The Vietnamese Newspaper in Canada

Ông già Nô-en

“Santa Claus Is Coming To Town” là tên một bài hát rộn ràng mỗi khi Lễ Giáng sinh đến. 

Nhân vật chính trong bài hát là Santa Claus. Ông này, theo hai tác giả của bài hát, đang đến mang theo quà cho trẻ con. Ông có một danh sách trong đó đánh dấu từng đứa trẻ, đứa nào hư, đứa nào ngoan, thế nên nếu muốn có quà thì phải ngoan.

Bài ca được Haven Gillespie và J. Fred Coots sáng tác trên một toa xe điện ngầm vào một ngày tháng 10 năm 1933 trong khi họ trên đường đến văn phòng của một nhà xuất bản nhạc. «Santa Claus Is Coming To Town» đã trở thành big hit dịp Giáng sinh năm 1934 – thính giả các chương trình phát thanh phát cuồng vì bài hát và yêu cầu phát lại tăng vọt. Từ chương trình phát thanh của Cantor, những gì đến sau đó đã giúp Haven Gillespie trở thành triệu phú.

Bài hát nhanh chóng vượt qua biên giới Hoa Kỳ, lan ra ra khắp thế giới. 

Trong thập niên 1950 và 1960, hàng loạt ca sĩ lừng danh như Perry Como, Elvis Presley, Frank Sinatra, Dean Martin, Andy Williams, Sammy Davis Jr. đã thu âm bài “Santa Claus Is Coming To Town.” Đến năm 1970, hãng Rankin/Bass chuyển thể bài hát thành một phim hoạt họa đặc biệt trên truyền hình, với phần dẫn chuyện của Fred Astaire và Mickey Rooney lồng tiếng cho nhân vật Kris Kringle, tiếp tục củng cố vị thế kinh điển của nó.

Ngày nay, bài hát vẫn là một phần không thể thiếu của mùa lễ hội, xuất hiện trong nhiều bộ phim như ElfThe Santa Clause, trong khi con cháu của các nhạc sĩ và các nhà xuất bản vẫn tiếp tục tranh chấp về bản quyền và tiền nhuận bút cho ca khúc bất hủ này.

Santa Claus

Hàng năm, trước lễ Giáng sinh, nhiều thành phố trên khắp thế giới tổ chức những cuộc diễn hành lớn để “đón về” hoặc “rước” ông Santa Claus. Cứ theo những hình ảnh trong các cuộc rước, ông là một nhân vật béo tốt, râu tóc bạc phơ, mặc bộ đồ đỏ, đi giày ống đỏ.

Ông đi trên một chiếc xe trượt tuyết do 8 con reindeer (hươu hay tuần lộc) kéo, nhưng không phải trên tuyết mà bay trên trời, đem quà đến cho trẻ em.

Những đám rước ông Santa Claus ngày một sớm hơn. Thay vì tháng 12, Santa Claus Parade đã được tổ chức sớm hơm cả tháng. 

Hôm 23 tháng 11, ông đã được Thành phố Toronto Canada rước về. Đây là Santa Claus Parade lần thứ 121 của Toronto. Bất chấp thời tiết giá lạnh, hơn 700 ngàn người đã đứng, ngồi dọc theo hai bên lộ trình của đám rước để đón ông già áo đỏ râu bạc trắng. Cùng đi với ông là 1,200 người diễn hành, ban nhạc và 27 xe hoa.

Hình ảnh của Santa Claus, một ông già mặc áo choàng đỏ, râu bạc đã được mặc nhiên công nhận trên toàn thế giới. Nhưng không phải đó là hình ảnh đầu tiên, duy nhất  và chính thức của ông. Cũng như cái tên Santa Claus.

Thánh Nicholas thành Myra

Truyền thuyết Thánh Nicholas (Saint Nick) – dẫn đến ông Santa Claus như chúng ta thấy ngày nay, đã hình thành từ thế kỷ thứ 13, xuất phát từ sự tích Thánh Nicholas thành Myra.

Câu chuyện về cuộc đời vị thánh này được hình thành từ rất nhiều truyền thuyết.

