Cũng kiếp con người

THƯA QUÝ BẠN, Tắt đèn là tác phẩm văn học tiêu biểu của nhà văn Ngô Tất Tố (đăng trên báo Việt nữ năm 1937) mang tính hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc.
Tác phẩm kể về nhân vật chính là chị Dậu. Trước khi lấy chồng, tên chị là Lê Thị Đào, một cô gái đẹp, giỏi giang, tháo vát và sinh ra trong một gia đình trung lưu. Theo tập quán ngoài Bắc ngày trước, con gái sau khi lấy chồng thì gọi theo tên chồng, chị Đào lấy anh Dậu nên mọi người gọi chị là chị Dậu.
Lúc đầu, gia cảnh anh chị Dậu cũng dư dả, nhưng vì liền lúc mẹ và em trai anh Dậu cùng qua đời, anh chị dù đã hết sức cần kiệm nhưng vẫn phải tiêu pha quá nhiều tiền cho hai đám tang. Chưa hết, sau khi đám ma cho em trai xong, anh Dậu bỗng mắc bệnh sốt rét, không làm gì được, mọi vất vả dồn lên vai chị Dậu, khiến gia cảnh trở thành bần cùng trong làng.
Mùa sưu đến – sưu là thuế thân, phái nam từ 18 tuổi trở lên mỗi năm phải nộp 2 đồng tiền thuế gọi là “sưu”, sau này là 3 đồng, ai không có thì bị cùm hai chân ngoài đình làng (trong Nam gọi là đóng trăng) bắt nhịn đói nhịn khát và bị cai lệ đánh đập cho đến lúc có tiền mới được thả. Chị Dậu thương chồng, chạy vạy khắp nơi vay tiền để nộp nhưng không kiếm đâu ra. Anh Dậu tuy đang ốm đau song vẫn bị bọn cai lệ lôi ra cùm chân ở đình làng. Cuối cùng, nếu để vậy suốt ngày đêm anh Dậu sẽ chết, bất đắc dĩ chị Dậu phải đem cái Tí, đứa con gái lớn 7 tuổi, xinh xắn, ngoan ngoãn và ổ chó mới đẻ được 4 con toàn chó huyền đề quý giá, đến bán cho vợ chồng lão địa chủ gian ác Nghị Quế để lấy 2 đồng nộp sưu cho chồng. Lão Nghị Quế khen chó đẹp và quý, sai người ở lấy cơm cho chó ăn. Chó lạ nhà, chỉ ăn sơ qua. Mụ “Nghị bà” bắt cái Tí phải ăn chỗ cơm thừa của chó. Nó ghê sợ quá, khóc, mụ vả vào mặt nó đôm đốp. Chị Dậu lòng đau như cắt, chị biết vì bước đường cùng, chị đã phải bán đứa con gái ngoan ngoãn hiếu thảo mới 7 tuổi đầu vào tay bọn địa chủ độc ác không phải con người. Đã vậy, lúc trả tiền, mụ Nghị Quế còn tham lam lén ăn gian của chị mấy xu. Chị đếm, mụ không cho đếm, mắng chị như tát nước là ai thèm ăn gian của mày làm gì mà phải đếm. Về nhà, chị phải vay mượn thêm mới đủ 2 đồng đóng sưu cho chồng.


Nhưng cái khốn nạn là đã nộp sưu cho anh Dậu xong, bọn hào lý trong làng lại bắt chị phải nộp cả tiền sưu cho người em trai đã chết của anh Dậu, với lý do là anh này chết trong năm “ta” tức năm âm lịch, nhưng kỳ đó lịch “tây” đi trước lịch “ta” một tháng, lúc lý trưởng làm sổ “sưu”, người em anh Dậu chưa chết nên vẫn phải đóng. Chị Dậu không có tiền đóng, anh Dậu vẫn bị cùm ngoài đình không được về nhà.
