Đuổi theo vệt nắng

Gì chứ nói đến chủ nhà là bà Cửu ngậm tăm. Tuy không rành nhưng nghe vợ Tâm bảo ở nhà housing tụi nó rất khó nhất là tụ họp ăn uống đông đảo, ngay như Nụ tật nguyền thế mà động một chút là chúng “đì” bắt dọn tới dọn lui. Bà Cửu không sợ phiền đến Nụ nhưng sợ bị đuổi ra khỏi nhà. Thân ông bà đã ăn đậu ở nhờ lại bám cả vào Nụ cũng đang ăn nhờ ở đậu nốt. Vừa giận lại vừa tủi, tay bà run lên khi bới cơm ra chén:

– Dù gì cũng lỡ rồi, để nuốt cho trôi bữa nay rồi từ mai tao chỉ luộc tí rau chấm với nước mắm. Thôi ngồi xuống đi đừng hùng hổ nữa Nụ ạ!

Chuyện chẳng có gì đáng để làm to nhất là đang trong bữa ăn nhưng khốn nỗi Nụ vẫn bực mình vì chẳng hiểu tại sao ông Cửu lại cứ lời nặng lời nhẹ với mình. Thêm vào đó Nụ muốn chứng tỏ mình văn minh tân tiến nên vùng vằng mở tủ tìm chai nước khử mùi hôi và cứ để như vậy vung vẩy đi từ nhà trên xuống nhà dưới xịt nước bay mù. Bà Cửu nhìn theo lắc đầu:

– Nhà có thua gì cái ổ chó. Bộ ghế nệm cũ ảm toàn mồ hôi, thảm cũng đen cáu toàn những đất mà ra bộ quý hoá trưởng giả. Mà cũng tại ông viết thư sang tán dương sự giàu có sang trọng làm nó được thể càng thêm hống hách.

Nãy giờ cố nín nhịn với con, bao nhiêu tức giận bị dồn nén ông Cửu quay ra gay gắt với vợ:

– Phải, lỗi tại tôi cả mọi đàng. Ấy thế mà lại có người đứng ngay kế bên cổ võ mới lạ.

– Tôi mù chữ biết đọc đâu mà cổ với đầu.

– Không biết đọc nhưng bà có tai nghe chứ!

– Thì ông đọc chứ còn ai vào đó nữa.

– Có đọc cũng nhìn trong thơ chứ chẳng lẽ bịa ra à!

– Vậy chứ ai đi khoe từ đầu trên xuống xóm dưới?

– Tôi khoe thì nào đã mất mát gì?

Những ấm ức đang xảy ra từ Nụ không ngờ hai ông bà lại quay đầu lại la ó nhau như hai đứa trẻ nít. Bà Cửu cảm thấy mặt nóng bừng và cơn giận từ đâu kéo tới, bà nói hơi lớn tiếng:

– Ai bày tiệc lớn tiệc nhỏ? Ai bảo nó gửi máy này máy nọ về nhà? Rồi ai viết thư xin hết vải “suýt” đến vải gân cho cả giòng họ? Ai…

– Ra bà kể tội tôi đấy nhỉ! Nó bảo nó giàu, tiền của xài không hết phải gửi cho các hội từ thiện để giúp đỡ trẻ em bệnh tật bên Phi Châu hoặc những thuyền nhân còn đang tạm trú bên đảo. Bà nghĩ xem giòng họ mình không nghèo hơn những người đó hay sao?

Mỗi khi tranh luận, bao giờ ông Cửu cũng thắng, chả thế mà cả một đời lúc nào bà cũng cung cúc nghe theo chồng. Hơn năm mươi năm làm vợ và làm dâu bà nhận thấy những khó khăn, độc đoán bên gia đình chồng hầu như đã trở thành chuyện bình thường và một người yếu đuối không lập trường như bà thì cũng dễ dàng chấp nhận. Thoạt đầu là nhượng bộ những quá trớn của chồng, sau nữa vì yêu thương và vì muốn gia đình êm thắm cho nên bà luôn tâm niệm “một câu nhịn là chín câu lành.” Dần dần từ “nhịn” chuyển sang “sợ” không mấy khó, lúc nào bà cũng ở cạnh ông như một kẻ đầy tớ hiền lành và trung thành nhất. Ông bảo sao bà nghe vậy, ngay đến quyền làm mẹ cũng chẳng có, thương đứa này bỏ đứa kia cũng từ ông mà ra. Những khi ông la mắng con cái, bà cũng len lén trốn một chỗ cho qua cơn sóng gió hoặc mẹ con ôm nhau ngậm ngùi.

Ông oai phong là thế, ông uy quyền là thế mà bây giờ bà dám trả treo một đối một là sự chẳng vừa. Cái lý do để bà được quyền bình đẳng, ngang hàng với chồng chỉ vì ông không dám đánh bà nữa sau lần đuổi bà chạy từ nhà ra vườn. Dù chuyện xảy ra cách đây tám năm nhưng bà nhớ rõ như in là chiều đó sau khi la cà ở nhà hàng xóm đến gần nửa ngày mà không xin phép ông trước Biết tội, bà lấm la lấm lét lẩn về đến đầu ngõ, lòng mừng khấp khởi vì nghĩ ông đi đâu chưa về. Ai ngờ rình sẵn từ lúc nào nên bà vừa bước chân vào nhà ông đã giơ cao chiếc gậy phạng vào lưng. Nhanh như cắt, bà tránh được và quay ngược lại phóng bay ra ngoài. Thế là hai mái đầu bạc trắng nhấp nhô theo đôi chân nhỏ thó đuổi nhau trước sự thích thú reo hò của đám con nít. Bà tuy bé người nhưng chạy thật khoẻ, cũng có thể vì sợ khúc gậy quá to đang gần kề nên bà quên hết nhức lưng phong thấp, quên luôn bờ ruộng ướt và trơn tuột. Bà thoăn thoắt băng ngang những vườn rau xanh lá, đạp lên cả luống su hào vừa gieo hột tuần trước. Hấp tấp thế nào mà khi chạy dọc theo bờ ao bà ngã sõng xoài và lăn tỏm ngay xuống.

Ở dưới ao nước lạnh cắt da, bà quên buốt giá quơ mạnh chân tay lội bì bõm. Cũng may ông Cửu vừa tới nơi thò vội cán gậy cho bà bám lấy để trèo lên. Trông bà nhanh nhẹn khỏe khoắn nhưng khi vừa bò lên tới bờ ao đã nằm ngất xỉu làm ông tủm tỉm cười. Ông cho rằng bà mưu mô nên cố giả đò để vừa tránh cảnh bị đòn lại vừa được chồng thí dỗ năn nỉ. Ai ngờ gọi đến năm lần bẩy lượt cũng không nhúc nhích, lại thấy mặt bà càng lúc càng tái mét, ông hốt hoảng la to cho mọi người đến giúp.

Lúc đó, những người làm vườn còn ở đủ cả nên họ xúm lại kẻ thoa dầu người cạo gió. Vần qua vật lại, đến lúc cạo trúng ngay đốt xương sống bà oằn người và kêu thét lên. Thế là kẻ đoán gẫy lưng người cho là bị trật xương sống bèn gọi xe đưa bà vào ngay bệnh viện. Thuốc men cả tháng trời nhưng khi xuất viện bà vẫn khập khễnh chống cái nạng gỗ vì hai dĩa sụn bị bẹt ra theo thời gian gồng gánh nặng nề nay có cơ hội phát chứng.

Từ hôm bị ngã ao, bà chỉ loanh quanh trong nhà làm những việc nhẹ. Ngoài vườn không người phụ giúp, có mỗi thằng con nuôi còn nhỏ lại ham chơi hễ ra tới vườn là xuống ao mò cua bắt ốc. Ông bảo cách nào cũng không được. Vắng một chút đã thấy nó biến mất nhưng bù lại có những buổi tối nó mang về cả rổ ốc mít. Ông Cửu thích ăn ốc nấu chuối xanh với mẻ, bỏ thêm vài lát bì heo hầm cho nhừ, chút mắm tôm và rắc vài cọng tía tô hoặc lá lốt. Nghĩ đến món canh ốc, ông quên mình đang gầm gừ với vợ con nên múc muôi canh đổ vào chén xì xụp húp:

– Giá có ốc nấu chuối bà nhỉ?

Hương vị quê nhà bốc lên khí quản làm bà nuốt nước bọt ừng ực và cũng quên luôn câu chuyện vừa xảy ra. Bà nghiêng chén sát bên đĩa cơm rồi lấy đũa gạt vào, cơm dẻo trắng tinh không chút mùi thơm nhưng bà vẫn lấy đũa gẩy một bểu cho vào miệng nuốt trửng như mọi lần rồi mắng yêu chồng:

– Có voi đòi tiên, hơn nửa tháng nay ở nhà vợ Tâm bó buộc, cố mơ ước có ngày được tự do xào nấu, bây giờ vừa bữa đầu tiên đã đòi ốc với chuối. Bên này đào đâu ra thứ ấy.

– Cứ để yên rồi bà xem- vừa gắp miếng chả kho ông vừa rung đùi làm chiếc ghế èo ọt lại được dịp lắc lư- chỗ nào có Việt Nam là có tiết canh, dồi chó. Mắm tôm họ còn đóng chai được, không lẽ lươn, ốc, hoa chuối lại không? Một vài ngày cho quen nước quen cái, tôi đảo khắp một vòng quanh đây thể nào chả kiếm ra.

– Ông thì chỉ cứ giở giọng khoác lác, hồi trưa dọn nhà vào đây tôi nào có nhìn thấy ai là Việt Nam đâu.

– Bà không thấy nhưng tôi ngửi thấy.

Bà Cửu hom hem cười, hình như đã lâu, từ ngày rời Việt Nam bà không có được nụ cười nào cả.

– Làm như là chó.

Biết vợ hết giận ông cũng cười đồng tình coi như chuyện cãi nhau vừa xong chỉ là món canh nấu mặn, khó nuốt nên ông không chấp nhất những lời đùa giỡn của vợ.

– Còn giỏi hơn cả chó nữa, nếu không sao tôi ngửi thấy mùi trứng chưng mắm tôm. Mai bà làm một bữa mà ăn, món nào mà cứ hôi um lên là tôi chịu.

Nghĩ đến đĩa trứng chưng mắm tôm màu nâu đất vừa đặc vừa sệt bốc vị thơm ngào ngạt, bà chợt nhớ đến Nụ và những tức giận của nó nên nhỏ giọng:

– Thôi đừng chọc cho nó nổi điên lên nữa. Bớt mồm ăn bớt miệng nói lại là yên ấm cửa nhà. Nó cũng tròm trèm băm tư chứ còn nhỏ nhít gì, nay mai lỡ đứa nào phải lòng lấy nó là thành mẹ, thành bà mấy hồi.

Ông Cửu nhìn vợ, không hiểu bà dùng sai chữ hay vì lý do gì mà lại nói “phải lòng”. Thường thường hai tiếng phải lòng để ám chỉ những gì không mấy tốt đẹp xảy ra. Tuy nhiên bữa cơm hợp khẩu vị nên ông cười dễ dãi và cùng a dua với vợ:

– Bà nói thế mà hay. Chỉ có đứa nào lầm lỡ nên mới phải lấy nó mà thôi.

Thực ra bà Cửu dùng tiếng lỡ cũng hơi quá đáng. Nụ tuy xấu và tật nguyền nhưng dưới đôi mắt của những người Mỹ, những người có lòng nhân từ bác ái thì lại là kẻ đáng thương. Ngay vài tuần đặt chân sang Mỹ, nàng đã được bác sĩ Tim McCabe đề nghị mổ để đặt lại sợi dây gân cho thẳng, may ra có thể trở lại bình thường như mọi người. Lúc đó còn trẻ, còn hy vọng nên Nụ vui vẻ yêu đời lắm. Nàng viết thư cho bạn bè ở khắp mọi nơi, nhất là thơ về Việt Nam tường thuật mỗi biến chuyển của căn bệnh. Mổ xong, Nụ chỉ được nằm nhà thương vài ngày làm nàng thấy ngỡ ngàng. Tụi Mỹ dùng tiếng surgery nghe có vẻ to lớn vĩ đại chứ thật ra chỉ rạch mỗi một đường dài khoảng hai phân ở hai cổ chân. Nụ thở hắt ra khi ngày đầu tiên y tá lại thay băng và nhìn tận tường vết cắt:

– Tại sao không mổ dài thêm tí nữa hoặc rạch hết cả ống chân?

