Nhân vụ hiện tượng Thích Minh Tuệ nổi lên như cồn ở Việt Nam những ngày cuối tháng 05 bà con mình, bên nhà cũng như khắp năm châu đi đâu cũng thấy ồn ào những câu chuyện xoay quanh hiện tượng một người đàn ông mặc áo vá, tay bưng lõi nồi cơm điện, đầu để trần, chân đạp đất, rảo bước trên những nẻo đường từ Nam ra Bắc thực hiện pháp tu hạnh đầu đà. Hiển nhiên nói đến Thích Minh Tuệ là nói đến Đạo Phật.
Và rồi nói đến Đạo Phật là nói đến những bậc chân tu, những vị hòa thượng…
Và rồi nói đến họ là nói đến nhiều vị có pháp danh mang chữ Thích.
Trước khi chiết tự sâu hơn đến chữ thích, thiết tưởng bỏ chút thời gian tra cứu chữ thích trong tiếng hán nôm hẳn không thừa (nếu không nói biết đâu ta còn có thể rút ra đôi điều thú vị cho mình nếu bạn có thời gian quỡn). Gõ cụm chữ: “Chữ thích trong tiếng Hán” bạn sẽ gặp một trang mạng khá dễ thương https://hvdic.thivien.net./hv/thích trích dẫn khá đầy đủ về chữ thích.
Còn không, bạn có thể gõ cụm chữ “Chữ thích trong Phật Giáo” lập tức Google search sẽ trình làng một danh sách dài những trang mạng có liên quan đến chữ thích trong Phật học. Vâng. Không sai. Chỉ trong một tích tắc bạn sẽ có một danh sách dài ngoẵng những bài viết; cũ có, mới có, đạo có, đời có lập tức xuất hiện. Nói thế để thấy chữ thích trong Phật giáo có một ý nghĩa khá thâm thúy song với người còn lạ với Phật giáo có thể sẽ ngộ nhận, hiểu sai, hoặc hiểu chưa tới.
Chi li kỹ lưỡng hơn, gõ tiếp cụm chữ “Chữ Thích trong tiếng Phạn” vì nhiều bạn tin các giai thoại huyền nhiệm trong Phật giáo được tìm thấy trong tiếng Phạn, trong đó có chữ Thích. Nói khác đi, muốn hiểu sâu, hiểu sát các tư tưởng triết lý gần gũi với Đức Phật thiết nghĩ không ngôn ngữ nào trực tiếp và đầy đủ như tiếng Phạn. Tuy nhiên khi gõ cụm chữ này vào Google bạn sẽ thất vọng vì chẳng có trang website nào bàn về chữ Thích trong tiếng Phạn. Có lẽ để hiểu sâu về ngóc ngách này ta rất cần tham vấn với một bậc học giả Phật giáo có kiến thức.
Còn về chữ thích trong tiếng Việt… Chà, đây sẽ là một đề tài khá thú vị. Tại sao? Bởi không ít người Việt khi nghe nói đến chữ thích họ nghĩ ngay đến những điều hoàn toàn khác, không ăn nhập dính dáng gì đến Phật học. Trước tiên, thích là một động từ trong tiếng Việt. Còn trong Phật giáo nó là một phần của pháp danh dành cho người xuất gia.