Nửa đêm, anh Dậu sắp chết, bọn chúng sợ lôi thôi, gọi chị Dậu ra đem anh về. Được bà con lối xóm đánh gió, xoa nước gừng và rượu nóng, anh dần tỉnh lại. Một bà lão hàng xóm tốt bụng cho chị bát gạo, đem nấu cháo để anh ăn cho lại sức. Nhưng chị vừa kề bát cháo vào miệng chồng thì bọn cai lệ và thằng người nhà lão lý trưởng ập vào bắt phải nộp sưu. Chị Dậu ra sức van xin không được, uất ức quá bèn vớ lấy chiếc đòn gánh đánh cả bọn cai lệ lẫn thằng người nhà lão lý trưởng.
Phạm tội đánh người nhà nước, chị bị bắt giải lên quan. Tên quan huyện lại là kẻ dâm ô, cho chị vài xu để sàm sỡ chị. Chị bèn ném mớ tiền xu đó vào mặt hắn rồi vùng bỏ chạy.
Sau đó, chị may mắn gặp một người nhà quan cố trên tỉnh. Người này thấy chị mới sinh, sữa ướt cả áo, bèn cho chị 2 đồng để nộp nốt tiền sưu và hứa cho chị công việc vắt sữa để quan cố uống (do quan cố đã ngoài 90 tuổi, rụng hết răng không ăn được cơm). Chị bèn về bàn với anh Dậu, cho cái Tỉu làm con nuôi nhà hàng xóm rồi lên tỉnh làm việc.
Thời gian đầu, chị làm được tiền và gửi về cho anh Dậu. Nhưng dần dần, thấy chị tốt tươi, bộ ngực nở nang, quan cố mặc dầu đã ngoài 90 tuổi nhưng nổi lòng dâm, đòi chị phải vạch áo cho cụ…bú sữa trực tiếp chứ không cho vắt vào bát để cụ uống như trước nữa. Chị rất ngượng nhưng vì miếng cơm manh áo của cả gia đình nên đành phải nghe lời. Rồi một đêm, cụ cố mò vào buồng chị, định dở trò đồi bại với chị, chị mở cửa bỏ chạy, và tác phẩm bỏ lửng, kết thúc ở đấy với câu: “Chị Dậu vùng chạy ra ngoài giữa lúc trời tối đen như mực, đen như cái tiền đồ của chị vậy!…”.
Cách đây khá lâu, những tác phẩm lớn như Chí Phèo của Nam Cao, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt Đèn của Ngô Tất Tố… được Đài truyền hình Hà Nội làm thành phim, các diễn viên đóng rất giỏi nên những nhân vật như Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ, Chị Dậu… trở thành các nhân vật tiêu biểu gần như có thật ngoài đời. Một phụ nữ nào đó chỉ cần nói “khổ như chị Dậu” là người ta biết người phụ nữ đó khổ như thế nào. Nhà văn lão thành Ngô Tất Tố (1894-1954) viết tác phẩm nay từ năm 1937, đến nay đã 80 năm qua rồi vậy mà bây giờ chúng ta thấy có những người còn khổ như chị Dậu hoặc hơn chị Dậu. Xin mời quý bạn xem qua cho biết…

Người đàn bà cực khổ còn hơn “chị Dậu”
Ăn đòn từ tay mẹ chồng như cơm bữa
Ít ai biết rằng ở ngay phía sau chợ Long Biên (phường Phúc Xá, quận Long Biên, Hà Nội) tồn tại một khu nhà trọ lụp xụp, ẩm thấp, là nơi cư ngụ của hàng trăm người lao động nghèo khó. Họ là dân tứ xứ đổ về đây, làm đủ mọi nghề để mưu sinh, từ xe ôm, nhặt phế liệu, đến rửa bát đĩa thuê… Men theo mương nước đen ngòm đang bốc mùi hôi thối, các phóng viên mới tìm gặp đuợc bà Nguyễn Thị Phải (sinh năm 1943, quê ở Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Ở cái xóm trọ nghèo nàn này, chăng ai lạ gì bà Phải, bởi cuộc đời của người phụ nữ ấy cơ cực có lẽ còn hơn “chị Dậu”.
