Khi lẻ loi một mình vì xung quanh không có ai nên tự thân cảm thấy lẻ loi. Đó là cảm giác tôi cảm nhận được khi ngồi đợi xe đò ở vùng kinh tế mới. Thời ấy không mấy ai có cái đồng hồ đeo tay để biết mấy giờ, chỉ biết giấc sáng sớm khi mặt trời chưa mọc, những hôm sương mù bao phủ núi rừng nên tầm nhìn hạn chế càng cô độc vì cô quạnh. Cảm giác lẻ loi len lỏi vào tâm khảm hay từ trong tâm khảm lan toả ra núi rừng âm u, sự lẻ loi chiếm trọn tâm hồn người phố thị, sự bất lực hoàn toàn khi cứ phải ngồi đó đợi xe đò về Sài gòn. Khi có ánh đèn vàng mờ đục xuất hiện trong màn sương mù dầy đặc là mừng rỡ hôm nay có xe đò để về Sài gòn vì nhiều hôm ngồi đợi tới mặt trời mọc cũng không có xe vì xe hư xe hỏng gì đó, người ta không chạy. Thời quá độ xe xăng dầu trước hoà bình chuyển đổi thành xe than sau hoà bình vì thiếu xăng dầu thì không trách ai được. Tóm lại là muốn về Sài gòn thì phải đi ngủ sớm rồi giật mình tỉnh giấc cũng chả biết đã mấy giờ, lê thân ra lề đường ngủ ngồi đợi xe vì mỗi ngày chỉ có một chuyến, trễ xe là hôm sau đợi tiếp chứ không có cách khác. Còn lại gì với thời quá độ ấy ngoài cảm giác lẻ loi, cô độc ngay trên quê hương mình.
Đến thời đi dạy học ở vùng biển cũng vậy, mỗi hai giờ đêm có chuyến đò về thành phố. Nếu ngủ trong trường tới nghe tiếng còi tàu mới ra bến đò thì không kịp nên định ngày mai về Sài gòn thì tối nay đi chơi, đi nhậu tới xóm biển không còn ai thức thì ra cầu đò ngủ luôn cho kịp đò. Cảm giác lẻ loi ở cầu đò cũng không khác nơi núi rừng kinh tế mới, khác chăng nơi núi rừng âm u và nơi sông nước mênh mông chỉ là ngoại cảnh, tâm trạng không khác gì với sự cô lẻ trong tâm.
Nhưng qua Mỹ mới biết sự lẻ loi không bình thường với nơi hoang vắng như ở quê nhà. Một hôm cuối năm, đang làm thì tuyết rơi ngoài khung cửa nên ai muốn về sớm thì về. Tôi về với ý muốn ghé khu thương mại sầm uất gần nhà để mua quà giáng sinh cho hai đứa con nhỏ chứ không sợ tuyết làm bế tắc giao thông vì không đến nỗi bão tuyết như ở miền bắc. Lang thang một mình trong rừng người xa lạ một lát, tôi đứng nghỉ chân chỗ hai cái thang cuộn, nhìn hai dòng người một lên một xuống, người tay xách nách mang, người nói cười thoả thích… Người ta sao mà đông dữ vậy, nhưng cảm giác lẻ loi nơi núi rừng, nơi sông nước xa xưa hiện về bởi giữa rừng người tóc vàng, mắt xanh; hai dòng người lên xuống thang cuốn như những con sóng bất tận ở biển quê nhà… Đó là cảm giác lẻ loi của người xa xứ khi năm hết tết đến. Người ta rất đông nhưng không ai nói tiếng Việt, cái không khí náo nhiệt, ơi ới ở chợ Sài gòn những ngày giáp tết đâu ai thích hoà mình vào cuộc chín người mười ý ấy, nhưng khi lẻ loi ở hải ngoại lại chợt thèm nghe tiếng mời chào của người bán, tiếng trả giá của người mua; tiếng mấy đứa nhỏ xe kéo bắt khách cứ nhặng xị lên ồn ả tới nhức đầu nhưng trong lòng không cô độc, không có sự cô quạnh bên trong. Cố quên đi thoáng lòng hoài hương của người xa xứ, cuối cùng tôi cũng mua được cái máy nghe nhạc nhỏ nhỏ của người đi bộ thể dục thường dùng làm quà cho thằng lớn đợi xe bus học trò, mua được cái xe đua đồ chơi điện tử, dùng remote control cho thằng nhỏ làm quà giáng sinh. Không mua nên không trả lại được sự lẻ loi chỗ đông người ở Mỹ của người di dân khi năm cùng tháng tận.