Nụ nằm vật vã trên giường sắt với thất vọng tột độ làm bình nước suối nối dài bằng vòi cao su nhựa chao động mạnh. Cô y tá hiểu lầm sự đau đớn của Nụ nên vỗ về:

– Không sao đâu, vết thẹo rồi sẽ biến mất.

– Tôi muốn có thẹo, thật nhiều thẹo cô nghe rõ chưa?

Nụ khóc lên rưng rức y như nhiều thẹo thì sẽ được lành bệnh và bằng thái độ trẻ con, nàng phân trần:

– Chỉ rạch một chút như vầy thì cần gì đến thuốc mê, cần gì người đến ký giấy tờ? Tôi tự rạch cũng được vậy.

Giờ thì vỡ lẽ, cô y tá ái ngại:

– Không phải vậy, bác sĩ chỉ giải phẫu những chỗ cần thiết thôi. Bệnh của cô khả quan lắm mà.

Chương 6

Nụ để mặc nước mắt nhỏ xuống từng giọt dài không cần giấu diếm. Bao nhiêu hy vọng đều tùy thuộc vào vết khâu, vết khâu càng dài, càng đau đớn nhức nhối thì sự thành công càng cao thế mà lý do gì bác sĩ chỉ mổ lấy vì? Tuy buồn nhưng cũng chưa hẳn là Nụ đã hoàn toàn tuyệt vọng vì bác sĩ chưa cho biết kết quả thì mọi phỏng đoán chỉ là tưởng tượng. Nụ cố lấy buồn làm vui nên hôm xuất viện nàng gọi thằng Peter, bạn học cùng lớp, mang máy chụp hình và nhờ cô y tá chụp dùm. Peter tướng tá cao ráo, mắt xanh, tóc vàng lại khá đẹp trai và rất tự nhiên. Nó đứng đàng sau vòng cả hai tay quanh vai Nụ, mặt cúi thật thấp và thật sát. Mắt nó cười mơ màng như đang chụp với người yêu mặc dù nhiều lúc đùa cợt nó hay gọi Nụ là “little sister”. Đôi khi thân mật hơn nó ôm lấy cổ Nụ kêu “Oh! my baby”. Mặc kệ, gọi gì thì gọi. Việc trước tiên là phải gởi những tấm hình “như là tình yêu” này đi tứ xứ để “giựt le” với bạn bè, nhất là với cha mẹ mình để ông bà phải la hoảng. Quả nhiên, vừa trông thấy hình ông bà nhảy dựng lên như điện giựt nhưng sự hốt hoảng chứa đựng đầy vẻ hãnh diện nên chỉ vài phút sau ông bà hân hoan đi từ đầu trên xóm dưới khoe thành tích “vinh quang” của con mình. Qua Mỹ lấy được chồng Mỹ mới ngon, vì nếu không nói được tiếng của họ thì ai mà cưới. Ông bà chỉ đơn giản hiểu như thế, cũng như mọi người trong xứ ai cũng quan niệm nếu nói được tiếng Mỹ là đã thành công trong tất cả mọi mặt kể cả kinh tế vì tụi Mỹ tuy lớn xác nhưng đầu óc không hơn gì một đứa con nít.

Xuất viện về Nụ ở nhà thêm một tháng để tập cử động, tập đi và tập đứng. Chẳng có gì khác biệt hơn ngoài cây gậy chống cho khỏi ngã. Tuy nhiên, gậy làm Nụ coi bộ chững chạc và có vẻ bà cụ hơn, dáng đi cũng khoan thai chứ không vung vẩy, loạn xạ như trước. Tóm lại Nụ cố giả vờ tự tin một cách ngu xuẩn, bám víu vào những vết thẹo như một bằng chứng hiện hữu để đánh lừa những cay đắng của mình vì một tháng trôi qua vẫn không xóa được một phần nhỏ của bệnh tật, có chăng thêm được hai vết thẹo con đã liền da non.

Lúc đó Tâm chưa lấy chồng, chưa xin được housing ngoài welfare, foodstamp nên hai chị em ở chung phòng với một số bạn bè khác. Thỉnh thoảng những lúc vắng người, Nụ ném gậy thử đi một mình. Lại y như xưa, có nghĩa là lúc nào cũng như vồ như ôm chầm lấy người khác. Là con gái nên lắm nước mắt, nhiều lúc khóc chưa đủ, Nụ chống nạng thất thểu ra ngoài park rồi thừa lúc nhìn quanh quất không thấy ai, Nụ vung gậy quất vun vút vào những đám cỏ non mướt khiến rễ, đất cát tung bay vùn vụt. Từ đó chiếc gậy không còn là điểm tựa cho Nụ dùng để đi mà dùng để biểu lộ những uất hờn đã che giấu một tâm trạng vô cùng đau khổ. Chiếc nạng bị sứt sẹo cào nát nhiều chỗ thì cơn buồn giận của Nụ càng vơi đi.

Lâu dần cũng nguôi ngoai, Nụ đã tập cho mình một thói quen che đậy, cứ nghĩ như đã khỏi bệnh hẳn và cố quên buồn bằng cách bỏ học dù mới chỉ lớp mười. Tiền tàn tật được hơn sáu trăm mỗi tháng, sau này lại xin được housing nên vật chất tương đối thoải mái. Hơn nữa Nụ ăn uống dễ dãi, nhiều khi buổi trưa chỉ cần một ly nước lạnh và gói potatoes chip hai mươi lăm cents cũng xong. Tối nào vui trong lòng hoặc bụng cồn cào đói thì đi bộ ra đầu đường kiếm cái Big Mac, tiện tặn chút nữa thì cái hamburger cho nên Nụ cũng dư khá tiền dù đã gởi hàng tháng về nhà.

Một lần Nụ đi ra nước ngoài thăm bạn bè. Cái phút cảm động và sung sướng nhất đời là lúc Nụ chống nạng từng bước một từ hành lang nối liền máy bay đến tận phòng đợi giữa tiếng reo của cái Xu, cái Hào, giữa tiếng “Oh, my God” rất Mỹ và những cái bắt tay nồng nàn, những vòng ôm cứng ngắc không khác một bà tổng thống đi kinh lý. Nụ hãnh diện với cái nhãn hiệu “công dân Mỹ” và bộ quần áo “Mỹ” trên người mặc dù hai con bạn đến đón trông nó cũng “hơi văn minh” giống Nụ. “Mặc kệ, diện thế nào thì diện chứ Thụy Sĩ sao bằng Mỹ, đem so sánh chẳng khác nào lấy đá phân bì với cẩm thạch.

Hai con bạn thân từ hồi còn ở quê nhà, chung trường tiểu học, chung lớp, chung mâm và đôi khi còn chung cả giường nên ra chiều vui vẻ thân mật lắm. Chúng đón Nụ bằng chiếc xe Pinto cà rịch cà tàng. Tuy nhiên tiếng nổ lớn lại làm Nụ vui vì có bao giờ nàng được ai đưa đón bằng xe hơi ngoài vợ chồng Tâm. Tâm thì màu mè kiểu cách, mỗi lần bỏ Nụ xuống y như rằng vội vã phủi bụi, đất cát ở miếng thảm con để chân. Đã vậy những giấy kẹo ăn xong lỡ có rơi xuống cũng không thoát khỏi đôi mắt cú vọ của ông anh rể.

Xe loanh quanh trước một sân parking rộng lớn nhưng khó tìm được chỗ đậu sau sáu giờ chiều. Đeo túi xách trên vai, Nụ khệnh khạng chống gậy theo chân bạn lên cầu thang vào một trong những building nghèo nàn cũ kỹ ngay trung tâm thành phố. Đám bạn khố rách áo ôm lẫn lộn sáu đứa trong một phòng, tưởng đón được “bà Mỹ con” từ xứ văn minh giầu có để được chia chác chút đỉnh. Nào ngờ trong túi xách Nụ mang theo chỉ vỏn vẹn vài bộ quần áo đã qua mùa, vài chục tấm hình với những “thằng kép” Mỹ mập phục phịch nhỏ hơn Nụ đến cả mười lăm tuổi và chiếc máy ảnh “thổ tả” không đáng giá mười đồng bạc. Ngày đầu chúng còn mong ngóng may ra Nụ mang theo chút đỉnh tiền bao đi uống cà phê hay ăn tô phở. Nào ngờ Nụ quen tính tằn tiện bóp chắt cho nên suốt từ sáng, trưa đến chiều tối chúng chỉ thấy Nụ mò vào tủ lạnh lục lọi kiếm vài khoanh bánh mì kẹp vào miếng cheese, hoặc nấu chén mì gói trông thật thê thảm. Thế là cả đám đứa thì cáo bệnh, đứa phải đi học, đi làm thành ra Nụ trơ trọi một mình. Một hai ngày đầu Nụ không để ý nhưng lâu ngày thấy sự lơ là của chúng bạn, Nụ chột dạ vội gọi điện thoại mượn Tâm năm trăm đồng để tiêu xài và góp thêm phần ăn của mình chờ cho hết tháng và chờ cho chóng tới ngày về.

Sau chuyến đi Thụy Sĩ kèm theo những kinh nghiệm đã có, Nụ chỉ loanh quanh trong nước và rút ngắn thời gian thăm nom vừa tiện túi tiền vừa đỡ vất vả cho bạn bè. Mười năm, Nụ tổ chức bốn cuộc du lịch. Chính vì thế mà làm xóm ngõ xì xào bàn tán và làm cha mẹ Nụ mang cái hãnh diện lầm lẫn. Con bé tật nguyền đã biến mất chỉ còn nàng Cám vớ được chiếc hài tiên đã thoát xác với những ăn xài vung vít, rộng rãi giàu có và ngay đến vấn đề chồng con ai cũng cho là Nụ kén chọn chứ nào ngờ…

Giận con, ông châm biếm cho hả cơn tức nhưng thực ra tâm can lại thấy nhói đau. Dù gì nó cũng là con ông, là máu mủ ruột thịt, là công vợ ông mang nặng đẻ đau và cũng là công dưỡng dục mười mấy năm trời. Bệnh tật ai chẳng ương dở. Người ta bệnh một hai ngày đã khổ sở rên la, còn con ông hơn ba mươi năm chịu tàn tật… Ông thở dài, miếng cơm cuối cùng chợt nghẹn:

– Bà không gọi cho nó ăn đi à!

– Nó đi ra ngoài ngay từ lúc nãy. Tôi nghe tiếng đóng cửa cái rầm. Gớm, điếc gì điếc nặng thế không biết.

***

Nền đất khô cứng lún phún những ngọn cỏ vàng èo ọt, thỉnh thoảng bị khuất lẫn trong đám cỏ dại vượt cao hơn. Khoảng sân sau của dãy nhà hội bô lão không rộng nhưng bị bao bọc bằng hàng rào kẽm ngăn cách những nhà chung quanh nên ông bà Cửu chỉ đi được vài mươi thước đã phải quay trở lại. Giữa sân, rải rác vài nhóm ngồi tụm năm, tụm ba nhìn trời, nhìn đất hoặc nói những chuyện riêng tư. Ông Cửu thọc hai tay vào túi áo. Chẳng hiểu sao ông lại cứ thích mặc bộ pyjama khi đi ra ngoài. Bộ đồ bằng teteron màu xanh lạt mà ông cho là trẻ trung, mang dáng dấp thanh lịch thế mà Nụ thấy ông mặc cứ dãy đay đảy:

– Con nói thầy bao nhiêu lần rồi, pyjama chỉ mặc buổi tối khi leo lên giường thôi. Nó là đồ ngủ.