Thánh Nicholas thành Myra (hoặc Thánh Nicholas thành Bari) là một giám mục ở Myra, một thành phố cổ của Hy lạp trong vùng Tiểu Á thời kỳ đầu tiên của Thiên chúa giáo. Người ta cho rằng ngài ra đời vào khoảng năm 250 đến 270 Công nguyên. Theo truyền thuyết, Thánh Nicholas rất thương người nghèo khó và trẻ em. Ngài cũng đã làm rất nhiều phép lạ, như làm cho biển lặng, cứu mạng các người bị xử tử oan, hạ cây có quỷ… Vì thế, sau khi qua đời, ngài được tôn làm là thánh quan thầy (bản mệnh) của trẻ em nhưng cũng là thánh bản mệnh của thủy thủ, thương nhân, cung thủ, những tay trộm cướp hoàn lương, thợ làm rượu, người làm nghề cầm đồ và học sinh ở nhiều nước châu Âu. 

Thánh Nicholas cũng được tiếng là người hay cho quà một cách kín đáo và bất ngờ. Một chuyện trong được người ta kể nhiều là chuyện ngài cứu ba cô gái nghèo sắp bị bán vào chốn lầu xanh. Biết được hoàn cảnh này, một đêm ngài đã kín đáo đến nhà của họ, ném qua cửa sổ vào trong nhà một túi tiền vàng. Ngài làm việc này ba đêm liền. Nhờ đó, ba cô gái có của hồi môn để lấy chồng.

Ngài bị người La Mã bắt giữ, tra tấn và giam vào ngục đầu thế kỷ thứ tư cho đến khi Constantinus trở thành Hoàng đế La Mã. Constantinus sau đó trở thành một tín đồ Công giáo.

Những xương thánh của ngài mãi về sau cũng còn tiếp tục làm phép lạ.

Người ta đồn rằng các món quà mà mình bất ngờ nhận được đều do Thánh Nicholas mang đến và cũng chính ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp Noel.

Bên cạnh đó, Thánh Nicholas còn là người bảo vệ cho các thuỷ thủ đảo Silicia của Hy Lạp cổ đại và Nga. Ở Hòa Lan, từ thế kỷ thứ 16, trẻ em thường xếp những chiếc giày gỗ của mình bên cạnh lò sưởi, mong muốn đến sáng sẽ thấy giày đầy những quà của Thánh Nicolas. Người Hòa Lan phát âm từ St. Nicholas thành Sint Nicholaas. Từ này sau đó biến thành Sinterklaas, rồi cuối cùng được những người theo Anh giáo đọc thành Santa Claus.

Père Noël của Pháp và Ông già Nô-en Việt Nam

Với đa số những người lớn lên ở Việt Nam cho đến nay, ông già đó thường chỉ được biết đến qua một cái tên bình dân, quen thuộc: “Ông Già Nô-en”, vì ông đến Việt Nam cùng với văn hóa Pháp trước nhất.

Trong văn hóa Pháp và các nước có liên hệ với văn hóa Pháp, vào dịp lễ Giáng sinh, Père Noël hay Papa Noël là người mang quà đến nhà cho trẻ em (và cả người lớn).

Phương tiện di chuyển của Père Noël – ông già Nô-en Tây, để đến mỗi nhà là chiếc xe do con lừa tên Gui kéo. Thế nên trước khi đi ngủ đêm Giáng sinh, trẻ em Pháp nhét đầy cà rốt và kẹo vào trong giày của chúng rồi đặt bên lò sưởi để đãi Gui. Nếu đứa bé ngoan, Père Noël nhận quà cho Gui. Đổi lại, ông bỏ quà cho trẻ vào trong giày. Vì giày trẻ con thường nhỏ, các món quà truyền thống cũng nhỏ để có thể đặt vừa bên trong: kẹo, tiền, hoặc những món đồ chơi xinh xắn.

Ở khu vực phía Đông của Pháp (vùng Alsace và Lorraine) cũng như ở Bỉ, Thụy Sĩ và Đông Âu người ta đón ông Thánh Nicholas, vị giám mục của thành phố Myra của Hy lạp trong vùng Tiểu Á (nay thuộc về Thổ nhĩ kỳ).

Ở Argentina, Uruguay và Brazil, do ảnh hưởng của văn hóa Pháp vào thế kỷ 19, ông già Noel xuất hiện và phổ biến với tên Papá Noel / Papai Noel và Pai Natal ở Bồ Đào Nha.