Lẻ loi là một hiện tượng tâm lý hoàn toàn, nhưng tâm sinh lý trong con người lại không tách biệt ra được nên tâm lý vui thì sinh lý cơ thể cũng kháng kiện hơn người ủ rũ mãi thể lực cũng không tốt tới suy tàn. Trong đời sống tôi quan sát được cứ một cặp vợ chồng già, không cần biết ông hay bà đi trước, nhưng điều có thể biết trước được là người còn sẽ không sống lâu đâu, chỉ vài năm sau khi người phối ngẫu qua đời thì người còn ở lại cũng đi luôn vì lẻ loi. Điều tôi quan sát thấy nhưng không có bằng chứng vì không ghi chép lại những trường hợp cụ thể để chứng minh thì nay ngẫu nhiên như bằng chứng xác thực.
Hồi xưa tôi đi câu đập Texoma bên Oklahoma thường lắm vì muốn ăn cá stripers nướng hay nấu canh chua thơm thì lên đó mới có, hồ Lavon gần nhà chỉ có cá white bass chiên giòn cuốn bánh tráng thôi. Nhưng bây giờ ngại lái xe đường xa nên có người bạn câu còn trẻ ở gần nhà, thỉnh thoảng anh ấy chở tôi đi câu xa. Trên Lake Texoma thì nhiều bãi câu, tôi thích câu đập, nước cuồn cuộn mới có cá lớn, vui nhất là hàng người cần câu vác vai, tới lượt mình thì ném câu ngay trên đỉnh đập rồi từ từ dời xuống cuối đập cho người khác quăng câu. Luật bất thành văn nơi bãi câu nhưng ai không tuân thủ sẽ bị la ó, mọi người tẩy chay, có thể bị đập tại trận với những người đi câu nóng tính. Rất vui khi một người dính cá thì cả đập rần rần fish on, mọi người tránh đường cho người dính cá, gặp cá lớn quá thì giúp nhau vô điều kiện, không phân biệt màu da, tiếng nói… miễn bắt được con cá lên bờ, không phải của mình nhưng không biết sao trong lòng vẫn vui như mình câu được. Nhưng bạn tôi đây là đứa trẻ qua Mỹ hồi mấy tuổi, anh ta ngại đông người trên đập nên câu bãi vắng, thế là anh giới thiệu cho ông bà bạn của anh đã nhiều năm. Hai ông bà Mỹ trắng đã già nhưng họ mạnh khoẻ, vui vẻ và không hề kỳ thị. Nói tới kỳ thị thì đầu đen tôi có kinh nghiệm: Khi đi câu, nếu muốn câu chỗ đã có người câu thì nên hỏi họ trước, “tôi có thể câu ở đây với bạn được không?” Khi nào họ đồng ý thì hãy câu, đừng xồng xộc đến không chào đi không tạm biệt với cái vô văn hoá mặc áo tự do, dân chủ, hồ là nơi công cộng, ai muốn câu đâu thì câu, cớ gì phải xin phép? Người Mỹ họ ghét những kẻ bất lịch sự, gặp người Mỹ kỳ thị nhưng hiền thì họ lặng lẽ rời đi nơi khác, họ không cho phép họ đứng câu cùng người vô văn hoá chứ chẳng phải họ sợ mình đâu. Người không hiền sẽ để lại đôi lời, hay một biểu hiện kỳ thị vì ngoài hồ không có bằng chứng lời nói hay biểu hiện thì không sợ ra toà với tội kỳ thị. Gặp kẻ dữ thì họ chửi thẳng vào mặt người đến sau bất nhã rồi mới bỏ đi; kẻ dữ hơn nữa là đuổi người đến sau đi chỗ khác, văng tục chửi thề, sẵn sàng đánh lộn… Nhờ có kinh nghiệm nên tôi cũng qúy mến ông bà Mỹ trắng bạn của bạn tôi lắm. Ông tên Robert và bà tên Dayna, hai ông bà ra hồ mỗi ngày vì về hưu rồi thì làm gì cho hết thời gian, họ tung tăng bên nhau trong không khí trong lành, có lợi cho sức khoẻ là chính, câu cá là phụ. Ông câu cá rất chuyên nghiệp, người đam mê câu nên ông giàu kinh nghiệm, nhìn nước, nhìn gió mà ông đoán được bầy cá đang ở đâu, cá gì ông cũng biết luôn. Ông