Kệ cái giống ương dở muốn nói gì thì nói, ở Việt Nam ông vẫn mặc đi ra đường có chết ai đâu.

– Ai lại ăn mặc thế này, Nụ tiếp tục cằn nhằn, người ta cười bảo là chúng con có học mà để ông già ăn mặc kỳ dị. Hay thầy thay áo thun và lấy cái quần jeans của con mà mặc vào.

Ông Cửu nhìn Nụ chằm chằm. Đời thuở nào cha lại mặc quần áo của con, đàn ông lại mặc quần áo của đàn bà? Nghèo thì nghèo chứ nào đã rách rưới khốn khổ như thế! Thấy ông không trả lời, Nụ cũng đâm ngượng nên vội bào chữa:

– Hay để con dẫn thầy ra ngoài K. Mart mua vài cái quần jeans mà mặc.

– Già rồi mặc cao bồi ai coi cho được. Hơn nữa cái quần cứng như hồ lại bó chịt hai ống chân trông chẳng khác thằng đánh gậy. Thôi tao chẳng muốn làm trò nỡm.

– Nếu thầy muốn rộng rãi thì mua quần tây với áo chemise.

– Mặc nó lại phải đi giày, trời nóng như đổ lửa mà đóng bộ vào. Ối giời ơi, ông thở hắt rồi lên giọng, đừng bày vẽ nữa, đẹp gì cái vỏ bề ngoài. Đời mà, tốt danh hơn lành áo.

Hình như đã biết không thể thay đổi được tính ông nên Nụ chẳng buồn nói thêm. Từ đó ông muốn làm gì thì làm, ngay đến chuyện vác cái dù theo giữa trời nắng gắt Nụ cũng không hề há miệng vì cho rằng ông càng già thì càng ương dở giống con nít.

– Ông làm gì cứ thừ người ra thế?

Bà Cửu thấy chồng đi dạo mà cứ thừ mặt suy nghĩ, tâm trí để tận đâu đâu nên hỏi đột ngột khiến ông giật mình:

– Thừ đâu mà thừ. Tôi đang nghĩ hay tôi với bà theo cuộc sống mới, cứ quẳng gánh lo đi là xong hết. Bắt đầu từ mai cứ ăn cơm tối xong là mình dắt nhau đi dạo. Mọi chuyện để ngoài tai, mọi uy quyền danh lợi để sang một bên. Tuổi mình gần đất xa trời rồi chẳng còn gì để mà đáng phải lo nữa…

Tuy nói thế nhưng chiều đến ngồi bên mâm cơm ông lại buồn rầu, có đến hai tuần các món ăn không đổi. Vẫn dĩa bắp cải luộc, hai quả trứng chưng mắm tôm và chén nước mắm mặn gắt những muối.

– Sao ngày nào cũng có mỗi món này vậy bà?

– Thì ông đi chợ đi.

– Có xa xôi là bao mà phải dừa cho tôi?

– Không dừa nhưng chợ búa phải có tiền chứ!

– Cái Nụ không đưa tiền cho bà à?

– Chuyện, ông cầm cả nắm tiền còn không dám xài thì nó có vài trăm bạc thấm thía vào đâu.

Bà trách ông là phải vì từ hôm vợ chồng Phước ký ngân phiếu năm ngàn biếu ông bà đến giờ, sau khi nhờ vợ Tâm đổi ra tiền mặt, ông gói kỹ trong bao ni lông giấu tiệt, chớ hề dám lấy ra một đồng.

– Bà phải nói tôi mới biết chứ. Mai bà đổi cho tôi trăm bạc mà tiêu dần.

Hôm sau, ông bà rủ nhau đi bộ sang chợ. Từ nhà đến chợ khoảng hơn hai trăm thước nhưng xe cộ đông như nêm. Tiếng động cơ, tiếng còi xe cộng thêm sức nóng hừng hực từ dưới đường xi măng bốc lên lẫn mùi xăng, khói xe làm ông bà cảm thấy ngột ngạt. Ông nắm tay bà dắt ngang qua đường, qua là qua đại chứ còn dù đèn đường đã bật xanh mà bên kia chỉ muốn nhào tới nghiến nát khách bộ hành. Ánh nắng vẫn xoay xoáy xuyên qua lớp vải mỏng của chiếc dù che đổ xuống đỉnh đầu dừng lại ở những mảng da hói.

Ông bà bước nhanh như chạy đua làm cánh dù mỏng được dịp chao đảo. Đến chợ hết độ mươi phút mà người vã đầy mồ hôi, ông đứng bên lề cụp dù xuống cầm gọn gàng trong tay rồi mới bước vào. Gọi là chợ chứ thực ra bán đủ thứ đồ dùng. Từ thực phẩm tươi, khô cho người, chó, mèo đến thuốc tây, thuốc trừ sâu bọ. Từ lọ sơn móng tay, hộp phấn đến cái chổi hoặc đồ chơi trẻ em xếp đặt thứ tự trên những dãy kệ dài bốn tầng đầy kín mặt hàng. Chợ chứa được cả ngàn người thế mà đồ chất cao chỉ chừa vỏn vẹn những lối ra vào cho khách hàng, đủ biết chủ chợ giầu cỡ nào.

Ông Cửu tối tăm mắt mũi với những món đồ bày ngộp mắt trong khi bà Cửu tần ngần đứng bên dãy hàng rau. Rau đủ loại xếp từng hàng dài trên kệ cao vừa tầm lấy, từng vòi nước từ bên trong thỉnh thoảng tẽ cao rắc đều trên những cánh rau non, bên dưới trải lớp đá vụn giữ cho rau khỏi hư thối. Đến dãy hàng thịt hơi lạnh tỏa ra khá mạnh vì tất cả những freezer đều mở, bà so vai, hai tay vòng ngang bụng giữ độ ấm trong người rồi nhìn vào giá tiền và so sánh với giá mua ở Việt Nam, món nào cũng vài chục ngàn, nhiều thứ mắc gấp mấy lần. Dạo qua dạo lại đến mấy lượt, rốt cuộc ông bà xót của lại thẫn thờ về tay không. Ra đến ngoài ông chép miệng than thở:

– Tiền đô quý thật bà nhỉ, hay tại bây giờ bất tài không kiếm ra tiền nên cái gì đối với tôi cũng là xa xỉ phẩm.

– Không quý thì cũng chẳng thèm khát gì ba miếng thịt vàng bạc đó. Ăn xong để sống thọ đến trăm tuổi à!

Những bữa cơm kế tiếp cứ thế diễn ra thật đạm bạc, còn đạm bạc hơn ở Việt Nam. Cả tuần không được miếng thịt, ông bắt đầu thèm một bữa cơm giỗ thật thịnh soạn, thịt cá ê hề hoặc ít ra cũng phải là bữa cơm do vợ thằng Phước nấu. Ông nhớ đến những con cá lóc vừa bắt ở dưới ruộng lên còn dãy đành đạch mang vào lò than đỏ hồng. Dĩ nhiên, dù miệng đã bị tọng vào thanh sắt đâm sâu vào bụng, con cá vẫn có thể văng ra ngoài vì sự vùng vẫy quá mạnh khi bị nướng sống như thế.

Ông thích ăn cá nướng. Mùi thơm khen khét của lớp vảy đặt sát vỉ than hồng bắt vào mũi làm nước miếng ông cứ trôi xuống cổ họng ừng ực, nhất là khi liên tưởng đến tô mắm nêm pha chế thật đặc biệt của Cảnh. Tô mắm nêm màu hồng nâu, sền sệt những miếng khóm bằm nhuyễn, những mảnh ớt, tỏi, xả nhỏ li ti trộn đều để chễm chệ ngay giữa mặt bàn. Chung quanh Cảnh xếp bốn dĩa rau bốn góc có cả chuối chát, khế chua, đôi lúc không có khế Cảnh thay vào xoài xanh, nhiều nhất vẫn là dấp cá, ngò gai, tía tô, húng quế. Con cá được để lên chiếc dĩa hình bầu dục cái miệng hả ra thật lớn. Thân hình nó cong vòng theo khuôn dĩa với lớp vảy xém đen, một lằn nứt chạy dọc theo sống lưng hở những mảng trắng như thịt gà đang nghi ngút bốc khói. Đặt đĩa trước mặt từng người, Cảnh múc mắm nêm ra chén, trải bánh tráng sẵn cho ông bà rồi nhẹ nhàng ngắt những cọng rau thơm bỏ vào, cũng không quên bỏ vài miếng củ cải muối chua, vài khoanh xả bào thật mỏng. Xong đâu đó, Cảnh mới lấy đũa khẽ dích mảng da cá xuống, thế là nguyên nửa phần thịt lộ ra và dĩ nhiên, miếng ngon nhất, bự nhất được cuốn gọn trong hai cái cuốn đầu tiên dành cho ông bà. Ông không quen ăn những món của người nam nhưng vợ Phước có lắm tài lại khéo bày ăn nên món nào cũng ngon miệng.

Cảnh cũng hay nấu canh chua với đầu cá lóc. Nội hai cái má đầy những thịt, lại còn cái hàm dưới rồi còn cái đuôi, bộ lòng, bao tử. Bao tử cá ăn dòn dòn sựt sựt, lá gan lại bùi làm sao. Phần giữa, bao giờ Cảnh cũng dành riêng để kho tộ. Nhà có cái nồi đất nhỏ xíu mặc sức cho Cảnh bày trò. Có bữa, ông thấy nó vùi nguyên cái nồi xuống đống than đỏ, tưởng có mùi khói ám ai ngờ lại ngon vì chất nước sền sệt màu nâu vàng làm khứa cá trông bóng bẩy hấp dẫn thêm lên. Cơm gạo tám thơm ăn với canh chua cá kho tộ thì còn gì ngon bằng chỉ phải mỗi tội Cảnh cho nhiều ớt quá, vừa ăn ông phải vừa uống bia mới bớt cay.

Tất cả mọi thứ vợ Phước nấu ông đều thích hết nhưng món cá rô chiên dằm nước mắm ớt vẫn hấp dẫn ông hơn cả. Con nào con nấy có lớn chi cho cam, chỉ cỡ ngón chân cái nên mỗi lần Cảnh mua về phải cả rổ. Có hôm gặp cá ngon, vừa bước chân vào nhà Cảnh đã ném vội cái giỏ chạy sang hàng xóm xin mớ lá tre rồi cứ thế bắt đứa ở xóc cho sạch nhớt. Mỗi lần nhìn rổ cá là con bé ở sa sầm nét mặt vì nghĩ đến lúc phải móc mang, móc ruột. Xong đâu đó, Cảnh đổ vào cả lít mỡ, lửa để riu riu như chiên chả giò. Con cá mang ra dòn rụm từ trong ra ngoài và còn đang nóng hổi, Cảnh rưới từng muỗng nước mắm cay vào…

– Lâu rồi bà nhỉ! Dễ đến mười sáu năm.

Ông buột miệng trong khi bà Cửu nhìn ngơ ngác:

– Chuyện gì mà mười năm với lại năm năm?

– Thì vợ Phước ấy!

– Vợ Phước làm sao mới được chứ!

– Từ ngày nó đi mình chẳng còn được ăn những món đặc biệt của nó.

– Ông chỉ lẩn thẩn. Thích thì xuống nó mà ăn chứ có gì khó đâu.

– Thèm vào ngữ ấy.

Giận hờn ông nói vậy chứ lòng vẫn thấy nao nao. Ngày xưa khi vợ Phước vừa sanh con Dung là ông đi khoe cùng xóm ngõ. Trong vòng một giờ đồng hồ mà từ đầu trên xóm dưới không ai không biết nhà ông Cửu có tin mừng. Họ mừng dùm ông thì ít mà mừng cho họ thì nhiều vì sắp được bữa cỗ no. Cỗ mừng đâu phải chỉ một lần, rồi còn tiệc đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, rồi còn cháu trai, cháu gái… Ôi thôi cứ tha hồ mà ăn vì đâu ai xót của dùm ông, chỉ có mỗi vợ Phước là tỏ ý chống đối việc ông làm. Chẳng hiểu nó sợ cực nhọc hay tiếc của thực sự:

– Thầy ạ! Mỗi lần tiệc tùng cũng phải hơn trăm người ăn, tiền đó gom lại cả năm cũng dư mười mấy cây. Con nghĩ mình dành dụm vài năm mua căn nhà lầu ở ngoài phố sống cho nhàn hạ thoải mái. Thầy bu già rồi, làm lụng vất vả quá…

– Không làm lấy cứt mà nuôi cái nhà này à!