Theo trang website http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/thích chữ thích là một động từ có hai nghĩa khác biệt nhau. Xin được trích dẫn nguyên văn định nghĩa để bạn đọc có được những giải thích và ví dụ minh họa tiện lợi cho việc tra cứu. Theo đó, thích (nếu là động từ) sẽ có nghĩa (a): Dùng vật có mũi nhọn mà châm vào da cho thành dấu hiệu, chữ viết rồi bôi chất mực cho nổi hình lên (như) thích chữ vào tay, đồng nghĩa sẽ có chữ xăm. Nó còn có nghĩa thúc vào người như trong ví dụ: Thích nhẹ khuỷu tay vào sườn bạn. Thích (b) khi là động từ còn có nghĩa có cảm giác bằng lòng, dễ chịu mỗi khi tiếc xúc với điều gì hoặc làm việc gì (dẫn đến) muốn tiếp xúc với điều đó hoặc làm việc đó mỗi khi có dịp. Tỷ như trong các ví dụ sau: Hắn thích đi du lịch. Cô ả thích sống tự lập. Tôi rất thích tiền. Bà tôi không thích chuyện người ta đôi lê mách lẻo. Các từ đồng nghĩa gồm có ham, ham thích, ưa, thích thú, ưa thích…
Riêng trong đời sống hiện đại hôm nay ta có nhiều khái niệm liên quan đến chữ thích thoạt nghe sẽ rất khác với động từ thích chúng ta vừa bàn ở trên. Tỷ như gần đây bạn nghe nói đến câu “Thích thì chiều” nghe khá xấc. Hình như đây là cụm từ du nhập từ miền bắc, nghe có vẻ láu cá, ngông ngông, lấc cấc sao sao đó. “Thích thì chiều” vì thế không có nghĩa đáp ứng hay thỏa mãn nhu cầu cho ai đó mà nó có nghĩa: (Bộ) muốn chơi hả, tôi sẽ đáp ứng liền, đừng tưởng là tôi ngán! Thử hỏi nghe vậy ai không thấy nó ba gai, thấy nó ương ngạnh, ngông cuồng và gây hấn vì sẵn sàng ăn thua đủ.
Từ giữa tháng 5 trở đi hiện tượng công dân Thích Minh Tuệ, người thực hiện pháp tu hạnh đầu đà đi bộ từ Nam ra Bắc và ngược lại, mặc áo vá, đi chân đất, đầu để trần, khất thực mỗi ngày một bữa, ngủ tại những nơi đồng hoang gò mả… Ban đầu còn tưởng là chuyện bình thường nhưng chỉ sau ít tuần nạn Youtuber, Tiktoker, Instagram, Facebook cùng hàng núi những kênh live stream khác xúm vào khai thác gây nên một hiện tượng sôi nổi náo nhiệt chưa từng có. Thế là chữ thích bỗng được người ta nhắc đến vì nó là Pháp danh của nhiều vị tăng, sư.
Có người cắc cớ hỏi tại sao các hòa thượng và các vị tăng chỉ chọn chữ thích cho pháp danh của mình mà không phải một chữ khác. Tỷ như ta có những pháp danh rất quen thuộc như Thích Nhất Hạnh, Thích Pháp Hòa, Thích Quảng Đức, Thích Minh Nhiệm, Thích Chân Quang, Thích Thanh Từ, Thích Giác Tín, Thích Huệ Trí, Thích Huệ Thống, Thích Minh Diệu, Thích Nhuận Đức, Thích Nhật Minh…
Có người còn hỏi tại sao không lấy pháp danh là “Không Thích” mà chỉ là Thích thôi…
Rồi chẳng biết từ khi nào hiện tượng chữ Thích (pháp danh của các vị tăng, sư) bị lôi kéo vào những cuộc nhàn đàm ngữ nghĩa bị xô vặn mang một ý nghĩa mỉa mai khôi hài, có lúc khiên cưỡng, có lúc rất thô tục. Quả nhiên vậy. Sau chuyện một vài bậc tăng, ni hành xử có phần chệch hướng, thậm chí một số hành xử sai tuyến trầm trọng khiến pháp danh Thích biến dạng. Từ đây người ta có những cái tên thoạt nghe qua đã thấy ngay thái độ châm biếm, xem thường lộ liễu như: Thích Cúng Dường, Thích Đủ Thứ, Thích Tào Lao, Thích Tiền Đô…
Thực ra trong văn hóa Việt động từ thích hiền hòa dễ thương lắm. Nó nói lên một trạng thái suy nghĩ rất chân thuần của người Việt. Tần số xuất hiện của chữ thích khá dày trong tiếng Việt, y như trong Anh ngữ vậy. Tại sao? Khá đơn giản, thích là động từ “to like”. I like pizza. He likes apple. She likes working overtime a lot. I don’t like beef. They don’t like him at all. I like Trump. He did not like Biden.… Cứ thế, tương tự, chữ thích của ta cũng gần giống như vậy. Tôi thích pizza. Anh ấy thích táo. Cô ấy thích làm việc tăng ca lắm. Tôi không thích thịt bò. Họ không thích anh ta chút nào. Tôi thích Trump. Hắn đã chẳng ưa gì Biden…
Để hiểu rõ thêm về pháp danh của các phật tử sau khi quy y tam bảo và thọ năm giới (gồm không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối (vọng ngữ), không uống rượu), thiết nghĩ bài viết có tên: Lắt léo chữ nghĩa: Ý nghĩa của chữ ‘Thích’ trong Phật giáo của tác giả Vương Trung Hiếu đăng trên Báo Thanh Niên quốc nội khá thú vị. Trong đó có đoạn viết rõ (nguyên văn): Thích (釋) là họ trong pháp danh của tu sĩ, do đó họ này không được đưa vào danh sách Bách gia tính (Họ của trăm nhà) ở Trung Quốc. Xin đừng nhầm lẫn họ này với họ 戚 (Qī), một họ đứng thứ 33 trong Bách gia tính cũng có âm Hán Việt là “Thích”.