dạy chúng tôi nhiều kinh nghiệm qúy giá như xác định được bầy cá đang di chuyển hay tụ lại, nhưng còn tuỳ thời tiết, tùy sáng hay chiều hay đêm, trời đang mưa, trời muốn mưa, hay trời mới dứt mưa, trời nắng gắt hay nắng mây… phải câu mồi nổi hay mồi chìm, câu mồi thật hay mồi giả, mồi gì thì cá mới ăn. Còn bà thì đi chơi theo ông, bà cũng vui tính và tử tế, người yêu thiên nhiên nên bà hay nhặt rác ngoài bãi câu, chẳng bao giờ phiền hà người xả rác. Hai ông bà thích mấy anh em Việt nam chúng tôi vì chúng tôi hiền, không gấu ó với nhau, hoà nhã với mọi người, không uống bia rượu ngoài bãi câu rồi ném lon, vỏ chai bia lung tung… chúng tôi nấu mì gói, mì ly ngoài bãi câu, mời ông bà ăn chung cho vui. Hai ông bà tham gia nhiệt tình, nên còn mì gói, mì ly trên xe, chúng tôi cho hai ông bà đem về nhà ăn luôn vì họ thích. Rồi lần sau sang Oklahoma câu cá, chúng tôi mua sẵn cho ông bà cả thùng mì. Hai ông bà dễ thương, vui vẻ và tốt bụng lắm. Chúng tôi cũng có một trao đổi không thoả đáng chút nào với ông bà là một cá striper có giá trị bằng năm con cá catfish cùng trọng lượng, nhưng ông bà chỉ ăn catfish mà không ăn striper. Nên chúng tôi câu được catfish thì cho ông bà vì ông bà câu được cá striper thì cho chúng tôi, không kể mắc rẻ, lớn nhỏ, nhiều hay ít gì hết.
Hầu như lần nào tôi đi câu với bạn câu trẻ gần nhà cũng gặp ông bà vì tôi bây giờ thỉnh thoảng mới đi câu xa. Anh bạn trẻ những hôm ghiền câu thì ra làm là đi câu luôn, không về nhà nên không rủ tôi đi cùng được. Có hôm tôi đã đi ngủ thì anh mới về tới nhà tôi, gọi tôi mở cửa ra lấy cá striper của ông Robert gởi cho anh. Thương quá đi ông già Mỹ thích mì chua cay của Việt nam, bà vợ Dayna thích mì Hảo Hảo dễ ăn như há cảo, dumlings bà đã ăn ở nhà hàng Tàu, nhà hàng Việt… Nên tôi mua sẵn mì chua cay, ghi luôn bên ngoài thùng mì “tặng Mr. Robert, mua thùng mì Hảo Hảo đề tặng bà Dayna. Hễ tôi đi Oklahoma là có sẵn để mang theo tặng ông bà…
Nhưng đầu mùa câu năm nay, trời tháng ba còn lạnh, ngoài hồ lạnh hơn trong thành phố chừng mười tới mười lăm độ nữa tùy gió nên tôi cắm câu rồi vô xe ngồi, sợ bệnh. Xa xa, dáng người giống ông Robert nhưng sao không thấy bà vợ Dayna. Tôi nói người bạn trẻ, rồi chúng tôi ngưng câu, đến hỏi thăm ông. Rất buồn, bà Dayna đã được Chúa gọi hôm cuối năm nên giờ trên bãi câu mêng mông vắng hình bóng bà. Ông già Robert với cây cần câu bạc màu mưa nắng lẻ loi tới mủi lòng người quen biết ông bà. Hôm ấy, ông câu được striper nên đem đến cho chúng tôi, chúng tôi câu được catfish đem đến cho ông thì ông không lấy. Sự thật không ngờ là ông không ăn cá, bà ăn catfish chiên bột nên ông đem về nhà làm cho bà ăn chứ ông không ăn. Giờ bà không còn thì ông đem catfish về nhà làm gì nữa… Bỗng nỗi buồn xâm chiếm cả hồn tôi, nhớ những món bà xã không ăn nhưng vẫn làm cho tôi ăn, những món tôi cũng không ăn nhưng hai đứa con lại thích thì mẹ chúng vẫn làm cho chúng ăn; đàn ông giỏi cái miệng nói sống cho, sống vì người khác, nhưng đàn bà lại thường làm những việc không nói ra. Trong đàn ông nhiều như rác thải bây giờ không biết còn được mấy người như ông Robert?