Mới được 2 tuổi cô bé Phải đã mồ côi cả cha lẫn mẹ và sống với người anh trai đã lập gia đình. Cũng trong năm đó, chẳng biết vì lý do gì, cô bé bị hỏng một mắt bên phải. Năm 20 tuổi, người chị dâu bắt cô lấy chồng. Tuy nhiên, chỗ cô ưng ý thì không cho lấy mà lại ép cô lấy cậu em họ của chị ta với lý do thầm kín là gia đình cậu này đang cần người làm mọi công việc. Cậu này kém cô Phải 1 tuổi, trước đó đã từng có 2 đời vợ nhưng chưa có con. Sở dĩ cả hai người vợ này chỉ được ít lâu là bỏ đi vì bà mẹ chồng quá cay nghiệt trong khi người chồng lại quá nhu nhược, mẹ muốn chửi rủa, đánh đập vợ mình thế nào thì đánh chửi, không dám nói lấy một lời.
Những tưởng cô Phải yên thân sau khi lấy chồng, thoát được người chị dâu bủn xỉn, keo kiệt. Những không ngờ, đó lại là sự mở đầu cho hàng loạt tấn bi kịch của cuộc đời cô. Suốt 9 năm trời làm dâu, cô đã phải sống trong cay đắng, tủi nhục, chịu không biết bao nhiêu là lời chửi mắng, đòn vọt từ phía mẹ chồng.
Cô kể: “Quãng thời gian ấy, tôi muộn màng không có thai nghén gì cả nên bị mẹ chồng suốt ngày chửi bới, rủa xả là thứ “cây khô không lộc, gái độc không con”. Rồi bỗng nhiên tôi có thai. Chửa tới tháng thứ 5 mà vẫn bị mẹ chồng mắng nhiếc: “Ngữ ấy thì đẻ đái ra cái gì, có mà đẻ ra con mèo con chuột’’.
Năm 1978, cô Phải đẻ con gái, đặt tên là Sinh, nhà chồng lại hất hủi vì cô không ‘’nặn’’ ra thằng con trai mà lại sinh ra cái thứ “vịt giời”. Biết thân biết phận, cô không dám nghỉ ngơi, mới sinh vài ngày đã phải lừa con ngú để dọn dẹp rồi khỏe hơn chút nữa thì đi làm đồng. Vậy mà đi làm về, mẹ chồng vẫn chửi: “Việc nhà bừa bừa ra, con lại khóc ra rả, bỏ mặc đấy trốn ra ngoài đồng cho sướng thân!”.
Bà Phải thở dài: “Năm ấy, sau khi cấy lúa xong, tôi vào làng kiếm xin ít dây mướp đắng (trong Nam gọi là gọi là khổ qua) để nấu nước tắm cho con cho đỡ rôm sảy nên về hơi muộn. Vừa mới bước chân vào tới cổng đã bị mẹ chồng chửi là trốn việc đi chơi, rồi bà vơ lấy gậy đánh tôi, đuổi đi không cho vào trong nhà nữa. Đêm hôm ấy bất đắc dĩ tôi phải nhịn đói, ra nhà kho của hợp tác xã nông nghiệp ngủ nhờ. Gần nửa đêm, lẻn về nhà đón con thì mẹ chồng đã khóa chặt cổng không cho vào”.
Hai tháng sau, bé Sinh bị sài đẹn mưng mủ rất hôi tanh. Đến lúc này nhà chồng mới cho gọi bà Phải về để đuổi cả hai mẹ con đi. Cùng đường, bà Phải thất thểu đem con lên nông trường quốc doanh trồng chè (trà) ở Thái Nguyên xin việc làm. Cứ hết giờ, bà tranh thủ đi mót chè công nhân bỏ sót, về sao lên, tổng cộng được 4 kg, đem xuống Hà Nội định bán lấy tiền chữa bệnh cho con. Nhưng trên chuyến xe lửa về ga Hàng Cỏ (nay gọi là ga Hà Nội), bà bị kẻ gian lấy trộm mất cả bịch chè lẫn tiền bạc.
