người trong số 4 tiếp viên khác làm thủ tục, họ đến ngồi cùng bàn với Welsh, nhâm nhi cà phê, tự giới thiệu và thảo luận về chuyến bay. Wanda Green, một cựu binh 30 năm của United, đã đến chỗ làm từ nhà ở Linden, New Jersey. CeeCee Lyles, một cựu nữ cảnh sát, sống ở Fort Myers, Florida. Lorraine Bay đến từ Hightstown, New Jersey. Sandy Bradshaw, một bà mẹ ba con 38 tuổi, sống ở Bắc Carolina với chồng, Phil, người hết sức muốn cô bỏ việc và ở nhà toàn thời gian. Khi mọi người đã đến đủ, năm người phụ nữ bắt đầu xác định nhiệm vụ bay. Trên mỗi chuyến bay, mỗi tiếp viên đảm nhận một vị trí khác nhau; trên Boeing 757, các vị trí này được đánh số từ một đến năm hoặc đôi khi là sáu, với Tiếp viên hàng không số 1 đóng vai trò tiếp viên trưởng (purser), là người liên lạc với phi công; không rõ tiếp viên nào đã nhận vị trí nào vào sáng hôm đó. Là người có thâm niên cao nhất trong số họ, Wanda Green có thể sẽ chọn đầu tiên. Theo Patrick Welsh, Deborah đã chọn vị trí tiếp viên trưởng. Khi họ đã đồng ý về nhiệm vụ của mình, các tiếp viên sẽ ăn cho xong bữa sáng, trả lời E-mail và dò xem lịch trình các chuyến bay sắp tới của họ.

Tiếp theo, họ đồng loạt lấy hành lý và rời khỏi văn phòng, đi qua an ninh, sau đó đi ngang qua một quán cà phê Starbucks và sạp báo, và đi xuống một lối đi dài có cửa sổ hướng về Gate 17, một trong bảy cổng mới được tu sửa lại có khu vực phòng chờ mở. Dưới cổng là một cửa hiệu T.G.I. Friday’s, nơi một cô phục vụ đang phục vụ cà phê và bánh Danish từ lúc 6:15 và quầy báo thứ hai, nơi có hai người phụ nữ bán báo, gấu bông và đồ lưu niệm ở New York; mũ Yankee là món hàng bán chạy nhất. Trên các bức tường là các quảng cáo, hơn một chục cái. Quảng cáo của Siemens, người khổng lồ trong lĩnh vực điện tử, nói: MỘT NGƯỜI CÓ HỨNG KHỞI CÓ THỂ TẠO RA SỰ KHÁC BIỆT. Một quảng cáo khác có hình ảnh một cậu bé tuyên bố, TÔI ĐÃ SẴN SÀNG ĐỂ CHIẾN ĐẤU… GIÀNH NHỮNG CỤC KẸO SÔ CÔ LA TRÁI CÂY YÊU THÍCH CỦA TÔI.

Vào thời điểm các tiếp viên đến Gate 17, nhập mã số an ninh Jetway của họ và bước xuống máy bay, hầu hết hành khách của Flight 93 đang ở khu vực cổng, đọc báo và uống cà phê để chờ thông báo lên máy bay. Không bao nhiêu người. Chỉ có 37 người được sắp xếp lên máy bay, khiến hầu hết số 182 ghế của phi cơ phải bỏ trống.