– Nhà này thầy đâu phải nuôi ai, vợ Phước nhỏ nhẹ, anh Chẩn đã có gia đình riêng, con cái đủ ăn đủ mặc. Cô Tâm và cô Nụ thì ăn uống có là bao. Chúng con ở với thầy bu để lo hiếu đễ chứ đâu phải ăn bám hoặc nhờ vả.

Ông Cửu ngắt lời:

– Biết rồi, nào tôi có dám nói là nhờ vả đâu. Nuôi “anh ấy” tới ngày này, dựng vợ gả chồng là tôi hết trách nhiệm.

– Con không có ý phủi bỏ công ơn dưỡng dục của thầy bu đối với nhà con nhưng con thấy gia đình mình cũng có tiền ra tiền vào rủng rỉnh mà anh Phước học hành chữ nghĩa chẳng thua ai. Tại sao không dọn về Công Lý hay Hồng Thập Tự?

– Thì chị dọn riêng ra mà ở, ông nói lẫy, gia đình tôi xưa nay cha ở đâu thì con phải ở đấy.

– Con nghĩ có dời đi đâu chăng nữa thì cũng cả nhà mình, no đói có nhau chứ con nào có ý định ra riêng…, vợ Phước ngập ngừng, hay là mình mua căn nhà ba tầng trên Phú Nhuận, hai tầng trên ở còn tầng dưới mở tiệm bán thuốc tây.

– Bán thuốc tây? Ông dè bỉu kêu lên. Cứ tưởng bịp được tôi? Chị học tới đâu ai chẳng biết mà rộn.

– Thưa thầy, đâu phải cứ có bằng cấp mới được mở pharmacy. Bây giờ người ta nhờ dược sĩ đứng tên đầy. Còn không thì bán bàn ghế, giường tủ, tệ hơn nữa cũng hàng xén, chạp phô…

– Thôi thôi… ông Cửu xua tay, tôi chẳng vô công rỗi nghề mà bàn tính những chuyện “đại sự” như chị. Bán chạp phô một tháng lời được bao nhiêu, liệu một năm được mấy bữa giỗ?

– Đó chính là điểm con muốn nói. Tại sao mình lại quá cực khổ trong khi mọi người ai cũng sung sướng tận hưởng cuộc sống? Tại sao một người còng lưng làm nuôi cho bằng đó người ăn? Họ hàng đến đây đâu chắc vì tưởng nhớ tổ tiên hay đến chỉ vì bữa ăn? Ở chơi không, ăn xong lại còn được dồn quà cáp tiền bạc cho về xe ai mà chẳng ham hố.

Ngừng một lát như thể nghe ngóng phản ứng của ông, vợ Phước nhắm mắt lại gồng mình nói điều khổ ải đã phải chịu đựng quá lâu:

– Mỗi lần giỗ chạp xong con thấy nhà cửa như muốn tan hoang, đồ đạc mất mát, đã vậy gạo, than củi, dầu ăn nước mắm cạn xuống tới đáy. Tội cho bu lại lùi lũi sắm sửa, bòn nhặt từ đầu.

– Vậy tao hỏi mày, tiền của làm ra để làm gì? Mặt ông bắt đầu bừng nóng.

Vợ Phước không dám trả lời câu ông hỏi, đầu cúi gầm xuống:

– Thầy xem, trời tháng hè nóng như đổ lửa mà nhà thì không có máy lạnh. Có mỗi cái tủ làm đá thầy cũng rút ra sợ hao điện. Bếp điện không dám xài để nằm một xó, bếp dầu không dám nấu sợ nó hư, quanh ra quẩn vào cũng chỉ củi với rơm, nhiều khi nấu tí nước pha sữa cho cháu cũng phải thổi hết hơi bỏng cổ.

– Mày có phải nấu đâu mà nhắng lên thế! Ông Cửu trừng mắt nhìn con dâu.

– Thưa thầy, theo con nghĩ mình trả tiền mướn người giúp việc không lẽ nuôi họ chơi không?

Vợ Phước cố dằn lòng để đừng có thái độ khó chịu nhưng vẫn không qua được đôi mắt tinh tường của ông:

– Nhà này xưa nay không có thói trưởng giả, đầy tớ chỉ phụ việc ruộng vườn, còn cơm nước không mẹ thì con. Mày về nhà này làm xáo trộn lung tung còn láo lếu chỉ dậy. Làm gì có thứ trứng đòi khôn hơn rận.

Ông phải quát phủ đầu như thế Cảnh mới chịu im. Nhà có bốn đứa mà chẳng có đứa nào giống đứa nào. Thằng Chẩn tính tình rộng rãi, ăn xài giống ông nhưng phải cái tội thích khoe khoang và nói hơi nhiều, trong nhà có gì mới mẻ là đầu trên đầu dưới biết hết. Thằng Phước kín đáo hơn nhưng lại lười, bảo cái gì cũng gật nhưng gật rồi để đó chứ không chịu làm. Đã vậy còn thêm cái tội sợ vợ, cái tội mà ông ghét nhất, có nhằn có chửi thì nó chỉ cười:

– Thời buổi tân tiến chứ đâu phải như ngày xưa mà chèn ép được vợ con. Hơn nữa, chung quanh người ta đánh phấn đầy, đâu phải chỉ có mình nó. Chính thời của bà nội mà còn có người sơn móng tay móng chân đỏ chót.

Nói như thế nhưng mắt Phước vẫn láo liên nhìn trước nhìn sau và khi không thấy Tâm, bèn chỉa mũi dùi sang cô em:

– Thầy thấy không, ngay con Tâm mà cũng son phấn loè loẹt.

– Mày nói cái gì thế thằng kia? Ông quắm mắt nhìn Phước. Con Tâm là gái chưa chồng. Chưa chồng thì muốn đi ngược đi xuôi, đi ngang về tắt thế nào cũng được.

– Gần thế kỷ hai mươi rồi mà thầy nói những gì đâu đâu.

Biết mình nói thế là sai nhưng vốn không ưa con dâu nên ông chẳng cần chữa thẹn chi cho mệt. Con Tâm ngoài tật nói nhiều lại còn thích màu mè, khách sáo và hay ganh tị. Được mỗi cái Nụ nhưng nó lại dở người, nhất là hay tấn công ông bà, nhưng ông nào có chấp vì cho rằng bệnh tật hay sinh ra quẩn tính.

Nhưng nói gì thì nói, cả một lũ con như thế mà vẫn không thể kiếm được đứa nào tốt lành bằng vợ Chẩn, đứa dâu đầu của ông. Vợ Chẩn làm dâu suốt hai mươi năm, đến khi lấy vợ cho thằng Phước mới dám xin ông ra ở riêng. Kể cũng tội, lấy chồng từ năm mười sáu thì nào đã biết gì, ông bảo sao nó nghe vậy. Hơn nữa, thằng chồng cũng quá quắt lắm, hơn vợ nó có một tuổi mà xeo xẽo chửi con kia cả ngày. Khi thằng Chẩn lấy vợ thì thằng Phước mới được mười một. Hai anh em cách nhau sáu năm nhưng thằng Phước kén cá chọn canh mãi đến năm hai mươi chín mới chịu lấy vợ. Cảnh là người do ông bà tự chọn lựa nên Phước vật mình vật mẩy nhất định không chịu lấy, viện cớ nào là mập như heo chỉ tốn tiền quà vặt, nào là diện quá chỉ chết tiền quần áo. Thấy con mình đã lớn tuổi mà còn kén cá chọn canh đến nỗi ít nói như bà Cửu cũng phải gắt lên:

– Cưới đứa khoẻ về cho nó coi sóc ruộng vườn, đỡ tiền thuốc men, còn ăn uống có là bao. Hơn nữa tao đã chọn kỹ, tướng nó là phải cả tá con, cái lưng chữ ngũ cứ kể như đẻ năm một.

Phước chê là để mà chê cho sau này ông bà khỏi trách cứ, chứ thực ra ngày đầu tới coi mắt anh chàng đã quay cuồng như bị sét ái tình đánh. Phước có học, tính tình lại phóng khoáng dễ dãi nhưng vốn biết gia đình khó khăn nên chàng vẫn giả đò lấp lửng:

– Thầy bu thích thì cứ lấy về cho nó hầu.

– Ơ hay thằng này ăn nói hay nhỉ. Tao lấy về để cúng tế à?

– Chứ thầy bu khó như vầy nó chẳng ở nổi đâu.

Ông cười dễ dãi:

– Muốn ở đâu thì ở, cứ tưởng béo bở lắm mà tao phải hầu cơm. Chỉ mong mày gật đầu để tao lo liệu. Đừng để cha già con mọn mà tao khổ tâm lắm.

Nhập nhằng mãi rồi cũng xong. Có điều Phước thua cơ ông là cái chắc. Muốn bắt dâu, chỉ cần giữ con trai mình lấy cớ cha con không thể rời nhau. Phước là trai út thì phải ở đây thừa hưởng di sản của ông cha để lại và phải cúng bái tiên nhân nếu chẳng may thằng Chẩn qua đời. Thế mà đến lúc nói chuyện với vợ Phước ông mới thấy rằng không thể nào lấy uy quyền mà ép nó được. Con này ngoài cái tật cãi nó còn lý sự phải biết. Chính nó đã mấy lần xin ra ở riêng viện cớ cho gần chỗ sở chồng làm để dễ bề đi về bớt được tiền xăng nhớt và thời giờ. Chỉ có một lý do duy nhất ấy được nhai đi nhai lại, nó nói mãi không chán và ông nghe mãi cũng không mềm lòng. Kể ra nó cũng mưu lược chứ bất cứ lý do nào khác là ông cũng bắt bẻ được ngay. Thời nào thì thời, lấy chồng là phải theo chồng, dù có là bà thánh bà tướng mà đã lấy con ông là phải ở trong cái nhà này. Nó cũng khôn ngoan chẳng dám xin đi làm cho nhàn nhã tấm thân vì công việc gia đình ngập lên tới đầu, việc nhà chưa xong mà mở miệng xin đi làm chỗ khác là chết với ông. Thằng Phước thương vợ và cũng chịu khó nghe lời vợ nên nó đi rước ở đâu về một con giúp việc, lấy cớ đỡ đần cho cha mẹ. Ôi, chúng dư tiền dư bạc muốn làm gì thì làm nhưng nhà ông đâu thể nuôi thêm miệng ăn để hầu hạ riêng cho vợ Phước. Cho nên được bữa trước, bữa sau ông bắt con Hai, đứa ở, ra làm ngoài vườn.

Không hiểu con Hai sợ làm vườn hay thương chủ bầu bì mệt nhọc mà nó hay lén về đúng vào giờ lo cơm nước để đỡ đần cho chủ. Vài lần ông làm dữ đòi đuổi nhưng nó đâu có lãnh tiền của ông nên cứ tỉnh bơ. Bực quá, ông xoay qua Phước:

– Quần áo chúng mày thay ra phải tự giặt ủi lấy. Vợ mày không làm được vườn tược thì phải lo cho heo gà và cơm nước.