Trắng tay, bà bế con lang thang giữa đất Hà Nội không một đồng xu dính túi. Ban ngày, bà địu con trên lưng, chầu chực ở các quán cơm xin ăn, buổi tối lại về nhà ga Hàng Cỏ kiếm góc nào đó chưa bị dân vô gia cư chiếm mất mà dỗ con ngủ.
Đuợc người ta mách là ra chợ Đồng Xuân xin gánh nước mướn, bà Phải nghe theo, tới chợ Đồng Xuân. Nhưng thân hình bà nhỏ bé, lưng lại địu đứa con chốc lở nên chẳng ai muốn mướn. Nhiều hôm, đói bụng, bé Sinh khóc ra rả, bà Phải đến các cửa hàng ăn uống xin rửa bát giùm để lấy cơm thừa bón cho con, con ăn xong thì bà ăn, cũng đỡ.
Mãi sau này, một ngươi phụ nữ thương tình, đồng ý nhận bà gánh nước mướn cho cửa hàng nhà mình. Khi nào không gánh nước, bà nhờ người bán hàng ở chợ Đồng Xuân trông chừng giùm con để đi mò cua bắt ốc rồi về chia lại cho họ.

Bôn ba khắp 10 tỉnh thành để tìm con
Cuộc đời bà Phải vẫn tiếp tục chìm nổi. Tai họa bỗng nhiên lại ập đến khi con gái bà bị bắt cóc. Bà Phải nhớ lại: “Năm 1981, con tôi 3 tuổi nhưng bé như cái dãi khoai. Uống thuốc Tây liều cao trị sài đẹn nhiều quá nên mãi cháu chẳng biết đi. Nhưng cháu hiền lắm, đặt đâu ngồi đó, cho gì ăn nấy. Hôm ấy tôi đi mò ốc, nhờ nguời ở chợ trông con giùm. Đến khi về chẳng thấy con đâu mới biết là con đã bị bắt cóc. Trời đất như sụp đổ trước mắt tôi. Cuộc đời tôi chỉ có mình nó nên giờ biết làm sao. Thương tôi, cả chợ Đổng Xuân chia nhau đi tìm giùm các ngả nhưng chẳng thấy. Họ còn gom góp tiền cho tôi lên đường đi tìm con. Suốt 3 tháng trời tôi lang thang khắp 10 tỉnh phía Bắc. Lúc thì ở cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), khi lên cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn), có lúc lại lặn lội vào tận những bản làng vùng cao ở tỉnh Hòa Bình’’.
Bà Phải cứ lang thang như thế với đôi mắt kèm nhèm và mảnh giấy thông hành được công an xác nhận là đang đi tìm con. Có lần, trời mùa đông rét mướt, bà chỉ có trên người một manh áo mỏng nên ngất xỉu ở bến phà Tân Đệ (Nam Định đi Thái Bình). Được người ta phát hiện kịp thời nên bà mới có cơ may sống sót để tiếp tục đi tìm con gái.
Sau hơn 3 tháng rong ruổi, bà bất ngờ tìm được bé Sinh tại Bắc Ninh vào chiều ngày 29 Tết. Người bắt cóc con gái bà là một cặp vợ chồng mù vẫn thường dắt díu nhau lên chợ Đồng Xuân ăn xin. Nhân lúc không ai để ý, họ bế con gái bà Phải đi với ý định mang bán cho bọn mẹ mìn bán sang Trung Quốc nhưng mù nên chưa tìm được mối.
Bà kể: “Trông thấy tôi, con bé ôm chặt lấy cổ khóc nức nở đòi về. Tôi cũng chẳng trách mắng gì vợ chồng họ, chỉ muốn đem con về Hà Nội thật nhanh. Biết tin tôi tìm được con, cả chợ Đồng Xuân đến chia vui. Họ còn cho tôi tiền để đổi nghề, không đi mò cua bắt ốc nữa mà bán khoai để vừa trông nom con vừa có thu nhập, tránh trường hợp con lại bị bắt cóc như lần trước’’.