Như vậy chữ Thích hiển nhiên có một vị trí khá đặc biệt trong tiếng Việt cũng như trong Phật giáo. Vì là pháp danh, đồng thời là một động từ như đã trình bày ở phần trên, đặc biệt trong ngữ cảnh Thích Minh Tuệ, chữ Thích trở thành một phần của pháp danh đặt cho những cá nhân quyết định tự nguyện gắn bó với đạo pháp, với con đường tu tập.
Bắt nguồn từ tên của Đức Phật là Thích Ca Mâu Ni. Đồng thời theo tương truyền do tác giả Vương Trung Hiếu kể lại (nguyên văn): Vì sao các nhà sư lấy họ “Thích”? Xin thưa, mọi việc khởi nguồn từ pháp sư Đạo An thời Đông Tấn. Vị pháp sư này sống ở Ngũ Trùng tự tại Trường An, có hàng ngàn tu sĩ theo học đạo. Do các tu sĩ có quá nhiều họ nên khó nhớ và dễ bị nhầm lẫn, pháp sư Đạo An đã nghĩ ra cách đặt họ chung, dựa vào ý của một đoạn trong Tăng nhất a hàm kinh: “hà nhập tứ hải, vô phục hà danh, tứ tính vi sa môn, giai xưng Thích chủng” (bốn sông chảy ra biển, không còn phục hồi tên sông nữa, bốn họ tu khổ hạnh, đều được gọi là dòng họ Thích). Bốn họ đó là: 1. Sát lợi chủng (Sanskrit: क्षत्रिय, kṣatriya): tầng lớp quý tộc, chiến binh trong xã hội Hindu cổ đại; 2. Bà La Môn chủng (ब्राह्मण, brāhmaṇa): những người theo đạo Bà La Môn; 3. Cư sĩ chủng (गृहपति): lớp người tại gia mộ đạo Phật; 4. Thủ đà la chủng: hàng tiện dân. Trong đó, śūdra (शूद्र) là nam giới thuộc tầng lớp thấp nhất, còn śūdrā (शूद्रा) là nữ giới thuộc tầng lớp thấp nhất.
Để tránh những nhầm lẫn nên Pháp sư Đạo An đã mượn lời trong Thập Tụng Luật của kinh Pháp Hoa Văn Cú có câu “tứ tính xuất gia, đồng nhất Thích chủng”, hiểu nôm na là “bốn họ là người tu hành, đều cùng một dòng Phật giáo”. Hiểu rộng hơn có nghĩa tuy thân thế gốc gác có khác nhau nhưng phàm đã là kẻ tu hành tự động thuộc chủng Phật. Pháp sư Đạo An vì vậy đã khuyến khích những ai theo con đường tu tập nên lấy họ Thích đặt cho Pháp danh vì đây là họ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Để tường tận hơn, tác giả Vương Trung Hiếu nói thêm (nguyên văn): Song cần lưu ý, Thích-ca Mâu-ni chỉ là cách gọi Hán Việt của 释迦牟尼 (shì jiā móu ní) – một cụm từ mà người Trung Quốc phiên âm từ tiếng Phạn śākyamuniḥ (शाक्यमुनि) – tức “hiền nhân của śākya” (śākya là tên của một bộ tộc và đất nước thời Ấn Độ cổ đại).