Thực ra từ ngày Cảnh về làm dâu, tuy chưa hề làm lầm lỗi một điều gì nhưng cứ nhìn cái dáng khoan thai nhàn nhã, nhìn khuôn mặt tươi tắn môi son má phấn và tay chân sạch sẽ trắng trẻo là ông lại lộn ruột. Sự có mặt của Cảnh trong nhà là cả một đối nghịch của hai lớp người và hai cuộc sống. Cảnh không đẹp nhưng có chút ít học thức lại quen thói trưởng giả sai bảo, việc gì cũng dùng đồng tiền giải quyết trong khi ông Cửu là người nhà quê chân lấm tay bùn, tiền kiếm được hoàn toàn do sức lao động, bằng sự cần cù và bằng mồ hôi nước mắt. Ông bon chen trong xã hội xô bồ vàng thau lẫn lộn từ khi còn ở ngoài Bắc. Chức tiên chỉ cho đến xã trưởng ông cũng phải mua bằng tiền nên khi vào Nam mọi thứ đều lạ lẫm. Người ta không mua chức tước trắng trợn như ở Bắc nhưng muốn làm phó, chánh trương trong một xứ họ đạo phải tốn kém thời giờ, lập phe nhóm và hao tổn tiền bạc chè chén hội họp. Chính vì thế nên ông quan niệm không có gì lớn và quyền thế bằng đồng tiền, có tiền là có tất cả. Thay vì học hỏi để mở mang kiến thức, để đổi mới con người cho cuộc sống vươn cao sung sướng hơn lên, ông chỉ lo cặm cụi làm và khư khư ôm lấy tư tưởng phong kiến, tạo dựng một mái gia đình mà người cha, người chồng chính là một ông vua có toàn quyền ban phát tất cả mọi luật, kể cả những luật khắt khe và vô lý. Tự ông cho ông cái uy quyền đó để rồi chỉ vì sợ giảm hoặc mất đi ông đã dùng tiền bạc, mưu chước để khống chế tất cả mọi người.

Phước là người có học nhưng vì ở nội trú, xa gia đình từ nhỏ nên rất thương và sợ ông Cửu, thêm vào đó ảnh hưởng không ít thì nhiều tính phô trương di truyền nên mặc kệ ông muốn làm gì thì làm. Đôi khi thấy ông quá đáng Phước cũng chỉ nhỏ nhẹ phê bình chứ không dám công kích trước mặt. Ngay đến việc bắt đứa ở phải làm việc ngoài vườn hoặc nhìn vợ vác bụng bầu to tướng ngồi giặt thau quần áo chàng cũng không dám lên tiếng. Hình như cảnh làm dâu của thời xưa vẫn còn ảnh hưởng trong đầu Phước.

Dẫu biết trong nhà từ trên xuống dưới không ai dám chống đối mình nhưng ông Cửu vẫn e dè. Hình như lúc nào Cảnh cũng là cái đinh, cái gai nhọn trước mắt ông, Ông có cảm tưởng như mọi hành động, công việc cũng như tư tưởng của ông đều bị Cảnh đọc thấu. Tuy ghét con dâu nhưng chỉ trong ngấm ngầm vì ông sợ ép quá Cảnh sẽ cuốn gói đi thì mất cả dâu lẫn cháu. Dù gì ông cũng cố nhẫn nại chờ đến khi đứa bé ra đời cho ông bà ở nhà trông cháu thì đứa nào dám bỏ đi nữa. Ở đời phải khôn ngoan, muốn giữ bò mẹ chỉ cần bắt bò con. Cháu nội ông sẽ là những con bê con, là những sợi dây vô hình siết cổ con bò mẹ nghênh ngang ngu dốt…

Chương 7

– Sao mỗi lần ra đây dạo mát là ông cứ thừ người ra thế?

Ông Cửu giật mình. Thật là mất vui khi nghĩ đến vợ Phước, đứa con dâu mà ông cho là khốn kiếp đã bắt mất con trai của ông.

– Mẻ nhà mình chua chưa bà nhỉ? Ông đột ngột hỏi như đã quên hết mọi sự ưu phiền.

– Sao vừa rồi nhắc đến vợ Phước, tôi thấy ông đăm chiêu tư lự mà bây giờ lại hỏi mẻ? Bà cố tình khơi chuyện để ông nói.

– Ôi, tôi đã nói rồi mà. Kể như không đẻ ra thằng mất dậy ấy.

– Con nào chẳng là con mà đứa ông thương, đứa ông lại ghét. Hơn nữa tôi đâu thấy nó làm gì đến nỗi ông phải từ bỏ. Qua đến đây rồi mọi chuyện đều trông cậy vào chúng nó. Hay là…

– Tôi cấm bà, ông quát lên giận dữ, có đói khát tôi cũng đi ăn mày, ăn xin chứ không bao giờ thèm đặt chân đến ngưỡng của nhà chúng nó. Vả lại, ông hạ thấp giọng, ngữ ấy có hơn gì cái Nụ nhà này, cùng phường khố rách áo ôm.

– Khố rách mà nó cho ông những năm ngàn?

– Chúng khoe mẽ mà bà còn lạ gì. Mà chắc gì chúng cho để ăn xài hay lại nghĩ rằng giữ lấy để lo phần ma chay. Đồ bội bạc, phản phúc. Bà xem suốt bao nhiêu năm trời nó đối xử với mình thế nào? Qua đây mới biết cái Nụ nghèo, vậy mà mỗi năm còn gửi quà cáp, tiền bạc phụng dưỡng cha mẹ.

– Thì vợ chồng nó cũng gửi ấy thôi.

– Chỉ là hình thức, tôi hỏi bà nó gửi hay nó bố thí?

– Chúa tôi! Bà Cửu thở dài, ông cứ buộc tội như vậy chẳng mấy chốc mà xuống hỏa ngục.

Trong đời những người già cả, nhất là người đi đạo tối sớm đọc kinh xem lễ mà nghe đến hỏa ngục là lạnh cả gáy nhưng đang bực, ông nói liều:

– Đi đến đâu tôi cũng đi, xuống hỏa ngục tôi cũng xuống nhưng bảo tôi đến nhà chúng nó thì không bao giờ. Bà nghe rõ lời tôi nói đây: không bao giờ tôi bước chân vào nhà chúng cho đến đời đời kiếp kiếp…

Biết sự giận hờn của mình là vô lý và không có nguyên do chính đáng nhưng không hiểu sao mỗi khi hình dung ra bộ mặt nhăn nhẳn của vợ Phước là ông lại thấy lên ruột. Làm dâu mười năm, nó đúng là thứ quỷ ám trong nhà. Nay nó đòi tân trang cái này, mai nó đòi cải cách cái kia. Ruộng vườn thẳng cánh cò bay nhìn muốn mát mắt mà nó cứ quanh ra quẩn vào bắt chồng xúi ông bà bán đi lấy cớ già cả rồi, nghỉ ngơi ở nhà trông cháu cho nhàn nhã. Ở nhà chơi không ai mà chẳng muốn nhưng tiền đâu lễ giỗ đình đám, bảo nó đưa tiền làm đám giỗ thì nó chối dài rằng không hơi sức nuôi cả họ.

Nhà có mấy con heo con gà nuôi cho nó ăn bèo, rau rợ như bỏ vặt lấy trột, như lấy tiền cắc bỏ ống thế mà Cảnh cũng giở sổ sách ghi chép ra chuyện ta đây có học. Tới kỳ bán heo gà, Cảnh hô ầm lên là nuôi những thứ ấy lỗ, chẳng những lỗ công mà còn lỗ cả của. Nào là tiền cám, tiền gạo lứt, tiền thuốc men chưa đủ lấy về chứ đừng nói chi đến chết hay bệnh dịch.

– Nếu lỗ thiên hạ nuôi làm gì? Mà đâu phải chỉ một xóm này, cả quận cả tỉnh nuôi không lẽ lỗ hết hở?

Ông giận ném mạnh cái ống trúc đang cầm định rít vài hơi thuốc lào văng ra xa trong lúc cả nhà đang quây quần bên chiếc chiếu hoa định ngủ trưa. Con vợ Phước vẫn khăng khăng:

– Họ nuôi có công thức, thuốc men, pha trộn chất hóa học hẳn hoi, cứ đúng tháng là bán. Hơn nữa, đã là công ty thì được thầu đồ ăn thừa, được mua theo giá sỉ, thứ gì cũng rẻ hơn bên ngoài.

– Im đi, đã không biết thì đừng có khoe mẽ. Nuôi heo lỗ mà tao còn có nhà có cửa cho chúng mày ở à? Ba cái chữ nghĩa dốt nát tưởng mang ra loè thằng bố mày.

Tuy vợ Phước không dám cãi nhưng vị thế của ông mỗi ngày một xuống thấy rõ. Bà Cửu đã cắt một phần đất đi bán viện cớ không còn đủ sức làm, heo gà cũng bớt dần viện cớ không người đi lấy lá rau. Ông hiểu con vợ Phước nằm tay trong xúi giục mẹ chồng. Ông cũng hiểu rằng vợ ông đã thấm thía câu “làm cho lắm tắm cũng ở truồng” nên nhất định ì ra đấy. Mỗi lần đình đám tiệc tùng, vợ Phước cắt đặt việc làm trên dưới y như nó là chủ gia đình. Nó sai bảo mọi người, ngay cả chị em chồng cũng chẳng từ:

– Cô cứ bắc ghế ngồi ngay ở cửa sau, ai ra vô bưng cái gì là biết liền.

A! Thì ra nó canh ăn cắp. Nó nghi ngờ họ hàng giòng tộc nhà ông có người ăn cắp. Đã có tiếng xầm xì to nhỏ đến tai ông, nửa khen nửa dè bĩu:

– Ông được bà dâu út biết giữ của thì chẳng mấy chốc mà giàu.

Hàng xóm đến phụ làm đám chẳng hiểu vì tự ái hay ghét nó nên mỗi lúc một thưa dần, vậy mà nó lại ra chiều thích thú:

– Con biết ngay mà. Họ đến giúp chỉ là cái cớ để dễ dàng ăn cắp mà thôi.

Bà Cửu dễ dãi hơn:

– Thì họ phải kiếm chác được chút đỉnh mới đến giúp mình chứ! Ai mà vô công rỗi nghề phụ không như thế!

Vợ Phước làm dâu được mười năm mà họ hàng, xóm ngõ thưa hẳn. Thật đúng như người xưa nói “Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.” Nó không dữ nhưng chặt chẽ, riết róng, tính toán từng li từng tí thì ai còn muốn đến. Nhiều khi giận ông cầm cây quật, nó cứ đứng ì chịu đòn chứ không chạy trốn như vợ Chẩn, thế có trêu ngươi không. Quật vài lần ông thấy rợn tay. Gặp thứ lì là ông phải tránh chứ không, lỡ nó lăn cổ ra chết thì cho đến mười đời sau vẫn không hết tiếng ác…

Tưởng chuyện như thế là yên không ngờ cuối tuần Nụ cố tình lôi ở đâu về một đám bạn cô hồn để tỏ thái độ chống đối khiến ông Cửu giận tím cả ruột gan. Đứa nào đứa nấy tóc tai như tuồng ra dại bù xù bờm xờm dài quá vai, quần áo banh ngang xẻ dọc giống những đứa hành khất. Chúng nằm ngả nghiêng ngoài phòng khách, đứa trên ghế, đứa dưới thảm và trên mặt bàn bày la liệt những nước ngọt, bánh trái, nếu ông không lầm thì hình như chúng xách đến mỗi đứa một phần. Còn cái Nụ, con gái quý của ông luống ca luống cuống mở tủ lạnh cạy đá bỏ vào cái thùng nhỏ bưng ra ngoài. Ăn uống có thế nhưng xem chừng chúng vui vẻ lắm, đứa ngâm thơ, đứa hát, đứa rên ư ử chẳng khác gì một lũ chó điên. Ông ngồi ngay bếp mà Nụ đi lên đi xuống không thèm nói đến một lời, cũng chẳng dám mời ông lấy một lon nước ngọt sợ hao tổn. Ông nào thèm khát gì cái của đó nhưng nó đã không biết trên dưới trước sau thì phải đập vào mặt cho nó biết. Nghĩ vậy, ông bước theo Nụ bén gót. Lũ bạn thấy ông ra vội lồm cồm bò dậy:

– Hi bác!

Ông giật mình. Bà Cửu đi chơi bên hàng xóm sao chúng chào những hai bác, mà chào kiểu mất dậy mất nết nào đó chứ không cúi đầu khoanh tay trước người già cả. Máu nóng bốc lên mặt nhưng ông cố gắng thong thả ngồi xuống khoảng ghế trống với khuôn mặt nghiêm nghị nhìn thẳng vào mặt từng đứa một, đứa nhỏ nhất cũng phải hai mươi lăm tuổi, như vậy toàn một lũ già với nhau mà lại vô ý thức hết sức. Ông hắng giọng:

– Các cô không đi làm à!

