Chuyện sinh đẻ thời đại dịch

Đại dịch Covid-19 đã đẩy cả thế giới vào một cuộc suy trầm kinh tế và làm ảnh hưởng tới công ăn việc làm cũng như sinh hoạt xã hội của mọi người như chưa từng có trước đó. Lúc đầu, có người đã ví cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng giống như một trận bão tuyết vậy, và hãy thử tưởng tượng, trong hoàn cảnh đó thì mọi người sẽ phải ở nhà, vợ chồng sẽ có nhiều thì giờ gần gũi, âu yếm nhau hơn. Và do đó cứ suy ra một cách đơn giản thì tỷ lệ sinh đẻ chắc là phải gia tăng mạnh, và các em bé nối tiếp các em bé ra đời, góp tiếng nói, tiếng cười, tiếng khóc cùng với nhân gian chứ.

Thế nhưng, sau một năm đại dịch, điều thực tế lại trái ngược hẳn: Sự gián đoạn nghiêm trọng của trận đại dịch đối với cuộc sống của con người đã gây ra tình trạng giảm bớt sinh đẻ ở khắp nơi – và có thể nói là với một con số cao đáng ngại. Với xu hướng tỷ lệ sinh đẻ giảm sút đều đặn trong suốt một thập niên qua và nay tình trạng này lại còn giảm mạnh hơn nữa thì ta có thể thấy trước những hậu quả không tốt đối với nền kinh tế và đối với xã hội trong những năm tới. Một điều không may là tình trạng suy giảm đó không dễ gì sửa đổi trong một sớm một chiều.

Một cuộc nghiên cứu hồi năm ngoái cho thấy riêng tại Hoa Kỳ, đại dịch Covid đã làm giảm tỷ lệ sinh đẻ ở Mỹ xuống khoảng 8%, so với tỷ lệ được dự kiến nếu không có đại dịch, đưa đến kết quả là số trẻ em sinh ra trong năm 2021 sẽ ít hơn 300,000 so với dự kiến trước đó. Con số được dự đoán này chủ yếu là dựa trên yếu tố kinh tế thực sự làm ảnh hưởng đến quyết định của người ta về việc có nên sinh con hay không và khi nào thì sinh con.

Một cuộc khảo sát do nhóm nghiên cứu Osservatorio Giovani của Ý thực hiện từ cuối tháng Ba đến đầu tháng Tư tại năm quốc gia lớn nhất Tây Âu – Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Anh – cho thấy hơn hai phần ba số người được hỏi ban đầu dự định sinh con trong năm 2020 nhưng đã quyết định hoãn lại hoặc huỷ bỏ kế hoạch thụ thai trong suốt một năm tới.

Tại Hoa Kỳ, một cuộc khảo sát của Viện Guttmacher, một tổ chức nghiên cứu, cho thấy khoảng một phần ba phụ nữ được thăm dò ý kiến vào cuối tháng Tư và đầu tháng Năm muốn trì hoãn việc sinh con hoặc sinh ít con hơn với lý do là vì đại dịch.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra cho thấy tỷ lệ sinh đẻ thường lên xuống theo tình trạng kinh tế của quốc gia. Khi thị trường việc làm yếu, tỷ lệ sinh đẻ nói chung giảm; khi thị trường việc làm được cải thiện, tỷ lệ sinh đẻ vì thế cũng tăng cao hơn. Ở cấp độ cá nhân, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy có một mối liên hệ giữa những thay đổi trong lợi tức gia đình và việc sinh con: Khi lợi tức gia đình tăng, số thành viên trong gia đình tăng theo; khi người ta bị mất việc làm hoặc mất lợi tức, người ta sẽ bớt sinh con.

Bằng chứng được ghi nhận gần đây nhất là sau thời kỳ kinh tế suy trầm năm 2008. Những tiểu bang có tỷ lệ thất nghiệp tăng cao hơn thì tỷ lệ sinh đẻ cũng giảm đi nhiều hơn; tỷ lệ thất nghiệp tăng cứ mỗi một phần trăm thì sau đó tỷ lệ sinh đẻ cũng sẽ giảm đi một phần trăm. Các thống kê cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng khoảng 5.5 phần trăm trong khoảng thời gian một năm sau khi đại dịch bắt đầu. Nếu chỉ tính riêng từ ảnh hưởng của tình trạng thất nghiệp nói trên thì ta cũng có thể suy ra tỷ lệ sinh đẻ ở Mỹ sẽ giảm 5.5 phần trăm do đại dịch Covid.

Lẽ tất nhiên, trận đại dịch lần này không chỉ gây ra suy trầm kinh tế mà còn ảnh hưởng đến nhiều thứ khác nữa. Trong đó yếu tố sức khỏe cộng đồng cũng có khả năng khiến một số cặp vợ chồng lo ngại và quyết định trì hoãn hoặc tránh sinh con.

Trường học đóng cửa, giới hạn việc tụ tập đông người và lệnh giữ khoảng cách xã hội cũng có thể có ảnh hưởng. Nhiều triệu phụ huynh đang phải đối diện với áp lực trong cuộc sống vì ôm đồm thêm nhiều trách nhiệm, ngoài công việc làm còn phải trông nom và dạy dỗ con cái vì trong thời gian qua những đứa trẻ này không được cắp sách tới trường mà phải học ở nhà. Điều này khiến cho việc nuôi con trở nên nặng nhọc hơn và nhiều người không muốn có thêm con là điều dễ hiểu.