Trong văn hóa Louisiana Cajun (nhóm sắc tộc còn được gọi là Acadian, người Pháp đến Bắc Mỹ từ L’Acadie /Acadia, một thuộc địa của Pháp ở Canada nay là một phần của Quebec. Một nhóm đi xuống phía Nam, định cư ở Loiusiana, và được gọi là Cajuns) một phiên bản của Papa Noël được mô phỏng theo ông già Noel. Ông này được địa phương hóa qua việc dùng xuồng độc mộc do 8 con cá sấu kéo để đem quà đến từng nhà. 

Dịp lễ kính Saint Nicholas còn có một ông già thứ hai xuất hiện, tuy không phổ biến lắm. Ông này cũng được gọi là Le Père Fouettard. Ông này chỉ được nhắc đến ở các vùng xa xôi phía bắc và đông của Pháp, miền nam Bỉ, khu vực nói tiếng Pháp của Thụy sĩ. Père Fouettard mặc đồ đen, râu của ông có người bảo là màu đỏ, có người bảo là màu đen, nhưng tất cả đều đồng ý rằng Père Fouettard là hình ảnh phản diện của Père Noël. Ông này không mang quà mà mang những cục than đen để bỏ vào các chiếc giày của những đứa trẻ hư, và thậm chí – theo truyền thuyết, còn có thể quất cho chúng vài roi nữa (như ông Ba Bị của Việt Nam?).

Father Christmas của Anh quốc

Trong văn hóa dân gian của nước Anh, Father Chrismas đã được ghi nhận từ thế kỷ 15, nhưng cái ông này lúc đó không hề liên quan đến trẻ em mà chỉ với người lớn qua nhân vật “Sir Christemas” rao tin mừng Chúa giáng sinh và kêu gọi mọi người… ăn nhậu: “Buvez bien par toute la compagnie,/ Make good cheer and be right merry,/ And sing with us now joyfully: Nowell, nowell.”

Mãi đến khoảng thế kỷ 17 hình ảnh Father Chirstmas mới xuất hiện ở Anh, được cho là hình ảnh Lễ Giáng sinh  được nhân cách hóa. Nhưng ông này vẫn chỉ là ông già của người lớn, để vui chơi và ăn nhậu, chẳng có liên quan gì đến ống khói, vớ dài, quà cáp… Cho đến triều đại của Nữ hoàng Victoria, ông Father Christmas mới lưu tâm đến trẻ em và trở thành người mang quà đến cho các gia đình vào một đêm đông lạnh giá.

Đến khoảng giữa thế kỷ 19, huyền thoại Santa Claus, ông già Nô en Mỹ, mới du nhập vào nước Anh. Vài chục năm sau đó, những tục lệ mới đã bám rễ vững vàng với ông Santa Claus – Father Chrismas mặc robe đỏ với cái mũ trùm có viền lông trắng.

Đọc thêm

Hai lục địa trong lửa rừng

Mùa hè năm nay cháy nhiều quá. Đâu cũng cháy. Từ Âu châu sang Mỹ châu. Những hình ảnh truyền

Ebola 2026: Đáng lo đến mức nào?

Ebola, siêu vi đã cướp đi sinh mạng của hơn 15,000 người ở Phi Châu trong 50 năm qua, và trận đại…

Mạng lưới tội phạm tại sân bay Canada: Bạn có thể trở thành “con lừa thồ” bất cứ lúc nào!

Hãy tưởng tượng: Bạn vừa giao va li cho nhân viên sân bay, lên máy bay và mơ về những ngày vui tại…

Chuyện một người có cái tên xấu

Bây giờ đã là cuối tháng Tư, và chuyện đang sắp kể là có thật. Chuyện của một người có cái tên xấu…
1 của 44

Đến đầu thế kỷ 20, tất cả những ông già kể trên (trừ ông Père Fouettard) đã biến mất hết để chỉ còn lại ông Père Noël – Santa Claus gốc Mỹ mặc áo đỏ, râu trắng, cưỡi xe trượt tuyết do tuần lộc kéo đến với cái túi quà bự xự.

Kris Kringle 

Kris Kringle là một tên gọi khác của Santa Claus. Tên gọi này xuất phát từ truyền thống Christkind (Chúa Hài đồng) hoặc Christkindlein trong văn hóa Đức – một hình tượng Chúa Hài Đồng mang quà thay cho Thánh Nicholas trong thời kỳ Cải cách Kháng Cách.