Thế nhưng cuộc đời bà Phải là chuỗi bi kịch kéo dài. Trong một lần đi mua khoai mang về bán, bà bị ngã gãy chân trái, không co duỗi được nên không thể làm được việc gì nặng nhọc. Cô bé Sinh phải đi ở đợ cho nhà người ta để kiếm cơm ăn. Cũng từ đấy bà chuyển sang nhặt phế liệu cho đến bây giờ.

33 năm sau trở về quê mới biết mình… ở trên bàn thờ !
Sau 33 năm tha hương, năm 2010 bà Phải quyết định về thăm quê mặc dầu trong lòng bà vẫn còn rất uất ức. Nhưng vì hàng xóm khuyến khích, con gái nay cũng đã có gia đình riêng nên bà đành gạt thù hận sang một bên để dẫn con gái, con rể về Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên. Về đến nơi bà mới biết anh trai đã khuất bóng từ lâu, chỉ còn chị dâu nay đã gần 80 tuổi. Tất cả người thân đều ngạc nhiên, giật mình nghĩ bà Phải là hồn ma trở về. Bởi vì chẳng ai tin rằng bà vẫn còn sống sau chừng ấy năm trời. Hay tin bà còn sống bằng xương bằng thịt, dân trong làng kéo đến hỏi thăm, chuyện trò hàn huyên rất đông.
Bà nói: “Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất chính là trên bàn thờ có bát hương thờ mẹ con tôi suốt bao năm qua. Mấy đứa cháu bảo không làm giỗ nhưng vẫn thắp hương đều đặn. Lúc này chúng nói sẽ mang bát hương ném xuống sông, nhưng tôi cản lại, bảo đời người ai cũng có lúc chết, chết trước hay chết sau đâu có gì quan trọng. Vấn đề là tôi đã phải sống một cuộc sống bất hạnh còn hơn cả chết”.
Ở chơi với các cháu 3 ngày xong tôi và các con mới sang quê chồng, mục đích là để chuyển hộ khẩu chứ trong lòng vẫn còn giận lắm. Chồng tôi hãy còn sống, ông ấy đã lấy vợ khác và sinh được 3 đứa con. Nhìn thấy tôi đi vào, ông ta rất kinh ngạc và bảo: “Ngày ấy tự bà bỏ đi chứ tôi đâu có đuổi’’. Bà Phải chua chát nói: “Nghe mà cay đắng!’’.
Hiện tại bà Phải đã trở về Hà Nội và tiếp tục công việc nhặt phế liệu. Bà dậy từ 1 giờ sáng và trở về nhà vào lúc 12 giờ trưa để phân loại rồi đem đến bán cho đại lý. Bà bảo phải đi từ còn đêm như thế kẻo người khác nhặt hết.
Bà Phải đã già, sức khỏe cũng kém lắm rồi, một mắt bị hỏng, mắt còn lại cũng mờ đi nhiều. Chân trái bà tập tễnh do di chứng của trận ngã năm xưa khiến bà đi lại gặp không ít khó khăn. Ngày nào giỏi lắm bà cũng chỉ kiếm được vài ba chục ngàn để trang trải cuộc sống và trả tiền thuê chỗ trọ. Con gái bà là chị Sinh lấy chồng ở Bắc Giang, nhưng do hoàn cảnh khó khăn cũng phải lên Hà Nội ở cùng mẹ để kiếm việc làm. Ngoài việc hàng ngày đi gánh hàng mướn ở chợ Long Biên, chị còn đi rửa bát cho cửa hàng phở để kiếm tiền nuôi 2 đứa con còn đang ăn đi học.