Các số liệu gần đây xác nhận khả năng số trẻ em sinh ra trong thời gian tới sẽ giảm sụt khá nhiều. Một số cuộc khảo sát được thực hiện hồi hè năm ngoái hé lộ cho thấy nhiều cặp vợ chồng đã cố tình trì hoãn dự tính mang thai và sinh con của họ, và sinh hoạt chăn gối cũng kém hẳn đi. Các cuộc tìm kiếm trên Google liên quan đến mang thai, chẳng hạn như thử thai, đã sụt giảm. Những dự định mang thai và có con có lẽ đã bị đình chỉ từ ngay khi trận đại dịch xuất hiện vào tháng Ba năm 2020 và do đó số trẻ em sinh ra vào tháng 12 năm 2020 đã giảm thấp hơn nhiều so với bình thường. Có lẽ phải mất nhiều tháng nữa thì người ta mới có được số liệu chính thức về sinh đẻ từ Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, nhưng hiện đã có một số tiểu bang cho công bố số liệu sinh đẻ tạm thời. Trong tháng Giêng năm 2021, tháng đầu tiên mà các em bé được sinh ra khi các bà mẹ mang thai sau khi biện pháp đóng cửa bắt đầu được thực hiện trên toàn quốc, số em bé được sinh ra đã giảm 7.2 phần trăm tại Florida và 10.5 phần trăm tại California.

Một số trường hợp giảm sinh đẻ này có thể là tạm thời. Những cặp vợ chồng hoãn sinh con trong năm 2020 có thể sẽ sinh con trong tương lai, và một số em bé chưa kịp sinh ra trong năm đại dịch thì rồi sẽ được sinh ra sau này. Nhưng có nhiều khả năng những điều đó sẽ không xảy ra. Cuộc khủng hoảng càng kéo dài và càng dai dẳng, và tổn thất về lợi tức gia đình do nó gây ra càng sâu đậm và liên tục, thì có nhiều khả năng là những em bé đã không có cơ hội được sinh ra trong thời gian đại dịch sẽ vĩnh viễn không được sinh ra.

Điều này sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội. Một số phụ nữ và các cặp vợ chồng sẽ có ít con hơn là họ từng hy vọng, và một số trẻ em lớn lên sẽ không có những đứa em trai em gái mà đáng lẽ ra chúng có được. Điều này có thể góp phần vào cái mà có người gọi đó là thứ dịch cô đơn của nước Mỹ – nghĩa là cuộc sống thui thủi con một trong nhiều gia đình.

Đẻ ít trong thời đại dịch có được cái lợi là khi những đứa trẻ này lớn lên đi học, chúng sẽ được học trong những lớp học không quá đông học trò, được thày cô chỉ dạy kỹ hơn; và có lẽ cũng sẽ bớt phải cạnh tranh hơn khi vào đại học hoặc khi kiếm việc làm.

Tuy nhiên, thử thách thực sự đối với xã hội khi người ta đẻ ít trong thời đại dịch sẽ là không có đủ người làm việc trong tương lại, dẫn đến tình trạng năng suất kinh tế thấp hơn và ít người đi làm có nghĩa là có ít người đóng thuế hơn. Điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ người làm việc đối chiếu với tỷ lệ người về hưu sẽ thấp hơn, và như vậy sẽ gây thêm áp lực cho chương trình An sinh Xã hội vì chính người đi làm hiện tại là nguồn tài trợ các khoản phúc lợi trả cho những người đang hưởng chương trình xã hội đó.

Tình trạng sinh đẻ thấp nếu chỉ xảy ra trong một năm thì không hẳn là một vấn đề nghiêm trọng khiến các nhà nghiên cứu xã hội phải lo lắng, nhưng sự việc lần này xảy ra sau nhiều năm có tỷ lệ sinh đẻ giảm sụt liên tục. Số trẻ em sinh ra hàng năm tại Hoa Kỳ đã giảm từ 4.3 triệu năm 2007 xuống còn 3.75 triệu năm 2019. Cùng với tình trạng sinh đẻ giảm trong thời đại dịch, xu hướng này cho thấy nước Mỹ có thể đang chứng kiến tình trạng sụt giảm số trẻ sơ sinh trong nhiều năm tới – đối ngược hẳn với sự gia tăng số trẻ sơ sinh tạo ra cả một thế hệ bùng phát trẻ sơ sinh (baby boomers) trong những năm sau thế chiến hai.

Để gia tăng tỷ lệ sinh đẻ, nhiều quốc gia đã từng thử nghiệm một số chính sách “khuyến khích sinh đẻ”, và thường được thực hiện dưới dạng phụ cấp tiền bạc hoặc tín dụng thuế với những gia đình có đông con. Những chính sách này có thể có một vài lợi ích, nhưng thông thường chỉ gây được ảnh hưởng rất nhỏ. Thậm chí tại các quốc gia Bắc Âu, chương trình của chính phủ thường rất hào phóng đối với gia đình và vai trò trong gia đình ít có sự phân chia giới tính, nhưng tỷ lệ sinh đẻ tại đây vẫn giảm đều.

Tỷ lệ sinh đẻ giảm là một vấn đề được quan tâm trong nhiều năm qua, và trận đại dịch đã đẩy nó lên một bậc nghiêm trọng hơn nữa. Điều này có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với dân số, xã hội cũng như kinh tế trên thế giới trong nhiều năm tới.

Huy Lâm

Tin tức khác...

Đăng ký nhận tin tức qua email