Án lệ về vụ người đàn ông ngoại quốc tranh chấp tài sản với vợ khi ly dị
Vụ tranh chấp khi ly dị, chia tài sản giữa nguyên đơn là ông Even với bà Ngọc và anh chị em ruột của người vợ – bên có quyền và nghĩa vụ liên quan, là một trong 10 án lệ được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao công bố cuối năm 2025. Các án lệ này chính thức được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử ở Việt Nam kể từ ngày 01/2/2026.
Nội dung án lệ giải quyết tình huống một bên vợ hoặc chồng là người nước ngoài. Hai người đã khai đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới. Trước khi họ đăng ký kết hôn, người vợ đứng tên ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận. (Tại Việt Nam, chuyển nhượng đất có nghĩa là mua hay bán đất).
Sau đó, bà để anh, chị ruột đứng tên một số thửa đất mà không có sự đồng ý hay ủy quyền của chồng. Trong khi đó, bên chuyển nhượng xác nhận khi mua bán đã viết giấy bán cho cả hai vợ chồng. Vấn đề đặt ra là xác định tài sản này là chung hay riêng khi phát sinh tranh chấp?
Ông Even và bà Ngọc kết hôn tháng 8/2013 tại Bình Định. Tháng 11/2016, ông Even nộp đơn ly hôn, không yêu cầu giải quyết con chung, nợ chung; đề nghị chia đôi căn nhà cấp 3 diện tích gần 174 m2 và 1.888 m2 đất tại tỉnh Bình Thuận.
Theo ông Even, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng nhận chuyển nhượng nhiều thửa đất tổng diện tích 1.888 m2 cùng căn nhà trên đất, trị giá khoảng 1,63 tỷ đồng, toàn bộ do ông bỏ tiền mua. Do là người nước ngoài, không được đứng tên quyền sử dụng đất, ông để vợ đứng tên thay. Tuy nhiên, một số thửa đất lại do chị gái và anh trai của bà Ngọc đứng tên mà ông không hề hay biết hay ủy quyền.
Người vợ không đồng ý, cho rằng nhà, đất là tài sản riêng của bà và người thân; tiền mua do gia đình bà bỏ ra. Chị và anh trai bà cũng khẳng định phần đất đứng tên mình là tài sản riêng của họ.
Hai cấp tòa tuyên trái ngược nhau
Hồi tháng 11/2017, TAND tỉnh Bình Thuận xử sơ thẩm, công nhận thuận tình ly hôn. Tòa xác định khối tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân gồm 1.888 m2 đất theo 5 giấy chứng nhận do UBND huyện cấp và căn nhà gần 174 m2, tổng giá trị hơn 3,1 tỷ đồng. Cho rằng công sức hai bên ngang nhau, tòa chia đôi. Song, do ông Even là người nước ngoài không được đứng tên sở hữu nhà đất nên giao toàn bộ nhà đất cho Ngọc sở hữu, buộc bà thanh toán cho Even hơn 1,55 tỷ đồng.
Không đồng ý, bà Ngọc cùng anh, chị kháng cáo; Even cũng đề nghị định giá lại tài sản.
Tháng 3/2019, TAND Cấp cao tại TP HCM xử phúc thẩm, sửa án sơ thẩm. Tòa xác định tài sản chung chỉ gồm hai thửa đất tổng diện tích hơn 1.000 m2 và căn nhà gần 174 m2, tổng giá trị tạm tính hơn 1,83 tỷ đồng. Phần còn lại thuộc sở hữu của chị gái và anh trai. Đồng thời, tòa phúc thẩm chia cho Even hưởng 30% giá trị quyền sử dụng đất và 20% giá trị căn nhà được xác định là tài sản chung, tương ứng 427 triệu đồng.
Tòa tiếp tục giao toàn bộ nhà đất cho bà Ngọc quản lý, sử dụng và buộc bà thanh toán cho chồng số tiền trên. Phần còn lại khoảng 1,41 tỷ đồng thuộc bà Ngọc, việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ và giá trị tài sản tại thời điểm thi hành án.