Có Toshiya Kuge, một sinh viên người Nhật Bản 20 tuổi. Có Donald và Jean Peterson, một cặp vợ chồng, đã lái xe lên từ Spring Lake, trên Bờ biển Jersey; họ đang trên đường đến một buổi họp mặt gia đình hàng năm ở Yosemite. Có Lauren Grandcolas, 38 tuổi, nhân viên bán quảng cáo cho tạp chí Good Housekeeping, người vừa trở về nhà sau đám tang của bà cô. Có Alan Beaven, một luật sư môi trường hàng đầu của California, ngồi gần đó, đang trở lại văn phòng ở San Francisco để giải quyết một trường hợp ô nhiễm nước; là một người đam mê yoga, ông đã để bà vợ, Kimi và con gái nhỏ của họ lại một đạo tràng ở ngoại ô New York, nơi cả gia đình đang chuẩn bị cho kỳ nghỉ sắp tới của Beaven ở Ấn Độ. Một ngày trước đó, Alan và Kimi đã kỷ niệm tám năm ngày cưới; họ đã cùng nhau nói về tương lai và viết những lá thư bày tỏ tình yêu của họ. Tom Burnett cũng có mặt ở cổng, anh rất vui khi được về nhà. Burnett là giám đốc điều hành 38 tuổi của một công ty thiết bị y tế ở California, người đã đi nhiều hơn cả bà vợ, Deena, một cựu tiếp viên hàng không và ba cô con gái của họ. Anh ta là một người đàn ông to lớn, cao 6 feet 2 inch, nặng 205 pound, từng là hậu vệ đội football ở trung học.

Jeremy Glick có mặt ở Gate 17, anh không thấy vui về điều đó. Glick, 31 tuổi, là một chàng trai người Jersey lanh lợi, khỏe mạnh với một cuộc sống bình dị. Là nhà vô địch judo cấp đại học quốc gia của Đại học Rochester, anh sống ở gần một cái hồ ở phía bắc New Jersey cùng vợ, Lyz, và cô con gái 3 tháng tuổi, Emmy, và chiếc thuyền cao tốc 23 feet mà gia đình sử dụng để lướt ván. Anh làm việc cho một công ty Internet và đang đến Bay Area để họp. Nhưng đây là lần đầu tiên anh và Lyz xa cách kể từ khi Emmy chào đời, và anh không sao thôi nghĩ về vợ con. Trong lúc chờ lên máy bay, Glick mở điện thoại di động và gọi cho Lyz tại nhà bố mẹ cô ở ngoại ô New York, nơi cô dự định ở lại cho đến khi anh trở về vào cuối tuần đó. Cha của Lyz, Richard Makely, nói với anh rằng Lyz vẫn đang ngủ. Cô đã quá mệt cả đêm với đứa bé.

“Thôi được.” Glick thở dài. “Hãy nói giúp với Lyz rằng con yêu cô ấy và con sẽ gọi cho cô ấy khi con đến San Francisco.”

Khi vào trong máy bay, từng tiếp viên lấy ra cuốn sổ tay chuyến bay của mình và cầm trên tay cuốn sổ tay này, theo quy định của Cục Hàng không Liên bang, thực hiện các bước kiểm tra an toàn trước chuyến bay được chỉ định của mình. Họ nhìn qua ghế nhảy của mình để chắc chắn rằng áo phao và đèn pin ở đúng vị trí, sau đó kiểm tra các bình oxy và đồng hồ đo áp suất. Việc kiểm tra hệ thống video và bảo đảm rằng chìa khóa buồng lái được giấu trong hốc bí mật ở khu galley là của Deborah Welsh, nếu cô là tiếp viên trưởng.

Welsh ngồi xuống với Phi công trưởng Dahl để duyệt lại chuyến bay. Ngoài nhiều điều khác, Dahl còn thông báo cho cô knock code – mật mã bí mật bằng tiếng gõ, mà cô phải sử dụng để vào buồng lái. Chúng ta không biết knock code ngày hôm đó là gì; theo hướng dẫn của United, mỗi phi công trưởng phải đặt ra một knock code khác nhau trên mỗi chuyến bay. Tiếng gõ bí mật này là cách thông thường mà một tiếp viên dùng để được vào buồng lái trong chuyến bay, đặc biệt là trong giai đoạn quan trọng khi phi cơ lên dần đến độ cao 10.000 feet, trong đó F.A.A. bắt buộc điều mà mà họ gọi là “buồng lái vô trùng” – nghĩa là không được phép có người ngoài và không được trò chuyện phiếm.