Khi những di dân Đức đến Pennsylvania, Christkindlein dần biến đổi thành “Kris Kringle”, và trở thành một biệt danh phổ biến cho nhân vật mang quà Giáng Sinh.

Kris Kringle lại trở nên phổ biến ở Mỹ nhờ Miracle on 34th Street , một cuốn phim hài của Mỹ ra đời năm 1947. Phép lạ trên Đường 34 trở thành một phim classic và vẫn tiếp tục được chiếu lại vào dịp Giáng sinh hàng năm.

Phim kể về một ông già râu dài tên là Kris Kringle. Ông nhận lời đóng thế vai Santa Claus khi người đóng vai Santa được công ty Macy’s mướn cho Cuộc diễn hành Lễ Tạ ơn (Thanksgiving Day Parade) xỉn. Kris trở thành ông già Noel được yêu mến của cửa hàng Macy’s. Thói quen thực thà dẫn khách hàng đến các cửa hàng khác của ông được công chúng khen ngợi, nhưng bác sĩ tâm lý của cửa hàng lại cho rằng ông bị ảo tưởng vì khăng khăng mình là ông già Noel thật. Sau khi Kris bị gài bẫy đưa vào viện tâm thần, luật sư Fred Gailey đã bào chữa cho ông tại tòa. Vụ án xoay chuyển khi Bưu điện Hoa Kỳ chuyển tất cả thư gửi ông già Noel trực tiếp đến Kris, khiến thẩm phán tuyên bố ông là ông già Noel và bác bỏ các cáo buộc. Vào ngày Giáng sinh, Kris dường như đã thực hiện được ước mơ về một ngôi nhà mơ ước của cô bé Susan, khiến Fred và Doris tự hỏi liệu ông có thực sự là Ông già Noel hay không. 

Ở một số nơi như Úc, “Kris Kringle” còn dùng để chỉ trò chơi trao đổi quà một cách kín đáo, không cho biết tên (Secret Santa).

Ông già Băng Giá 

Trước Cách mạng Nga, ở nước Nga có nhân vật Ông già Băng Giá (Grandfather Frost hoặc Ded Moroz) tương tự như ông Sinterklaas của Hòa Lan. Ông này cũng mang quà cáp và niềm vui đến váo dịp lễ Giáng sinh. Cộng sản ra lệnh dẹp bỏ cả lễ Giáng sinh lẫn ông già Frost. Mãi cho đến thập niên 1930, Stalin phục hồi Ông già Băng Giá, nhưng ông này – cũng là người mang quà, đến vào Tết Dương lịch. Ông già Băng Giá được cho mặc đồ xanh biển để phân biệt rõ ràng với Santa Claus. Sau Thế chiến II, Nga gieo rắc hình ảnh Ông già Băng Giá không những ở các nước chư hầu Đông Âu mà còn ở tất cả những nơi họ đặt chân tới.

Sau khi Liên sô sụp đổ, dân chúng các nước thoát vòng Cộng sản như Ba lan, Bulgaria… thở ra, trở lại với những lễ hội và hình ảnh Giáng sinh truyền thống của họ.

Santa Claus của Coca Cola

Mặc dù bắt nguồn từ truyền thuyết về Thánh Nicholas, ông già Nô-en Santa Claus ngày nay là một bằng chứng không thể chối cãi về sự xâm lăng và thống trị của nền văn minh Mỹ thông qua các phương tiện truyền thông và… thương mại.

Bởi thế cho nên, vẫn có có không ít người tin rằng ông Santa Claus bụng bự, râu bạc, mặc áo đỏ, cưỡi xe do 8 con reindeer kéo là sản phẩm của hãng nước ngọt Coca Cola.

Ngày nay, Coca Cola vẫn tiếp tục quảng cáo sản phẩm của họ bằng hình ảnh Santa Claus, nhưng ông không còn đi bằng xe do tuần lộc kéo mà dùng semi truck.  

Chuyện ông Santa Claus là sản phẩm của hãng Coca Cola đã được chứng minh là không chính xác, vì hình ảnh ông Sanata Claus na ná như chúng ta thấy ngày nay đã được lưu hành từ nhiều năm trước khi Coca Cola bắt đầu tung ra các quảng cáo có hình ông vào thập niên 1930.