Hai bản án đều bị hủy
Tháng 5/2019, ông Even đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Tháng 11/2021, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị, đề nghị hủy bản án phúc thẩm và phân chia tài sản của án sơ thẩm để xét xử lại.
Đầu năm 2022, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao giám đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy cả hai bản án.
Theo TAND Tối cao, cấp sơ thẩm xác định các thửa đất là tài sản chung của ông Even và bà Ngọc có căn cứ, nhưng chưa xem xét tính hợp pháp của 2 giấy chứng nhận đứng tên chị gái và anh trai bà Ngọc nên chưa giải quyết triệt để.
Vì vậy, theo Hội đồng Thẩm phán, có cơ sở xác định thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng. TAND Tối cao cho rằng cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của ông Even và bà Ngọc là có căn cứ; trong khi cấp phúc thẩm xác định là tài sản riêng của Ngọc là không đúng.
TAND Tối cao cũng xác định, tòa cấp phúc thẩm chia quyền sử dụng đất theo tỷ lệ bà Ngọc hưởng 70%, ông Even 30% là “không phù hợp nguyên tắc chia tài sản chung theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014”; trong khi việc sơ thẩm chia đôi giá trị đất là có cơ sở.
Với căn nhà, tòa phúc thẩm cho ông Even hưởng 20% do bà Ngọc trực tiếp xây dựng là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm không định giá lại tài sản theo yêu cầu của Even, dù có chứng thư thẩm định mới xác định giá trị quyền sử dụng đất khoảng 3,8 tỷ đồng (chênh gần 1,9 tỷ đồng so với trước đó), là chưa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Từ đó, TAND Tối cao giao hồ sơ cho TAND tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm lại phần xác định và phân chia tài sản chung theo quy định.
Ranh giới xác định giữa tội lừa đảo và tội trộm cắp qua việc giải quyết một vụ án nho nhỏ
Khoảng 22h ngày 19/2/2021, Chun (quốc tịch Nam Hàn) đi bộ đến một quán bar ở thành phố Đà Nẵng thì gặp ông Kang, một đồng hương, đang nói chuyện với bạn trước cửa. Chun chào ông Kang, song hai người không quen nhau.
Nhìn vào quán, Chun thấy chị Bích, bạn ngồi cùng bàn với ông Kang, đang nói chuyện với nhóm bạn. Chun đi đến, nói và ra hiệu lấy túi xách cho ông Kang. Chị Bích tưởng nhầm là bạn của ông Kang nên đưa.
Trong túi có tiền mặt và một chiếc điện thoại, được định giá tổng hơn 11 triệu đồng. Chun tiêu hết số tiền mặt, còn điện thoại do không mở được mật khẩu đã cho một người xe ôm không quen biết.
Vậy trong trường hợp này, Chun phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hay Trộm cắp tài sản?
Đây là vụ án vừa được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao lựa chọn là một trong 10 án lệ của năm 2025. Án lệ đã làm rõ cách phân biệt hai tội danh trong các tình huống tương tự.
Bất đồng quan điểm về tội danh
Với nội dung hành vi nêu trên, VKSND TP Đà Nẵng truy tố Chun về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự năm 2015.
Song trong thời gian chuẩn bị xét xử, TAND TP Đà Nẵng xét thấy hành vi của Chun cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tòa trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung để VKSND TP Đà Nẵng truy tố lại Chun về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Song VKS quyết định giữ nguyên cáo trạng và tội danh.
Tháng 9/2021, tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Đà Nẵng tuyên bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, án 12 tháng tù.
Ngay sau đó, Viện trưởng VKSND TP Đà Nẵng có Quyết định kháng nghị với nhận định: Hành vi của bị cáo Chun là phạm tội Trộm cắp tài sản, nhưng toà sơ thẩm lại xét xử tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là không đúng.
Do đó, VKS đề nghị TAND cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên phạt Chun phạm tội Trộm cắp tài sản và giữ nguyên mức hình phạt.
Bị cáo cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Phán quyết của tòa phúc thẩm
Tại phiên phúc thẩm diễn ra tháng 12 cùng năm, HĐXX phân tích, lời khai của ông Kang cho thấy khi ra khỏi quán bar để nói chuyện với bạn thì để túi tại bàn và không giao cho ai ngồi cùng quản lý.