Còn nhớ hôm ấy gặp ông, tôi cố nén xúc động trước tin buồn bà đã qua đời. Cố không tin cảm nhận về ông trông xuống sắc, già sọp hẳn đi so với nét già vui vẻ, khoẻ mạnh của ông trước đó. Hôm nay nghỉ lễ Chiến sĩ trận vong, tôi với anh bạn trẻ đi thăm ông Robert hơn là đi câu xa nhà. Chúng tôi dự định đến bãi câu không gặp ông thì đến nhà ông vì lần trước gặp ông đã cho chúng tôi địa chỉ nhà, ông còn dặn chúng tôi muốn câu qua đêm hay muốn nghỉ đêm để sáng câu sớm thì cứ nghé nhà ông ngủ qua đêm. Nhưng tờ mờ sáng ngày chiến sĩ trận vong, bóng ngưới trong sương mờ ngoài hồ không ai khác chính là ông Robert. Ông đứng thẳng người như đang làm lễ truy điệu, lễ tưởng niệm, hai tay khoanh trước ngực và nhìn ra sóng hồ lăn tăn trong buổi tờ mờ sáng sóng yên gió lặng… không có cây cần câu bên ông.
Không gian tĩnh lặng của buổi sớm ngoài hồ thêm u tịch thì phải vì trời nhiều mây đen dù dự báo thời tiết hôm nay không mưa nguyên ngày, tới tám giờ tối trời mới mưa giông, gió mạnh. Tôi nhìn ông không khỏi xót xa cho dáng vẻ tôi từng biết ông là ông già vui tính, mạnh khoẻ, bộ râu quai nón bạc trắng nhưng rất đẹp của ông thật xót xa như bông lau tháng mười xơ xác, lưa thưa, ông gầy đi nhiều và lão rõ với sống lưng khòm xuống. Ông không còn là ông già trong mơ ước của tôi khi mình già ước được như ông, nay ông là ông lão gần đất xa trời, râu tóc lưa thưa, xơ xác, đôi mắt lạc thần, giọng nói hết sang sảng như ông già Robert mà tôi từng quen biết…
Chia tay ông, trên đường về bạn tôi hỏi sao hôm nay anh không nói chuyện… Tôi nói nổi nữa sao khi tin tưởng vào những gì tôi đã quan sát thấy cả đời, vợ chồng già không cần biết ai đi trước thì người kia cũng đi theo mau chóng thôi vì cuộc sống đâu còn ý nghĩa gì nữa mà thiết tha. Tôi search điện thoại để đọc cho anh bạn trẻ nghe bài thơ “đôi dép”.
Bài thơ đầu anh viết tặng cho em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ
Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi, cùng nhau
Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh, nhục không đi cùng người khác
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia.
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu
Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Đôi dép vô tri khăng khít bước song hành
Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi.
Không thể thiếu nhau trên những bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải – trái
Như tôi yêu em ở những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung.
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.
Anh bạn trẻ rành tiếng Anh hơn tiếng Việt nhưng trong máu có chất nước mắm nên cảm thụ được bài thơ Việt ngữ, anh nói tôi gởi link cho em để về nhà cho vợ em đọc. Vợ chồng em lớn lên bên đây, học trường Mỹ nói tiếng Mỹ ăn fastfood, không biết về Việt nam nhiều… vợ em bây giờ còn đọc tiếng Việt giỏi hơn em vì có bà ngoại trò chuyện mỗi ngày, trong khi em một mình bao năm qua tới quên tiếng Việt luôn rồi, nhiều khi nói chuyện với anh em cứ phải dùng kèm tiếng Anh vì đâu nhớ tiếng Việt nói sao… Em cũng cố gắng nói tiếng Việt với con em, nhưng nói sai hơn cả tụi nó vì tụi nó nói tiếng Việt với bà ngoại nhiều hơn em.
Về ngồi nhà ngày nghỉ lễ nhưng trong lòng không quên đi hình ảnh ông Robert được, chiếc dép lẻ loi bên đời hiu quạnh lay lắt nắng mưa cũng tới ngày tan biến vào hư vô, nhưng ai lại đi cầu cho người khác sớm lên thiên đàng, nhất là người bạn mà mình thương mến. Nhưng linh cảm gặp ông lần này không có lần sau vì một cần thủ lão luyện lão làng như ông mà ra hồ không đem theo cần câu thì coi như rửa tay, gác kiếm rồi còn gì. Chỉ còn biết cầu nguyện cho ông còn sức khoẻ cho tới hôm cuối ông ra hồ tìm dấu chân bà trên cát…
Phan