Trong khi các tiếp viên đi qua cabin, LeRoy Homer đang ở bên dưới phi cơ, trên mặt đất, để thực hiện thành “cuộc dạo quanh” của phi công phó, kiểm tra đáy máy bay, tìm xem có các panel bị lỏng và có rò rỉ thủy lực không, xem xét đồng hồ áp suất trên 8 bánh xe chính của chiếc 757 – trong khi hành lý đi lên qua băng chuyền để vào bụng chiếc Boeing to lớn. Chiếc máy bay này được đăng kiểm số hiệu N591UA, được chế tạo vào năm 1996; nặng 120 tấn khi không có hàng hóa hoặc hành khách. Khi đã hài lòng, Homer lại cùng Phi công trưởng Dahl vào buồng lái. Dahl đã “thực hiện dòng quy trình” — tiến hành cuộc kiểm tra nghiêm ngặt trước chuyến bay của United. Các phi công của United trên mọi chuyến bay đều kiểm tra cùng một số đồng hồ đo và hệ thống giống nhau theo cùng một thứ tự. Hệ thống cứu hỏa. Các hệ thống dự phòng. Các hệ thống định hướng. Mọi thứ trên Flight 93 có vẻ như ở trong tình trạng tốt.

7:20 SÁNG. Thông báo lên máy bay bắt đầu. Việc lên máy bay diễn ra trơn tru: các hành khách lặng lẽ tiến vào và ngồi vào chỗ của họ.

Khoảng 7:45 SÁNG. Welsh và các tiếp viên hàng không khác bắt đầu công việc đếm khách. Cổng 17 đã hết khách. Đột nhiên, chỉ vài phút trước tám giờ, Mark Bingham hối hả chạy đến, đưa vé cho nhân viên ở cổng, và hấp tấp xuống Jetway. Anh là hành khách cuối cùng lên Flight 93 . Khi đã ở trong khoang hành khách, Bingham nhét chiếc túi football của mình vào một hộc chứa hành lý trên đầu và ngồi xuống ghế 4D ở hạng nhất; một tiếp viên mang đến cho anh ta một ly nước cam. Bingham lấy điện thoại di động ra và gọi cho Hall. Bingham nói với Hall, “Này, tôi đây. Tôi chỉ gọi để chào. Cảm ơn đã lái xe đưa tôi đi”. Cuộc trò chuyện chỉ trong chốc lát; động cơ máy bay quay vòng. “Được rồi, bảo trọng nhé,” Bingham nói. “Tôi sẽ nói chuyện với bạn sau.”

08:00 SÁNG. Tại Phi trường Quốc tế Logan ở Boston, Chuyến bay 11 của American Airlines đã cất cánh, hướng đến Los Angeles. Tám mươi mốt hành khách và 11 thành viên phi hành đoàn đã có mặt trên máy bay.

8:01 SÁNG. Phi công trưởng Dahl đã sẵn sàng nhích chiếc Boeing ra khỏi Gate 17. Những lời ông trao đổi với người thợ máy đứng bên ngoài máy bay đã được nêu sẵn trong hướng dẫn bay của United. “Kiểm tra trước khi khởi hành hoàn tất,” người thợ máy nói. “Chuẩn bị để được phép pushback.”

“Rõ, chờ được phép pushback,” phi công nói. Sau khi Kiểm soát Mặt đất cho phép pushback, phi công nói, “Chúng tôi được phép pushback, đã gài thắng.”

“Nhả thắng ra,” người thợ máy nói.