Lời khai này phù hợp với lời khai của chị Bích vì thế giao cho Chun do nhầm là bạn của ông Kang.
Lời khai của những người cùng bàn ăn uống với ông Kang cũng thể hiện ông không giao cho ai quản lý. Do đó, theo tòa, họ không phải là người quản lý hợp pháp túi xách của ông Kang.
Bị cáo Chun đưa ra những thông tin gian dối và công khai chiếm đoạt như: hỏi “cái bóp và điện thoại của ông người Hàn Quốc đâu” và khi chị Bích hỏi lại có phải cái túi xách của ông Kang không thì bị cáo ra hiệu đúng, làm cho chị tin tưởng.
Toà đánh giá đây là thủ đoạn thể hiện ý định chiếm đoạt của bị cáo. Khi chị Bích giao túi xách thì chủ tài sản là ông Kang không biết mình bị lừa dối nên hành vi của Chun không phải Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Những kiểu kiếm tiền lạ đời ở Việt Nam
Chun chiếm đoạt một cách lén lút với người chủ sở hữu là ông Kang nên đây là hành vi trộm cắp.
Tuy, tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, chuyển tội danh và xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, nhưng theo lý lịch tư pháp do Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc cung cấp, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi chiếm đoạt tài sản.
Sau khi đánh giá tổng thể vụ án, Tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo 12 tháng tù là có căn cứ và đã chiếu cố, do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Án tù 12 tháng được giữ nguyên. Sau khi chấp hành xong hình phạt, Chun bị buộc trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Giấu bệnh, khách hàng mất tiền bảo hiểm 5,5 tỷ đồng
Nội dung vụ án xoay quanh trường hợp ông Bảo qua đời vì ung thư giai đoạn cuối. Dù có tiền sử điều trị bệnh hiểm nghèo tại nhiều bệnh viện, ông Bảo đã kê khai không trung thực trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm để được ký hợp đồng.
Vụ kiện được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Theo hồ sơ vụ án, giữa năm 2014, ông Bảo mua ba hợp đồng bảo hiểm với Tổng Công ty V, tổng giá trị 5,5 tỷ đồng, phí bảo hiểm mỗi năm 130 triệu đồng. Người được bảo hiểm là ông Bảo, người thụ hưởng gồm mẹ ruột, vợ và con gái.
Tháng 3/2015, ông Bảo qua đời. Do Tổng Công ty V không đồng ý chi trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng, mẹ, vợ và con gái ông đã khởi kiện, yêu cầu được nhận 5,5 tỷ đồng.
Tại tòa, bị đơn trình bày rằng trước khi mua bảo hiểm, ông Bảo mắc bệnh Carcinom (ung thư biểu mô) di căn và Carcinom thần kinh nội tiết nhưng đã khai báo gian dối, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, thuộc trường hợp không được bồi thường bảo hiểm. Do đó, Tổng Công ty V không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tháng 9/2017, TAND TP Thủ Dầu Một ra phán quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Tổng Công ty V chi trả tiền bảo hiểm theo ba hợp đồng đã ký.
Doanh nghiệp bảo hiểm kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm tháng 3/2018, TAND tỉnh Bình Dương sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường của người thân ông Bảo.
Quyết định này đồng nghĩa mẹ, vợ và con gái người quá cố không được chi trả 5,5 tỷ đồng. Sau đó, họ đề nghị xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tòa: Khách hàng gian dối, công ty bảo hiểm không phải bồi thường
Tại phiên giám đốc thẩm tháng 8/2023, tòa phân tích rằng theo các giấy yêu cầu bảo hiểm của ông Bảo, tại mục hỏi và trả lời về tình trạng sức khỏe cá nhân, ông đều đánh dấu “x” vào toàn bộ ô trả lời “Không”. Trong đó có các câu hỏi về khối u (lành tính hoặc ác tính), ung thư; việc khám bệnh, xét nghiệm trong vòng một năm; tình trạng đang mắc hoặc đang điều trị bệnh lý.