Sống đến tuổi này, bà Phải bảo chả có để ăn ngon mặc đẹp mà chỉ cầu mong con gái đừng gặp cảnh bất hạnh như bà. Tuy nhiên, nhìn chỗ trọ lụp xụp, nhìn dáng gầy ốm của chị Sinh gánh đôi quang gánh bước đi liêu xiêu trong buổi chiều tắt nắng, người ta không hiểu sự cầu mong của bà Phải có thể trở thành sự thực hay không.

Tự thiêu vì bố quá khắc nghiệt
Dân chúng khu vực phường Trần Lãm, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình, đang xôn xao về việc một nam thanh niên 29 tuổi tự thiêu trong đêm 28-7-2017 sau nhiều lần năn nỉ bố cho cưới người yêu nhưng ông bố khắc nghiệt nhất định cấm đoán vì một lý do không hề quan trọng.

Cuộc sống thiếu thốn tình cảm của chàng trai xấu số
Nhà ông Trần Văn Ngọ nằm trên đường Hoàng Văn Thái, tổ dân phố 14, phường Trần Lãm, TP Thái Bình, còn bị ám khói sau sự việc đau lòng gây chấn động cả vùng. Bên ngoàí nhà ngổn ngang vật liệu xây dựng, phía trong là đồ đạc lộn xộn, xếp đặt không theo một trật tự nào.
Ông Trần Văn Ngọ năm nay 64 tuổi, nét mặt khắc khổ và mái tóc đã bạc, nhập ngũ năm 1979, đóng quân ở đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh). Sau khi được xuất ngũ, 26 tuổi, Ngọ về quê làm ăn và lập gia đình.
Ông có 3 lần lấy vợ tất cả. Bà vợ đầu, sau nhiều năm chung sống không có con, ông bỏ, lấy bà thứ hai và sinh được hai cậu con trai: Trần Đức Thắng (sinh năm 1988) và Trần Đức Chính (sinh năm 1990). Bà con lối xóm đều nói ông Ngọ rất siêng năng, chăm chỉ nhưng khó tính, không thích giao thiệp với ai và hay gắt gỏng, hay đánh chửi vợ kể cả khi vợ vừa mới sinh xong. Hai anh em Thắng và Chính lớn lên cũng thường bị đòn vô cớ với những cái bạt tai như trời giáng cua bố.
Theo những người thân của gia đình cho biết thì khi hai người con này còn nhỏ, bà thứ hai tức mẹ của họ chẳng may qua đời về bệnh ung thư. Bố nóng tính, tàn nhẫn, có mẹ che chở còn đỡ, mẹ mất đi, hai anh em mồ côi từ ấu thơ nên họ thương yêu nhau, săn sóc lẫn nhau, khi có lỗi thì che giấu cho nhau vì sợ bị cha đánh.
Học hết cấp 3, cậu em tên Chính bỏ nhà sang sống tại nhà người bác là bà Trần Thị Sính, chị ruột của ông Ngọ. Bà Sính không có chồng con, sống một mình, thương hai cháu mồ côi mẹ từ lúc còn nhỏ, hay bị bố đánh nên rất quý cháu, coi như con ruột.
Cậu anh trai tên Trần Đức Thắng thấy em sang ở với bác cũng lẳng lặng xếp quần áo sang nhà bác, rồi hai anh em xin vào làm công nhân trong khu công nghiệp Thái Bình để có đồng lương lo phụ với bác. Ông Ngọ sống một mình cũng gần nhà chị nhưng mặc kệ, không cần quan tâm tới hai đứa con, lúc nào chúng cần về nhà lấy giấy tờ gì thì về chứ ông không một lần đến nhà chị gái xem các con ra sao.
Làm công nhân kiếm sống trong khu công nghiệp được một thời gian, hai anh em phải đi nghĩa vụ quân sự. Ra quân, họ rủ nhau đi học lái xe rồi cùng chạy xe tải thuê. Nhắc đến anh, giọng Chính đau đớn dường như vẫn chưa hết bàng hoàng trước sự ra đi quá đột ngột của anh trai. Cậu kể rằng nghề tài xế giờ giấc rất lung tung, đêm hôm họ gọi giờ nào là đi giờ nấy, sợ bác không ngủ được nên cậu thuê nhà trọ ở phía trước, Thắng cũng chuyển sang ở với em.