– Hôm nay weekend mà bác.

– Nói chuyện với người già cả đừng lôi tiếng tây tiếng u ra mà lòe, các cô biết tôi mới ở Việt Nam sang mà!

Nụ cười nở trên môi con tóc ngắn, nụ cười mà ông nghĩ là châm chọc:

– Sorry bác.

Tiên sư nhà nó, rõ ràng là chúng chơi xỏ ông đây mà. Quay qua Nụ, mọi tức giận ông trút lên đầu nàng:

– Tiền bạc đâu mà mày phí phạm như vậy? Nuôi con chó nó còn biết giữ nhà, nuôi con mèo nó còn biết bắt chuột…

Nụ đỏ mặt. Có lẽ vì tự ái, nên không chờ ông nói hết câu nàng đã cắt ngang:

– Đâu có đáng gì vài đồng bạc mà thầy rầy la. Chỉ có cuối tuần chúng con mới tụ họp chơi đùa…

– Chơi, chơi cái thằng bố mày. Mày bảo nhà “hao dinh” khó khăn, làm ồn ào sẽ bị đuổi bây giờ lôi lũ cô hồn về để ra đường ở à?

– Xin bác bớt giận, chúng con đâu có làm gì quá đáng đâu.

– Vâng, phải đó bác.

Cả nhóm bắt đầu nhao nhao trong khi Nụ lặng yên nhìn ông. Tia mắt nó hằn lên những nét đau khổ lẫn trách móc, hai cánh mũi phập phồng như ngọn đèn sắp hết dầu khiến ông chột dạ. Chẳng lẽ chỉ vì một lon nước mà mình lại khe khắt với nó thế sao? Lòng ông xót xa thương con khiến nước mắt rưng rưng, mọi uất ức được phơi bày:

– Thú thực với các cô tôi không khó khăn với ai cả nhưng có điều tại sao nó cười với các cô từ giờ nọ sang giờ kia mà không thể cười với cha mẹ nó được một tiếng? Có bao giờ nó ngọt nhạt được một lời? Hễ mở miệng ra là càu nhàu trách móc, hở miệng ra là chê hủ lậu với chả văn minh.

Ông ngừng lại vài giây nhìn sang Nụ nhưng khi thấy mặt nàng nghệch ra như một đứa trẻ vô tội vạ thì ông tủi thân khóc oà lên:

– Tao chỉ cần mày đối với thầy bu như với bạn mày mà thôi con ơi…

Chưa hết câu ông ôm mặt khóc hu hu đi vào trong.

Bên ngoài, có lẽ mất vui nên cả bọn từ từ rút êm. Tiếng lào xào mỗi lúc một thưa và đến khi im hẳn tiếng thì Nụ huỳnh huỵch đi vào giọng giận dỗi:

– Họ về hết rồi cho vừa lòng thầy.

Đang ngồi bệt đầu gục trên đầu gối, nghe con trách móc ông ngước lên hai mắt đỏ hoe:

– Họ, họ cái gì? Cả một đám mất dậy, một đám trôi sông lạc chợ.

Nụ mệt mỏi thả rơi người xuống giường:

– Bạn con đứa nào thầy cũng cho là trôi sông hết ráo.

– Không trôi sông mà ăn mặc như thế!

– Modern tân thời mà!

– Hừ! Tân thời. Tao bảo thật, đứa nào tốt tới đâu mà chui vào đây ăn uống nhờ vả hoặc chơi với mày đều là những đứa chẳng ra gì.

Nụ xanh mặt nhìn sững:

– Tại sao thầy lại có thành kiến với con như vậy chứ?

– Vì mày là đứa xảo trá, giả dối. Nếu mày đừng lừa dối thì tao đâu đến nỗi bán tống bán táng đồ đạc, nhà cửa, ruộng vườn mà khăn gói quả mướp ra đi để rồi bây giờ lạc lõng bơ vơ như thế này?

Có lẽ giữa ông và Nụ chỉ có mỗi điều này để mà nói vì từ hôm gặp Nụ đến giờ, mọi buồn bực, thất vọng ông đều trút hết lên đầu con. Nụ khó chịu:

– Như vậy là thầy cố tình trách móc con? Sao ngày xưa thầy bảo là: Tao chỉ cần gặp mày thì có chết cũng an lòng nhắm mắt? Nào là có mắm ăn mắm, có muối ăn muối? Nào là sẽ lo dựng vợ gả chồng cho chúng mày? Nào là cháu nội cháu ngoại…?

Giọng Nụ chì chiết khi nhắc lại làm ông Cửu đỏ bừng mặt:

– Vậy chứ đứa nào bảo con trai bám theo đầy mà không thèm? Từ hồi sang đây tao có thấy đứa nào?

Tưởng cái bất hạnh của mình chỉ có cha mẹ mới là người xoa dịu, nào ngờ lại là người chọc vào đúng nỗi đau. Nụ hét lên:

– Con đã không trách thầy bu thì thôi sao thầy bu lại trách con? Vì ai con phải mang tấm thân khổ sở như thế này? Vì ai con phải dối trá để cho thầy bu sang đây hầu hy vọng có cuộc sống sung sướng hơn? Thầy như vầy còn hơn chán vạn người ở Việt Nam mà. Mới sang ai lại chẳng phải chật vật lúc đầu nhưng sau này thầy sẽ được trợ cấp tiền già ăn cả đời cũng chẳng hết.

Ông Cửu chẳng vừa. Nỗi đau của ông cũng được dịp bung ra:

– Dù có đắp lên người tao lụa là châu báu mà cầm tù như thế này thì tao cũng chả sướng. Mày xem tao có khác gì kẻ câm điếc giữa đám người mũi lõ mắt xanh, và rồi ngay đến bữa ăn cũng bị bóp cổ bóp họng…

Mặc ông Cửu lải nhải, Nụ bỏ đi ra ngoài. Ngày nào mà ông chẳng đốc chứng lên như thế, ở với người chuyên trở chứng chỉ có nước nổi điên mà chết. Vài hớp wine cooler chưa đủ say nhưng hơi men và sức nóng làm Nụ chấp choáng. Phải gắng gượng lắm Nụ mới xuống hết được những bậc cầu thang thẳng và dốc. Tiếng dép lẹp xẹp kéo lê kèm theo đôi tay vung vẩy phản chiếu dưới mặt hồ đập vào mắt Nụ làm nàng tái tê. Cuộc đời mình có khác nào cái bóng di động kia? Bao tháng ngày đi về nơi này, gian phòng và khung cảnh tưởng như đã quá quen thuộc không ngờ chẳng còn là mái ấm từ khi cha mẹ về ở chung. Mọi dĩ vãng bị khơi quật dù bằng tình thương và sự diễn tả ngọt ngào của bà Cửu vẫn làm Nụ nhói đau.

– Sao hồi đó bu không bóp mũi để con chết cho rồi?

– Sư mày, nói thế mà nghe được à! Bóp mũi thì giờ đây đâu còn thấy mày nữa hở con khỉ.

– Giá bộ óc con người cũng tật nguyền theo chân tay thì đời con đỡ khổ biết bao, chẳng phải suy nghĩ, chẳng phải so sánh.

– Mày lại nghĩ vớ vẩn nữa đấy. Thôi thì ưng đám nào tao đi hỏi cho để rồi cứ ì ỏ mãi.

– Ưng đám nào? Bu nói chuyện trên mây, trong thế gian này có ai mà dám lấy con?

– Lấy Việt không được thì lấy Mỹ. Bà Cửu cười gượng gạo chống chế.

– Chồng Mỹ? Được vài ngày cũng bỏ còn không cũng là chỉ để bám vào tiền trợ cấp của con chứ thương yêu gì. Mà thôi, bu đừng nói đến chuyện đó nữa không thôi con nổi điên lên bây giờ.

Nụ muốn nổi điên thật. Con chó con mèo còn biết chuyện làm tình, còn mơ chuyện vợ chồng huống hồ gì là người. Nụ tật nguyền nhưng quả tim không tật, trái lại nó dễ dàng co thắt và dễ xúc động hơn mọi người. Trong đời Nụ đã yêu bao nhiêu người và đã sầu khổ vì bao nhiêu người? Nếu mười ngón tay không thể đếm xuể thì Nụ cũng chẳng còn đủ trí để mà nhớ. Chỉ biết rằng dẫu một ánh mắt nụ cười của bất cứ ai vừa mới gặp cũng có thể làm Nụ rúng động và dệt mộng thương yêu. Tình yêu Nụ trải rộng khắp nơi, khắp chốn, từ những chàng trai trẻ cho đến kẻ tật nguyền hoặc góa vợ nhưng chỉ là thứ tình một chiều. Chưa bao giờ Nụ dám thố lộ tâm tình mình cũng như chưa bao giờ dám mơ sẽ được làm vợ vì Nụ luôn cho rằng mình chỉ đáng để người ta thương hại. Nụ sợ cuộc sống gia đình bởi vì hôn nhân không được tạo bằng tình yêu sẽ chóng đi đến đổ vỡ. Cho nên trước mặt mọi người tuy tình cảm Nụ trông dửng dưng lạnh nhạt nhưng tự thâm tâm lại là những ngọn sóng. Nó có thể tràn dâng và tàn phá tất cả.

– Sao ngày xưa bu không chọc mù hai mắt của con?

Bà Cửu nhìn sững con, sợ đến nỗi mặt tái lại:

– Cái con hết khôn dồn đến dại, ai mà lại ăn nói như thế bao giờ? Giàu con mắt, khốn khó hai bàn tay…

– Khốn khó hai bàn tay và cả hai bàn chân nữa. Bu ơi sao bu đẻ con ra làm gì…?

Nụ muốn khóc lắm, khóc như hồi xưa vừa lọt lòng mẹ Nụ đã gào, đã hét to hơn mọi đứa trẻ để giành quyền sống.

– Có phải tại hồi xưa bu uống thuốc ngừa thai nên con mới bị tàn tật?

Bà Cửu lại giật mình. Cái con này rồi cũng làm khổ bà mất thôi. Bà nhà quê, nhà mùa làm gì biết cữ với ngừa.

– Còn không thì bu uống rượu. Đúng rồi, cả thầy cũng nghiện rượu nên con mới phải mang hình dạng này.

Nỗi đau khổ vỡ oà, Nụ ôm mặt khóc rưng rức. Nàng không cần biết bà Cửu đang há hốc miệng vì bị đổ oan vào người. Bây giờ bất cứ có ai để nàng có thể trút uất ức, tủi nhục và để gánh chịu phần nào trách nhiệm về những thiệt thòi là Nụ không ngần ngại đổ vào. Bà Cửu xót xa nhìn con:

– Đừng nói thế mà thầy mày buồn. Người ta bảo giàu con út mà khốn khó cũng con út. Thầy bu qua đây chẳng còn gì ngoài tình thương nên tất cả đã dồn hết cho con. Nụ, con phải hãnh diện vì nhờ con mà các anh chị đều lành lặn, nếu không có con, mọi sự bất hạnh này sẽ đổ sang những người đó. Gia đình nào chẳng có người như vậy. Âu cũng là có số cả.

Bà Cửu đang dùng tình cảm để lung lạc Nụ với những chấp nhận và chịu đựng.

– Cái số? Con không tin con người ta có số mệnh, cũng không tin vớ tin vẩn mỗi vì sao rụng là một sinh mạng vừa lìa đời. Con cũng không tin Trời phạt hay Chúa phạt. Vì nếu phạt thì phạt ngay kẻ có tội chứ còn con vừa mở mắt chào đời đã biết làm gì sai trái? Con nghĩ thầy bu phải có trách nhiệm với thân thể tật nguyền này và một phần tương lai của con.