Sau khi xác lập giấy yêu cầu bảo hiểm, Tổng Công ty V cho ông Bảo kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa tư nhân Bình Dương.
Theo kết quả kiểm tra, ông Bảo là người trực tiếp cung cấp thông tin sức khỏe. Đối với câu hỏi: “Đã từng phải nằm viện điều trị chưa? Khi nào? Lý do? Đợt nằm viện dài nhất là bao lâu? Điều trị nội khoa hay ngoại khoa?”, ông đều đánh dấu “x” vào ô trả lời “Không” và cam kết thông tin cung cấp hoàn toàn đầy đủ, đúng sự thật.
Tuy nhiên, các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện trước đó ông Bảo từng xét nghiệm, khám sức khỏe và điều trị tại nhiều bệnh viện. Cụ thể, ông được chẩn đoán mắc Carcinom kém biệt hóa di căn hạch; từng sang Singapore điều trị sáu chu kỳ; được xác định di căn hạch toàn thân.
Bệnh viện Ung Bướu TP HCM cung cấp hồ sơ bệnh án cho thấy trong các năm 2013 và 2014, ông Bảo nhiều lần khám, xét nghiệm với các chẩn đoán như hạch ác tính di căn, Carcinom kém biệt hóa, di căn hạch, các tổn thương ác tính ở tụy, gan, quanh bó mạch thận.
Ngày 11/3/2015, ông Bảo nhập Bệnh viện Đa khoa Vạn Phúc trong tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi, ung thư tụy di căn gan, thận giai đoạn cuối, sau đó được chuyển cấp cứu đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương.
Cùng ngày, ông được cấp cứu và nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương trong tình trạng trụy tim mạch, suy hô hấp, viêm phổi, ung thư tụy di căn gan, thận giai đoạn cuối. Ngày 12/3/2015, ông qua đời. Nguyên nhân tử vong được ghi trong giấy chứng tử là chết do bệnh.
Bệnh viện Ung Bướu TP HCM xác định ông Bảo bị ung thư biểu mô di căn nhiều nơi, dạng ung thư có mức độ ác tính cao, tình trạng bệnh khi phát hiện đã ở giai đoạn cuối.
Từ đó, tòa có đủ cơ sở khẳng định trước khi mua bảo hiểm vào các tháng 6 và 7/2014, ông Bảo biết rõ tình trạng bệnh tật của mình, từng điều trị tại nhiều bệnh viện trong và ngoài nước nhưng không khai báo trung thực.
Tại thời điểm xác lập yêu cầu bảo hiểm và ký hợp đồng, ông Bảo đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM (từ 13/5 đến 19/8/2014) với chẩn đoán ung thư hạch thần kinh nội tiết.
Theo quy định tại hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực mọi thông tin liên quan đến người được bảo hiểm và hợp đồng. Việc doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành kiểm tra sức khỏe (nếu có) không thay thế nghĩa vụ này.
Tòa dẫn Điều 18 và Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, xác định ông Bảo đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo hợp đồng và theo luật. Việc TAND cấp sơ thẩm cho rằng không có căn cứ xác định ông Bảo khai báo gian dối là chưa phù hợp; nhận định của tòa phúc thẩm là có cơ sở.
Từ đó, hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, Tổng Công ty V không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm đối với rủi ro đã phát sinh. TAND Tối cao xác định đây là hành vi cố ý che giấu thông tin quan trọng, doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm cho người thân ông Bảo.
Tranh chấp tờ vé số chủ tặng trúng độc đắc
Vụ kiện được TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm. Theo hồ sơ, chiều 7/1/2021, trong lúc các công nhân đang làm việc, ông Tân, chủ cơ sở sản xuất bàn ghế inox, đã mua một số tờ vé số tặng công nhân tại xưởng. Ông nói nếu trúng thưởng sẽ chia đều cho những công nhân có mặt trong ngày hôm đó, trước sự chứng kiến của nhiều người.
Chiều cùng ngày, khi dò kết quả, bà Dung biết tờ vé số mình được ông chủ tặng đã trúng giải đặc biệt, tổng giá trị 2 tỷ đồng. Sau khi trừ thuế thu nhập cá nhân 10%, số tiền thực lãnh là 1,8 tỷ đồng.