Tuy nhiên, mặc dù không phát minh ra ông Santa Claus, Coca Cola rõ ràng là có công quảng bá hình ảnh của ông – do họa sĩ Haddon H. Sundblom vẽ, và dùng luôn chân dung của chính mình làm mẫu, dĩ nhiên là in luôn hình ảnh của chai / lon Coke vào đầu người tiêu dùng.

“Có đấy Virginia, Santa Claus có thật”

Trong khu vực truyền thông tiếng Anh, có một bài báo trong một số báo gần lễ Giáng sinh năm 1897 của tờ The New York Sun mà cứ mỗi năm vào dịp lễ Giáng sinh lại được người ta nhắc lại và coi là một siêu phẩm của làng báo. Bài báo trở thành bài editorial (xã luận/quan điểm) được in lại nhiều nhất trong lịch sử báo chí (Hoa Kỳ?).

Số là tờ báo nhận được thư của một độc giả tí hon, Virginia, lên 8 tuổi, ở New York City. Cô bé viết rằng cô đã có một cuộc tranh cãi với bạn bè, trong đó nhiều đứa đã khăng khăng rằng làm gì có Santa. Thư chỉ ký tên là Virginia, không đề họ nhưng sau đó ngưởi ta biết được đó là bé Virginia O’Hanlon.

Lá thư viết: “Cha cháu nói, “Nếu con đọc thấy nó trên tờ Sun thì chuyện đúng như thế.’ Làm ơn cho cháu biết sự thật; có ông Santa Claus hay không?”

Chủ bút tờ The New York Sun, ông Francis Pharcellus Church đã quyết định trả lời Virginia. Ngày xuất hiện trên mặt báo, theo truyền thống, bài báo không có tên tác giả.

Ông nhà báo bảo với cô bé rằng các bạn của cô sai rồi con người ngày nay đã bị sự hoài nghi của một thời đại hoài nghi làm hỏng, họ chỉ tin nếu họ trông thấy. Họ quá tự hào về trí tuệ của họ trong khi họ chỉ là những con kiến trong cái vũ trụ bao la và có cái đầu óc của những con kiến.

Sau đó, ông viết:

Virginia,

Có đấy, Virginia, ông già Noel là có thật. Ông ấy hiện hữu chắc chắn như tình yêu, lòng hào hiệp và sự tận tụy hiện hữu vậy — và cháu biết rằng những điều ấy luôn dạt dào và mang đến cho cuộc sống của chúng ta vẻ đẹp và niềm vui lớn nhất.

Than ôi! Thế giới sẽ buồn biết bao nếu không có ông già Noel! Nó sẽ buồn thảm như thể không có Virginia vậy. Khi ấy sẽ chẳng còn niềm tin trẻ thơ, chẳng còn thi ca, chẳng còn lãng mạn để khiến cuộc sống này trở nên dễ chịu. Chúng ta sẽ chẳng còn biết tận hưởng gì ngoài những gì mắt thấy tai nghe. Ánh sáng vĩnh hằng mà tuổi thơ mang vào thế giới này sẽ bị dập tắt.

Không tin vào ông già Noel ư? Cháu có thể chẳng khác nào không tin vào tiên nữa! Cháu có thể bảo ba cháu thuê người canh tất cả các ống khói vào đêm Giáng sinh để bắt ông già Noel, nhưng kể cả họ không thấy ông đi xuống, thì điều đó chứng minh được gì?

Không ai nhìn thấy ông già Noel, nhưng điều đó không có nghĩa là ông không hiện hữu. Những điều thật nhất trên đời là những điều mà cả trẻ em lẫn người lớn đều không thể nhìn thấy.

Cháu đã bao giờ nhìn thấy những nàng tiên nhảy múa trên bãi cỏ chưa? Tất nhiên là chưa, nhưng điều đó không chứng minh rằng họ không có thật. Không ai có thể hình dung hay tưởng tượng hết những điều kỳ diệu vô hình và không thể nhìn thấy trong thế giới này.

Cháu có thể tháo cái con lắc của em bé ra để xem thứ gì tạo ra tiếng động bên trong, nhưng vẫn có một tấm màn che phủ thế giới vô hình, mà không một người đàn ông mạnh mẽ nhất — hay kể cả sức mạnh hợp nhất của tất cả những người mạnh mẽ nhất từng sống — có thể xé toạc. Chỉ có niềm tin, trí tưởng tượng, thơ ca, tình yêu, và sự lãng mạn mới có thể vén tấm màn ấy lên để nhìn và cảm nhận vẻ đẹp siêu nhiên phía sau.