Bà Cửu ôm mặt khóc ngất. Những lời trách móc buộc tội của Nụ như một án phạt phủ chụp xuống cuộc đời bà. Bà là người sinh ra Nụ, mang nặng đẻ đau, banh da xé thịt rồi bây giờ lại bị lời đay nghiến có khác nào đang cắt thẻo thêm tim gan bà.

– Đừng nói dại vậy tội cho bu lắm Nụ ơi. Cha mẹ nào chẳng thương con, chẳng mong cho nó lành lặn nên người. Con đâu biết rằng cái bất hạnh của bu còn to lớn gấp mười lần cái bất hạnh của con. Con đau một nhưng bu đau những mười, con thiệt thòi một nhưng bu thiệt thòi những trăm. Nụ ơi, nhìn xem nước mắt chảy xuôi cứ có bao giờ chảy ngược…

Bà Cửu ôm lấy con khóc lóc, dỗ dành, chia sẻ, an ủi. Nụ bé nhỏ, chấp nhận của ngày nào không còn nữa mà là những cay đắng, là chứng tích của lỗi lầm mơ hồ. Bà nghĩ con người ta ai chẳng lầm lỗi, có thể một sự vô tình nào đó để giờ này con bà phải gánh chịu. Tuy bất lực nhưng bà tự hứa với lương tâm của người mẹ, ngày nào bà còn sống thì bà phải có trách nhiệm tinh thần với Nụ…

Buổi trưa trời nắng, Nụ thất thểu đi dọc theo bờ cỏ mọc hai bên đường. Cuối Xuân hoa phượng nở đầy, loại phượng vàng với những lá nhỏ li ti thỉnh thoảng đuổi nhau trên cây kêu lào xào mỗi khi có cơn gió mạnh. Tự dưng Nụ thấy buồn, nỗi buồn có thể bắt nguồn từ sự vô cớ trách móc của ông Cửu. Giá Nụ có chồng thì ông đâu thể coi nàng như con nít mà cứ mãi chửi mắng. Giá Nụ có chồng… Nụ cười cay đắng. Ai dám lấy nàng? Lấy một con xấu xí, tật nguyền đã lỡ thời, không có cuộc sống vươn lên. Ai? Ai? Nụ hỏi lòng nhưng lại ai oán ngước mặt nhìn trời chờ đợi câu trả lời. Ánh nắng như cùng đồng lõa với màu hoa vàng sáng rực rỡ. Khung cảnh sao tươi đẹp quá, cỏ hoa sao dễ thương quá, gió cũng nhẹ nhàng mát dịu quá mà lòng Nụ lại sôi sục. Nụ muốn vung tay múa chân la hét quay cuồng như kẻ điên, kẻ bị phong giựt rồi nằm ngã vật xuống thẳng chân trợn mắt, rãi rớt xùi ra đầy mép để mọi người nhờm gớm sợ hãi, để cuộc sống rút ngắn lại, để trái tim không còn thoi thóp vì những cơn giật kinh hồn, để khối óc tê lịm đi sau cơn tàn phá của thể xác và những viên thuốc làm thần kinh êm dịu.

Tại sao Nụ không là con chó dại chạy rông để mọi người xúm lại đánh cho đến chết vì sợ cắn lây sang họ? Tại sao Nụ không là con rắn trườn rúc trong bụi rậm, trong bóng tối để đừng thấy ánh sáng mặt trời, để đừng nhìn thấy hạnh phúc của loài người? Tại sao Nụ không là con chim, con gà lành lặn chạy nhảy ríu rít trong bầy, cùng cất tiếng hót líu lo hoặc được nghe tiếng kêu yêu thương tỏ tình của chú chim trống? Tại sao Nụ không là con mèo hoang được lũ mèo đực tới kỳ kích thích gào gọi cả đêm mong được thỏa mãn thể xác?

Nếu Nụ là loài vật thì sẽ sung sướng biết bao, loài vật đâu có trí óc, đâu phân định được phải trái, đâu có mặc cảm, đâu sợ xấu hổ, đâu đòi điều kiện phải có nhà, có xe khi tạo dựng cuộc sống gia đình. Nếu Nụ là loài vật…? Nụ cười khan. Nếu là vật, Nụ xin được làm con khỉ vì chỉ có khỉ mới mang hình dáng loài người, chỉ có khỉ mới có đôi tay dài và đôi chân khập khễnh. Thầy ơi… Nụ gào lên trong tận cùng đau khổ và khóc rưng rức. Nàng ngã ngồi trên thảm cỏ xác xơ mặc cho nước mắt chạy quanh, mặc những người đi ngang nhìn ái ngại… Ba mươi bốn tuổi đầu… Ba mươi bốn năm đón nhận biết bao những tia mắt thương hại… Ba mươi bốn năm dại khờ phí bỏ. Bây giờ tôi phải làm gì đây để mọi người đừng khinh khi, để thầy tôi khỏi chửi rủa? Phải làm gì đây?

– Darling, what’s matter?

Nụ giật mình ngước lên thấy thằng manager đứng ở đó tự lúc nào. Cái thằng Mễ già người to lớn bụng phệ như khỉ dã nhân mà thường ngày gặp lúc nào cũng nhăn nhở cười. Nụ cười nàng vẫn cho là đĩ thõa dâm dật nhưng hôm nay cũng nụ cười đó, cũng khuôn mặt đó, trên lề cỏ ít người qua lại, giữa khung cảnh thiên nhiên gần đất gần trời, giữa một tâm hồn đang khủng hoảng tột độ và nhất là hơi men vẫn còn làm nàng ngầy ngật thì nụ cười có một sức mạnh vô hình đẩy nàng tới gần hắn hơn.

– Baby, tell me what’s going on?

Bộ môi dầy thâm xì to hơn hai con đỉa trâu tiếp tục nhúc nhích trông phát tởm nhưng lại thốt ra những lời thăm hỏi nồng nàn. Đôi mắt ti hí vẩn lên mầu dục vọng nhưng qua men say Nụ thấy có sức quyến rũ thu hút tận cùng. Người Nụ run lên, như hai luồng điện cao thế vừa chạm nhau, như ngấm ngầm chấp nhận thỏa ước mà bao tháng ngày nàng đã cố công chống chọi sự tán tỉnh nham nhở của nó. Nụ biết đàn ông tán gái có nhiều loại khác nhau. Tán vì thích chinh phục, vì yêu, vì muốn thỏa mãn tự ái, vì trả thù cũng có nhưng với thằng Mễ già này nó tán để đổi chác, như ông đi qua bà đi lại, như rồng rắn lên mây nắm đuôi nhau chạy nhông nhông, sướng mày thì cũng sướng tao. Có nghĩa là không hứa hẹn, không giao kèo, không trách nhiệm, không tiền bạc, thể xác cho không biếu không để tận hưởng một chút gì đó.

Đã nhiều lần thằng khốn tán Nụ sỗ sàng như thế. Nụ biết thằng dâm dật ló đuôi dê cho thật bự muốn bách chiến bách thắng chỉ vì Nụ xấu xí, chỉ vì Nụ tật nguyền và như lời ông Cửu vừa chửi là những đứa quen nàng toàn là thứ chẳng ra gì. Ông nói đúng, như thằng Mễ này chính vì nó không ra gì nên mới tán Nụ. Như mẹ nàng đã nói mày lấy Việt Nam không được thì lấy Mỹ cho rồi. Ba mươi bốn tuổi không người thương yêu thì Mỹ, Việt hay Mễ cũng thế. Đã không thương thì suốt đời không thương cần gì phải lôi Mỹ, Mễ vào làm gì cho nàng thêm nhục.

– Darling, get to my room. I’ll make you happy…

Không thấy Nụ lườm nguýt như thường ngày, thằng nham nhở sỗ sàng hơn.

– I’ll lick all your face… I’ll give you a big smile…

Mày thương tao thật hay dối vậy? Nụ ngước khuôn mặt rỗ chằng chịt lên nhìn nó thêm một lần nữa. Mày thương tao thật hay dối vậy? Có khinh bỉ mắng chửi như cha tao vừa chửi tao không? Cổ họng Nụ đặc nghẹn. Lời nói không thoát ra được nên tiếng khóc vỡ òa cũng vừa lúc thằng Mễ đưa tay kéo nàng đứng dậy.

– Khốn khổ thân mày. Nín đi… nín đi… đời có bao nhiêu ngày tháng mà buồn. Hãy vui lên, hãy tận hưởng những gì mình đang có. Đi theo tao baby… baby…

Thằng Mễ già vỗ về nhưng bốc hốt hơi kỹ. Bàn tay lông lá lỗ mãng của nó luồn cả vào trong áo Nụ thoa nắn. Thân thể con gái chưa một lần gần đàn ông cứ thế run bần bật. Đúng. Có còi cụt, có tật nguyền, có xấu xí cũng phải biết rung động. Trái tim còn đập là còn biết cảm giác. Bộ óc còn hoạt động là còn biết suy nghĩ những lời mắng chửi của cha nàng. Mày bảo mày nhiều bạn trai mà qua đây tao có thấy đứa nào đâu? Bạn trai… Bạn trai… Đây này, con sẽ dẫn thằng Mễ này vào nhà để cho thầy biết nó là thằng thứ nhất, thằng đầu tiên đi vào cơ thể con, đi vào cuộc đời buông thả của con. Từ bấy lâu nay con cố sống đẹp, sống tốt lành cho chính bản thân mình nhưng có ai thấy sự cố gắng của một đứa tật nguyền, của một đứa gái già lỡ thời hay chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của nó. Người đời chỉ muốn nhìn nước mắt của kẻ nghèo đói hơn là thấy nụ cười trước khi động lòng nhân. Người đời chỉ thương hại những kẻ bị ruồng rẫy hơn là những người được ưu đãi. Cha nàng chỉ nhìn thấy cái kém cỏi của Nụ hơn là sự chịu đựng của con mình.

– Đừng… đừng…

Nụ quờ quạng đôi tay dài quá thước tấc ra chống đỡ, che đậy nhưng lại là một hình thức mời gọi nồng nhiệt vì đôi mắt khao khát đờ đẫn của Nụ đã nói lên được điều đó.

– Theo tao về phòng mau lên baby…

Như cái máy, Nụ loạng choạng bước nhanh theo sức dìu của nó. Thằng này táo gan thật, dám dẫn gái về phòng giữa ban ngày ban nhật. Gan nhưng khôn vì ở tuổi Nụ đi thưa kiện bị dụ dỗ người ta còn cười vào mặt. Nếu bị hãm hiếp thì tại sao không la lên lại hấp tấp bước theo nó về phòng? La lên Nụ. La lên chắc chắn sẽ có nhiều người chạy ra vì chung quanh đây bao giờ cũng có những đôi mắt lấp ló sau cửa sổ. La lên chắc chắn nó sẽ phải thả mày ra. Đôi chân Nụ chợt nặng và kéo trì. Biết bàn tay mình chưa đủ kích thích đứa con gái, thằng Mễ đưa cả đôi môi dầy phà hơi đàn ông nồng nặc xuống sát gáy Nụ. Những sợi râu tua tủa chưa kịp cạo vô trật tự mọc suốt từ mang tai xuống tận dưới cằm đâm vào gáy làm Nụ nhột cong người.

– Darling. I’ll make you happy.