Sau khi xác định đúng tờ vé số trúng thưởng, ông Tân cất vé số vào túi áo rồi dặn bà Dung “không la lối om sòm” để ông đi lĩnh dùm. Ông hứa đến chiều 28 Tết, khi xưởng nghỉ làm, sẽ chia tiền cho công nhân vì nếu chia ngay thì mọi người sẽ nghỉ việc.
Tin tưởng lời ông chủ, bà Dung không yêu cầu trả lại tờ vé số. Tuy nhiên, thực tế ông Tân chỉ cho các công nhân tiền Tết mà không thực hiện việc chia tiền trúng vé số.
Sau khi trừ số tiền thưởng Tết 183 triệu đồng đã phát cho 18 công nhân, ông Tân giữ lại hơn 1,6 tỷ đồng. Bà Dung và một số công nhân sau đó khởi kiện, yêu cầu chia đều số tiền này, tương ứng mỗi người nhận 85 triệu đồng.
Ông Tân cho rằng tờ vé số là của mình, do không có điện thoại thông minh để truy cập Internet nên đưa cho bà Dung dò kết quả dùm, không có việc tặng cho hay hứa hẹn chia thưởng. Sau khi biết trúng số, bà Dung đã mang vé số trả lại cho ông. Ngày hôm sau, ông lãnh tiền. Khi cho công nhân nghỉ Tết Nguyên đán, ông đã phát tiền thưởng Tết, và không ai thắc mắc việc chia tiền trúng vé số. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.
Tòa sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của 18 công nhân, buộc ông Tân chia tiền trúng số nhưng xác định ông chỉ có quyền định đoạt một nửa tờ vé số. Sau khi chia đều cho 19 phần, tòa buộc ông Tân trả cho mỗi công nhân 42,5 triệu đồng.
Cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, xác định ông Tân có quyền định đoạt 100% tờ vé số và không cần sự đồng ý của vợ. Do đó, mỗi nguyên đơn được nhận 85 triệu đồng.
Bản án phúc thẩm sau đó bị Viện trưởng VKSND cấp cao tại TP HCM kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, cho rằng ông Tân chỉ có quyền với 50% giá trị tờ vé số, một nửa còn lại thuộc về vợ ông.
Tháng 8/2023, TAND Cấp cao tại TP HCM xét xử giám đốc thẩm và xác định, dù giao dịch giữa ông Tân và bà Dung là hợp đồng tặng cho tài sản hay hợp đồng gửi giữ tài sản (Điều 559 Bộ luật Dân sự), pháp luật cũng không bắt buộc phải lập thành văn bản. Việc giao kết bằng lời nói không vi phạm quy định về hình thức.
Do không có tài liệu, chứng cứ trực tiếp, tòa án căn cứ các chứng cứ khác để làm rõ sự thật khách quan. Hội đồng xét xử xác định sau khi trúng số, ông Tân đã thay đổi, di dời vị trí camera tại xưởng; không trực tiếp đi lãnh tiền mà giao cho người khác; đồng thời có lời khai mâu thuẫn về địa điểm lãnh tiền.
Bên cạnh đó, việc thưởng Tết cho công nhân cao hơn nhiều so với các năm trước và việc ông đồng ý trả thêm 200 triệu đồng tại phiên tòa sơ thẩm được đánh giá là “không bình thường”.
Tòa án nhận định có đủ cơ sở xác định ông Tân đã tặng vé số cho công nhân và đặt điều kiện nếu trúng thưởng thì chia đều. Tại thời điểm tặng, mệnh giá tờ vé số chỉ 10.000 đồng, là tài sản có giá trị nhỏ, không đáng kể so với chi tiêu hằng ngày, nên ông Tân có quyền tự ý định đoạt mà không cần sự đồng ý của vợ.
Bản án phúc thẩm sau đó bị Viện trưởng VKSND Cấp cao tại TP HCM kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm với quan điểm, ông Tân chỉ có quyền với 50% tờ vé số, một nửa còn lại phải là của vợ ông.
Đoàn Dự