Không ai có thể biết được điều gì trong đầu của Phi công trưởng Dahl khi ông taxi ra đường runway, nhưng các phi công trưởng khác của United nghĩ rằng họ biết. Một phi công của United đã nói: “Tôi đã bay khỏi Newark cả trăm lần, và tôi phải nói với bạn, đây là một trong những ngày mà một phi công trong buồng lái sẽ nghĩ rằng “Đây là công việc tuyệt vời nhất trên thế giới”. Bầu trời quang đãng, thời tiết ấm áp, một ngày yên tĩnh. Một chuyến bay dễ dàng. Không có gì hối hả xung quanh. Ra khỏi New York, nhìn qua đường chân trời. Đó là ngày tuyệt vời nhất cho công việc của chúng tôi.”

Và sau đó là một trục trặc. Ngay khi, trước hoặc sau lúc Phi công trưởng Dahl lùi khỏi gate, Kiểm soát Mặt đất thông báo cho ông rằng chuyến bay sẽ bị hoãn. Bị trì hoãn là chuyện thường tình ở Newark, nơi có taxiway chật chội và giao thông đông đúc là điều nổi tiếng trong giới phi công. “Thực sự rời khỏi Newark đúng giờ là điều khá bất thường,” viên phi công của United nói. “Hệ thống taxiway đã quá cổ lỗ. Cách bố trí của các taxiway quá rắc rối. Không có gì lạ khi nghe thấy lẫn lộn [khi các phi công nói]. Đó là một trong những [sân bay] rắc rối nhất, nhưng không phải là tệ nhất. O’Hare còn tệ hơn. Khi bạn bay ra và vào Newark, bạn bị căng thẳng cao độ.”

Phi công trưởng Dahl có lẽ đã thông báo, giải thích cho hành khách lý do máy bay bị hoãn. Mọi người có lẽ đã xem lại đồng hồ của họ, ước tính xem sự chậm trễ sẽ ảnh hưởng thế nào đối với chương trình buổi chiều của họ. Không ai có thể ngờ được rằng sự chậm trễ ngắn ngủi này có thể quan trọng như thế nào đối với diễn tiến lịch sử Hoa Kỳ.

8:10 SÁNG. Flight 77 của American Airlines, hướng đến Los Angeles, khởi hành từ Sân bay Quốc tế Dulles của Washington. Bốn phút sau tại Logan, Flight 175 của United cũng khởi hành đến L.A., với 56 hành khách và 9 thành viên phi hành đoàn.

(xem tiếp phần II trong số báo tuần tới)

Đỗ Quân (Nguyên bản: Manifest Courage: The Story Of Flight 93, Vanity Fair số tháng 12, 2001)

Trong bài, bên cạnh những từ quen thuộc như terminal, gate, freeway, highway, còn có một số thuật ngữ trong ngành hàng không đã được giữ nguyên tiếng Anh với giải thích dưới đây:

Flight: chuyến bay, được ấn định bằng số và tên tắt của hãng hàng không cho một lộ trình, thí dụ Flight UA 93 (Flight 93) là chuyến bay số 93 của hãng United Airlines lộ trình Newark đến Washington D.C.

Galley: một từ chỉ “nhà bếp” trên xe lửa, tàu thủy và máy bay. Đây là khu vực dành cho các tiếp viên chuẩn bị bữa ăn và cất các đồ đạc. Tùy theo loại lớn nhỏ, các máy bay thương mại có từ một đến 4 galley. Ở các galley còn có các jumpseat – ghế phụ có thể xếp lại ở vách, dành cho các tiếp viên.

Jetway: một cây cầu di động được đặt dựa vào cửa máy bay để cho hành khách lên hoặc xuống máy bay.

Level-off: đoạn phi cơ bay ngang sau khi lên cao hoặc xuống thấp.

Pushback: sự di chuyển của phi cơ ra khỏi vị trí đậu bằng sức của một phương tiện trên mặt đất

Runway: đường cất cánh hoặc hạ cánh của máy bay trên sân bay

Taxiway: đường để máy bay vào hoặc ra khỏi runway

Tin tức khác...