Thằng khốn, gần lúc toàn thắng rồi mà vẫn không rên lên được tiếng anh yêu em. Ngay lúc này Nụ thèm khát được nghe có người nói tiếng yêu mình… và ngay lúc này Nụ biết nàng đang muốn trở thành đàn bà, thành người lớn để tránh được đôi mắt khinh khi của cha nàng…

Từ hôm trở thành người lớn đến giờ Nụ không cằn nhằn gì về việc nấu nướng nữa. Để trở thành đàn bà không quá khó như Nụ nghĩ. Chỉ một vài phút giây, sau khi cái rung động của thể xác lắng dần thì bộ óc Nụ tự động làm việc để nhận thức đâu là đúng, đâu là sai, đâu là ê chề đâu là thất vọng. Như bà Ave ăn trái cấm thuở nào, Nụ đã đạt được tất cả những mơ ước để rồi khi nhận thức trái cấm không ngọt không thơm như mình nghĩ mà trái lại thấy thân thể trần truồng ô nhục. Nụ chấp nhận hậu quả việc mình làm nhưng có điều nằm trong vòng tay lông lá của người mình không yêu, không thương, không kính trọng, không tin tưởng mà chỉ vì muốn thỏa mãn một chút tự ái, muốn trả thù cha mẹ đã khinh bỉ miệt thị nàng thì có khác nào những con thú mà đã có lần Nụ nghĩ đến. Nhưng loài thú đâu biết mắc cở, lũ chó chạy nhông dính lẹo giữa đường bị đám con nít đánh cho hộc máu tháo tiết mà lần sau vẫn thế, vẫn đứng giữa đường và có tởn đâu. Nó không tởn bởi vì nó không nhớ đến cơn đau, nó không mặt chai mày đá. Lũ khỉ làm tình xong đưa tay lên mũi ngửi rồi khẹt khẹt cười trước mặt mọi người chứ nào trốn chui trốn nhủi trong bụi, trong xó, trong phòng như Nụ và thằng Mễ đã làm. Nếu Nụ không biết xấu, nếu thằng Mễ không sợ người ta xúm lại coi như con quái vật thì đâu đến nỗi nhìn trước nhìn sau rồi mới khóa chặt cửa lại.

– Darling, I’ll give you a baby today.

Thằng khốn quá điêu luyện. Nó làm Nụ háo hức chờ đợi quên cả sợ hãi. Cũng có thể con người Nụ dâm đãng xưa nay nhưng chưa có cơ hội bộc phát.

– Take time baby, don’t hurry.

Thằng khốn… Thằng khốn… Nước mắt Nụ trào ra nửa kích thích nửa tủi nhục. Cái giá nhục nhã phải trả là nằm trong vòng tay của người mình đã từng ghê tởm. Khôn ba năm dại một giờ. Nụ không dại một giờ mà trái lại nàng muốn có giờ đó. Một giờ đủ làm túi khôn trong nàng vỡ ra. Chính vì túi khôn vỡ ra nên Nụ mới biết nhục và giấu diếm. Biết nhục nên giấu diếm nhưng vẫn vụng trộm vì có ai ăn một lần mà nhịn luôn được. Nụ cũng chẳng đắn đo lựa chọn vì còn ai nữa để mà chọn? Từ buổi đó, cứ đúng giờ cơm là Nụ bỏ xuống nhà thằng Mễ để ngủ với nó và cũng để ăn. Ăn với thằng môi dầy dâm đãng thú vị hơn với cha mẹ mình bởi vì ông bà luôn hầm hừ với con gái. Cũng từ bữa đó Nụ không còn chú ý tới mùi vị đặc biệt trong nhà. Ngược lại hành động của Nụ làm ông bà buồn bực gấp bội vì nàng gỡ và cất hết những miếng màn treo trên cửa sổ nên ở ngoài nhìn vào là thấy thông suốt từ nhà trên xuống nhà dưới. Bộ ghế cũ được phủ vải kỹ càng và trong tủ quần áo Nụ mua thêm những túi nhựa có zipper treo hết vào đó kéo lại. Cửa sổ phòng bếp cũng luôn mở, ruồi muỗi được dịp bay vào vì không có cửa lưới. Thế là ở nhà chỉ còn lủi thủi hai ông bà già, hết ăn rồi lại nằm, hết nằm rồi lại ăn. Ông buồn tủi, bà thở than, đôi khi bực quá gọi Tâm trải bày tâm sự nhưng nàng chỉ ừ hử như chẳng muốn nghe.

Một buổi chiều Nụ hấp tấp chạy vào nhà và bằng giọng chững chạc nàng nhấn mạnh từng chữ một:

– Con đã ghi tên cho thầy bu gia nhập hội bô lão. Mỗi năm đóng có hơn trăm bạc tiền chuyên chở xe cộ, xăng dầu. Cơm trưa chính phủ đài thọ, thỉnh thoảng lại còn được lãnh bột, sữa, bơ.

Không hỏi nhưng ông bà cũng hiểu bô lão là dành cho những người già cả, mất sức lao động, sống bám nhờ vào xã hội, con cái. Ông gật gù cay đắng:

– Như vậy là đỡ tốn tiền ăn trưa ở đây. Thôi thì thầy bu cũng mừng, cất được gánh nặng cho mày lúc nào là tao yên tâm lúc nấy.

Nụ lắc đầu vờ ra dáng thiểu não, cái thiểu não khéo che đậy vì một khi vướng vào đường tình thì dễ khép hẳn tình thương.

– Thầy hiểu lầm ý con rồi. Không phải con phủi trách nhiệm để đưa thầy bu đến đó, sở dĩ…

– Khỏi cần phải giải thích quanh co, ông ngắt lời Nụ, tóm lại sáng xách gói đi, tối xách gói về để khỏi làm vướng mắt mày?

– Nếu thầy nghĩ như thế thì ngày mai con sẽ đến gạch tên thầy bu ra.

Tuy nói vậy nhưng hôm sau ông bà cũng ra ngõ chờ xe đến rước. Trong xe khá đông người, họ ở rải rác trên nhiều con đường gần đó. Vài câu thăm hỏi, vài câu xã giao thế mà chỉ một loáng ông đã nhớ tên hết một lượt.

Hội bô lão đúng là trung tâm thông tin nhanh chóng nhất, mới có hơn tuần lễ ông đã biết gia cảnh của mỗi người. Nào là ông Sáng có bốn thằng con trai giàu kếch xù, có tiệm tùng, nhà cửa, xe cộ mà không hề giúp đỡ cha mẹ già. Ông Tư đầu bạc có cô con gái tậu được căn “đúp lếch” ở gần nhà nhưng lại đi mướn “ờ pá tơ mân” cho ông ở xa. Lại cũng có kẻ quá quắt, bắt cha mẹ nuôi cả đàn cháu mà chẳng cho tiền ăn trầu hút thuốc… Ngược lại, trong những bô lão ấy cũng có người ung dung ra vào đủng đỉnh, thỉnh thoảng rít vài hơi thuốc lào bàn chuyện gẫu và cho rằng cuộc đời ấy thế mà thi vị… Ông lão tám mươi ngồi bên cạnh bà Cửu trong đám vòng tròn gần ba mươi người, hội khá đông nên chia thành nhiều phe nhóm, giai cấp nhưng đa số đều có tinh thần tương thân tương ái, chẳng là vì cũng gần đất xa trời, còn sức nào bon chen với thế sự nên thường thường mở đầu cho những câu chuyện chỉ xoay quanh vấn đề con cái, trộm đạo v.v…

– Bà có đứa con dâu nào chưa nhỉ? Ông lão quay lại gợi chuyện bà ngồi bên cạnh đang bỏm bẻm nhai trầu.

– Chẳng nói giấu gì cụ, “con” được một cháu.

– Thế thì cũng may vì bà chỉ có mỗi một “mẹ dâu”.

Mọi người cười ồ, ông lão vẫn thủng thẳng:

– Qua đây đảo lộn hết, chồng thành vợ, vợ thành chồng. Con dâu thành mẹ dâu, mẹ chồng thành nàng dâu. Bà khôn hồn thì ăn ở cho đẹp lòng nó còn có miếng cơm miếng cháo mà ăn. Tối đến bệnh hoạn nó còn thương tình gọi “em bu lân” chở vào nhà thương mà tuổi thọ tăng thêm được vài năm. Lộn xộn…

– Ôi, nói làm gì ngữ đó. Như tôi đây này…, một bà mập mạp xen vào, hôm mới qua Mỹ nó trốn mất mặt. Họ hàng ai cũng tới thăm hỏi còn con “nỡm” giả vờ nay ốm mai đau. Tôi giận gọi điện thoại chửi cho một trận, nào ngờ “nỡm” thâu băng mang ra tòa đòi bồi thường danh dự. Thứ “nỡm” làm gì có danh dự mà đòi với chẳng đòi nhưng luật pháp ở cái xứ khốn kiếp này lại bênh những hạng dơ dáng trơ truốc như thế. Rốt cuộc rồi cũng phải chịu thua nó. Mà danh dự của nó có là bao, một đồng thì cũng chỉ đủ mua nửa cục xà phòng tắm cho bớt nhục.

– Bà không phải trả tiền luật sư à? Một người tò mò hỏi.

– Vì trả nên mới tức.

– Rồi tiền đâu bà trả?

– Thì moi trong túi thằng chồng nó chứ ai. Thằng khốn không dám đưa trước mặt vợ, giấu giấu đút đút như ăn trộm nên tôi đâu thèm lấy. Năn nỉ tôi mãi không được nó đi nộp tiền tòa một mình. Thứ ấy mà về Việt Nam thì tôi banh thây xé xác chứ đừng tưởng qua đây rồi cứ quen thói úp rế lên trên nồi.

Câu chuyện bỗng dưng xoay qua mẹ chồng con dâu làm bà Cửu lúng túng khi nhiều người hỏi về gia cảnh bà:

– Bà đang ở với con dâu chứ?

– Không, cháu ở xa lắm bà ạ!

– Vậy chứ “mẹ dâu” của bà không gọi phôn hỏi thăm hay phán xét gì hết à?

Bà ú ớ, gọi thì có gọi nhưng lạt lẽo thế nào. Mỗi lần nghe tiếng Cảnh là bà bù lu bù loa khóc nửa mừng nửa tủi, chẳng những không vỗ về an ủi, Cảnh gạt phăng đi lại còn ngạo bà: “Làm gì bu phải khóc cho nhọc, mai mốt con về thăm thầy bu mà! Vài giờ bay chứ mấy.” Vài phút Cảnh còn không dám hy sinh nói chi đến vài giờ. Tuần lễ may ra nó gọi được một lần, trợn trạo mấy câu rồi vội vàng cúp.

– Vậy chứ dâu mới hay dâu cũ vậy bà?

Không thấy bà trả lời, một người ngồi đàng sau hỏi với lên. Bà quay lại nắm lấy tay kẻ đồng cảnh ngộ với mình.

– Chúng nó lấy nhau từ hồi bẩy mươi. Hăm mấy năm rồi còn gì.

– Nếu nó trở mặt láo lếu thì mình hãy tức còn không thì cứ lờ phéng đi cho xong tội, chẳng nhờ cậy gì được đâu bà ạ! Ngày xưa chồng nó cầm quyền thì mình mới được làm mẹ chứ còn bây giờ đã đổi đời thì cứ gọi nó là mẹ cho xong tội. Bà ta vừa nói vừa chép miệng chán nản cứ y như phong hóa suy đồi đã đến độ khiến mọi người tán tận lương tâm.

Bà Cửu tuy mang tiếng mẹ chồng nhưng với con dâu bà lại thương như con đẻ và đối với bà Cảnh cũng một lòng cung kính. Hồi còn ở với nhau, mẹ con chẳng bao giờ than trách đến một câu nhưng thời gian đã làm phôi phai tình nghĩa. Người ta bảo xa mặt chứ đâu xa lòng, còn Cảnh thì vừa xa đã vội cách vì một năm chỉ viết về vài lá thơ thăm hỏi. Có trách sao không viết thơ cho cậu Bảo, dì Vân, thím Quách, thím Bồng và họ hàng xa gần thì thư nào Cảnh cũng gom chung vào một lá, được người này thì mất người kia. Họ trách Cảnh chẳng biết kẻ trên người dưới, vậy chứ ai cũng bằng vai vế với những đứa cháu hay sao mà viết chung một giòng? Có lần bà dặn Cảnh phải viết thơ riêng thăm hỏi từng người nhưng chỉ được hơn năm rồi thì lờ luôn viện cớ càng viết thì càng bị bắt bẻ trách hờn. Cuối năm vào những dịp tết Cảnh dồn chục dồn trăm vào mà hỏi thăm báo hại bà phải đi từng nhà vừa đưa thơ vừa nghe những bà con trách cứ. “Ừ, thì dâu tôi như thế đó.” Bà buồn bã nhận bừa để khỏi phải nghe thêm tiếng chì tiếng bấc.

Tin tức khác...