Tất cả điều đó có thật không? Ồ, Virginia, trên thế giới này không có gì thật và vĩnh cửu hơn thế.

Không có ông già Noel ư? Cảm ơn trời đất, ông ấy sống — và sống mãi mãi. Ngàn năm nữa, hay mười lần mười ngàn năm nữa, ông ấy vẫn sẽ tiếp tục mang niềm vui đến cho trái tim của những trẻ thơ.

Một bài thơ về truyền thuyết Thánh Nicholas cứu ba đứa trẻ

La legende de Saint Nicolas

Gérard De Nerval

Ils étaient trois petits enfants

Qui s’en allaient glaner aux champs.

Tant sont allés, tant sont venus

Que sur le soir se sont perdus.

S’en sont allés chez le boucher :

«Boucher, voudrais-tu nous loger ?

– Entrez, entrez, petits enfants,

Y a de la place, assurément.»

Ils n’étaient pas sitôt entrés

Que le boucher les a tués,

Les a coupés en p’tits morceaux,

Mis au saloir comme pourceaux.

Saint-Nicolas, au bout d’sept ans,

Vint à passer dedans ce champ;

Il s’en alla chez le boucher :

«Boucher, voudrais-tu me loger ?

— Entrez, entrez, Saint-Nicolas,

De la place il n’en manque pas.»

Il n’était pas sitôt entré

Qu’il a demandé à souper.

On lui apporte du jambon,

Il n’en veut pas, il n’est pas bon.

On lui apporte du rôti,

Il n’en veut pas, il n’est pas cuit.

“De ce salé, je veux avoir,

Qu’y a sept ans qu’est dans l’ saloir.»

Quand le boucher entendit ça

Hors de sa porte il s’enfuya :

«Boucher, boucher, ne t’enfuis pas;

Repens-toi, Dieu t’ pardonnera.»

Saint-Nicolas pose trois doigts

Dessus le bord de ce saloir :

«Petits enfants qui dormez là,

Je suis le grand Saint-Nicolas.»

Et le grand saint étend trois doigts,

Les p’tits se relèvent tous les trois.

Le premier dit: “J’ai bien dormi.”

Le second dit: “Et moi aussi.”

Et le troisième répondit :

“Je croyais être en Paradis!”

 

Có ba cậu bé nhà quê 

Một hôm ra đồng mót lượm

Mê mải quên cả lối về  

Buổi tối chúng đi lạc vào 

Nhà của một anh hàng thịt

“Bác ơi khuya rồi chúng cháu 

Xin được tá túc một đêm”

“Vào đi mấy chú bé lạc

Có phòng cho các chú đây” 

Ngay khi bọn nhỏ vào cửa

Chủ nhà đã thịt chúng, rồi 

Bỏ vào cái thùng ướp muối

Như những con heo mập tươi 

Thế rồi bảy năm sau đó

Thánh Nick một lần qua đây 

Ngài cũng hỏi anh hàng thịt 

“Có chỗ cho tôi đêm nay?”

“Vào đi vào đi, thưa Thánh 

Chỗ thì chúng tôi có thừa”

Ngay khi vừa vào đến cửa

“Bữa tối”, Thánh hỏi, “có chưa?” “

Ngài muốn một phần thịt bằm?”

“Tôi không ăn cái thứ đó.” 

“Hay là một miếng thịt bê?

Tôi có sẵn, và nhiều lắm?” 

“Tôi muốn thịt trẻ ướp muối

Thứ muối lâu đến bảy năm.” 

Anh hàng thịt khi nghe thế 

Vot vội ra cửa thoát thân 

“Này anh, thôi đừng chạy nữa 

Ăn năn đi. Chúa sẽ tha”

Thánh Nick đặt tay lên nắp 

Cái thùng thịt muối ngày xưa

“Ngủ đã quá!”, một chú nói 

Chú thứ hai, “cũng thế thôi”

Chú thứ ba còn hơn nữa

“Tôi tưởng mình đã lên trời!”

Đỗ Quân (sưu tầm)

Tin liên quan