Chính kể tiếp là dù bố con không hợp tính nhau đến độ không thể sống chung dưới một mái nhà nhưng anh Thắng vẫn thương bố, hễ có dịp là lựa lời khuyên bố bố xem có tìm được người nào thì lấy về sống cho đỡ cô độc, “con chăm cha không bằng bà chăm ông”, lúc khỏe mạnh đã đành, lúc đau yếu mới thấy cần có người bầu bạn. Chả biết có nghe lời con hay không nhưng cuối năm 2014, ông Ngọ đón bà Quý, một phụ nữ cùng quê đã lớn tuổi lỡ thì về làm vợ.
Bà Quý là người nhân đức, dù không phải mẹ ruột nhưng rất quan tâm đến hai con riêng của chồng. Bà luôn luôn khuyên chồng cho con về sống chung nhưng ông Ngọ không cho về.
Đầu năm 2017 vừa rồi, cậu anh có ý định lập gia đình với một cô gái bằng tuổi ở huyện Đông Hưng cùng tỉnh Thái Bình. Hai người đã tính đến tương lai xa nên Thắng khuyên người yêu đi bán đồ may mặc cậu lấy mối từ trong công ty. Thắng nghĩ, người yêu buôn bán cho quen, đám cưới xong, khi vợ sinh con thì Thắng thôi không lái xe trong công ty nữa mà mua một chiếc xe tải nhỏ để đi bỏ mối cho các khách hàng ở tỉnh.
Đáng lẽ Thắng đã cưới vợ từ mấy tháng trước nhưng trong thời gian đó, cậu em tên Chính cũng có người yêu, đang lâm thế kẹt do ‘’ăn cơm trước kẻng’’, người yêu đã có bầu hơn 2 tháng, nên anh em bàn tính với nhau, Thắng nhường cho em làm đám cưới trước.

Cha không dự đám cưới con út và trì hoãn đám cưới của con cả
Chính và người yêu tổ chức đám cưới vào tháng 6/2017 vừa rồi. Con gặp cảnh phải làm đám cưới gấp nhưng ông Ngọ không thông cảm. Ông nói: “Chúng mày muốn cưới thì cứ tự lo lấy, tao không bằng lòng”. Rồi ông không cho cưới ở nhà ông, vậy là phải tổ chức ở nhà bác Sính. Ông không tham dự mà cũng cấm bà Quý không được dự. Ông còn canh chừng không cho vợ ra khỏi nhà. Bà Quý phải rình mãi mới lén sang được một lúc chứ không dám ở lại ăn uống gì cả.
Đám cưới của cậu em vừa xong thì người anh tên Thắng bàn với người yêu định cưới vào tháng 8 âm lịch, tức tháng 9 dương lịch sắp tới. Cậu đã nói với bố song ông Ngọ nhất định không bằng lòng, chỉ vì lý do duy nhất là thằng em “mất dạy” đã cưới vợ trong năm 2017, thằng anh phải đợi đấy đã, không được cưới cùng một năm kẻo người ta sẽ chửi vào mặt là ngu, không biết kiêng cữ. Mà ông cũng không cho biết bao giờ ông cho phép Thắng làm đám cưới, trong khi đó Thắng và người yêu của Thắng đã 29 tuổi, chờ thêm ít lâu nữa sẽ là 30. Ở ngoài Bắc, con gái 30 tuổi mới lập gia đình người ta bảo là “gái già”, phía nhà gái rất sốt ruột, không muốn kiêng cữ gì hết.
Thắng bèn nhờ mấy ông bạn đồng ngũ với bố ngày trước đến chơi nói chuyện giùm. Ông Ngọ gạt phắt: “Các ông đến chơi, nếu nói chuyện khác thì ngồi lại, còn nếu là chuyện thằng Thắng lấy vợ thì uống nước xong xin mời đi về, chuyện nhà tôi để tôi lo, không liên quan gì đến các ông’’. Vậy là mấy ông bạn đứng dậy ra về, không nói năng gì được.
Thế rồi không hiểu sao ông Ngọ lại đồng ý cho làm đám hỏi vào ngày mồng 8 tháng 6 âm lịch (tháng nhuận) tức 30 tháng 7 dường lịch và sẽ làm đám cưới vào tháng 9 dương lịch như Thắng với người yêu đã bàn tính. Phía nhà gái bên huyện Đông Hưng mừng lắm, gia đình vốn khá giả, họ chuẩn bị lễ ăn hỏi của con gái, sẽ mời bà con họ hàng đến chung vui rất đàng hoàng.
Nhưng không hiêu sao ông Ngọ lại giở quẻ. Trước lễ hỏi hai ngày, tối 6 tháng 6 âm lịch tức 28 tháng 7 dương lịch, tự nhiên ông gọi Thắng sang, nói là lễ hỏi phải hoãn lại vì hôm ấy ông mắc bận không đi được mà bà Quý cũng không đi được vì bữa đó mới là Thứ Sáu, bà mắc may gia công ở trong công ty.
Thắng kinh hoảng, đã hứa hẹn với bên nhà gái rồi, người ta đã chuẩn bị, mời họ hàng rồi, bây giờ tự nhiên xin hoãn sao được, mặt mũi nào mà làm như thế. Năn nỉ, giải thích thế nào ông Ngọ cũng không xuy xuyển. Bà Quý nói giúp cũng không được. Thắng tức phát khóc. Hai bố con tranh cãi với nhau. Cuối cùng, ông Ngọ nói chắc như đinh đóng cột: “Không có cưới hỏi gì nữa, mày muốn làm gì thì làm, tao không cần biết ”.
Thắng biết không thể thuyết phục được bố nên buồn quá bỏ đi. Bà mẹ kế thương tình gọi lại: “Thôi kệ, ông ấy không đi thì để dì nghỉ một bữa đi thay cũng được…”, nhưng ông Ngọ bịt chặt miệng bà, đóng cửa lại không cho nói tiếp.
Thắng lang thang như người mất hồn, ra ngoài quán uống mấy ly rượu rồi về nhà trọ lấy bình xăng – làm nghề tài xế thì thường có sẵn xăng để phòng hờ khi cần thiết – đem ra chỗ cổng nhà ông Ngọ, xối lên người mình và bật quẹt đốt. Lúc ấy là 9 giở 30 tối 28/7/2017.
Hàng xóm gọi nhau inh ỏi chữa cháy. Ở trong nhà, bà Quý thấy lửa sáng rực, mùi xăng sực nức thì tự nhiên có linh cảm là Thắng tự tử nên kêu la cầu cứu, nhưng ông Ngọ đóng chặt cửa không cho bà ra ngoài: “Mặc kệ nó, nó muốn chết cứ để nó chết”.
Sau cái chết của cậu con trai lớn 29 tuổi, ông Ngọ bị công an mời ra cơ quan lấy lời khai nhưng không xác định được ông có tội gì nên lại phải thả. Những người khó tính thì luôn luôn kín tiếng. Chẳng ai biết ông có chút ân hận nào không nhưng khi đọc những dòng chữ cuối cùng của Thắng trên Facebook, bạn bè của cậu nhiều người rất thương cảm: “Hôm nay là một ngày vui. Lần đầu tiên mình được biết đến đôi nhẫn đính hôn. Mình sẽ trao cho nàng hôm làm đám hỏi và sau đám cưới tụi mình sẽ sống hạnh phúc với nhau suốt đời’’. Cái hạnh phúc ấy đã bị ông bố hủy diệt một cách tàn nhẫn mà ông vẫn là kẻ vô tội ngay cả đối với lương tâm ông.

Đoàn Dự

Tin tức khác...