Vẫn theo Mr. Vương Trung Hiếu (nguyên văn): Cái tên śākya (शाक्य) chính là Thích-ca (释). Trong giai đoạn đầu tu tập, Pháp sư Đạo An lấy tên là Trúc Đạo An (theo họ của người thầy là Trúc Phật Đồ Trừng), về sau ông đổi thành Thích Đạo An trở thành người tiên phong mang họ Thích.
Từ đó về sau họ Thích được áp dụng trong việc chọn pháp danh dành cho Phật tử đã quy y tam bảo và thọ ngũ giới. Đây là bằng chứng cho rằng họ Thích Ca đã theo phương Bắc kéo xuống phía Nam. Rồi theo chân những bậc chân sư tiền bối, họ Thích đã trở thành cái họ chung (pháp danh) đối với nhiều Phật tử Bắc Tông hay còn gọi là phái Đại Thừa (Bánh xe lớn) để phân biệt với Nam Tông hay còn gọi là Tiểu Thừa (Bánh xe nhỏ). Từ đây hầu như đa số các sư, thầy đều xưng hô với công chúng với pháp danh của mình bắt đầu bằng chữ Thích còn tên khai sanh càng ngày càng ít được nhắc đến.
Cụ thể, sư Thích Nhật Từ có tên là Trần Ngọc Thảo. Sư Thích Nhất Hạnh có tên hai tên, tên đầu là Nguyễn Đình Lang, tên thứ hai là Nguyễn Xuân Bảo. Hay tên khai sanh của thầy Thích Minh Niệm, tác giả cuốn sách nổi tiếng Hiểu Về Trái Tim là Lê Quốc Triều. Mới đây nhất chúng ta có Thích Minh Tuệ với tên khai sanh là Lê Anh Tú. Còn trường hợp tên khai sanh của thầy Thích Pháp Hòa khá đặc biệt vì chẳng mấy ai biết được tên thật. Lên mạng, cứ nghĩ Google sẽ thỏa mãn cho tánh hiếu kỳ của chúng sanh khi gõ cụm chữ “tên thật của thầy Thích Pháp Hòa” nhưng người ta sẽ thất vọng vì tuyệt nhiên không thể tìm ra trang website nào bật mí chi tiết này.
Vài trường hợp cá biệt hiếm hoi một số các bậc sư thày trong quá khứ không chọn pháp danh có họ Thích mà chỉ đơn giản là pháp danh. Hai trường hợp nổi tiếng là Sa Môn Lê Phước Bình (của cố Đại Lão Hòa Thượng Hành Trụ) và Vạn Hạnh (của Thiền sư Vạn Hạnh với tên họ đầy đủ là Nguyễn Văn Hạnh).
Đó là chữ thích trong ngôn ngữ bình dân và vị trí đặc biệt gắn liền với pháp danh của các bậc sư, thầy Phật giáo. Ngoài ra chữ thích còn kết hợp với một số từ khác trở thành từ ghép (kép) mang một ý nghĩa mới hoàn toàn khác hẳn. Chẳng hạn ta có thích khách (người sử dụng vũ khí đến gần các nhân vật quan trọng để ám sát). Hoặc ta có thích nghi (làm quen với hoàn cảnh mới) hay thích hợp (thỏa đáng, thuận tiện). Hoặc ta có thân thích (họ hàng người thân), chú thích (giải thích, mổ xẻ), thích đáng (hợp lý, thỏa đáng), thích ứng (hòa nhập tốt).
Bạn đọc thân mến, chữ thích là vậy, bản thân nó xưa nay tồn tại trong dòng chảy ngôn ngữ tiếng Việt bình yên nhẹ nhàng không lôi thôi điều tiếng gì. Vậy mà gần đây khi hiện tượng Thích Minh Tuệ nổi lên khiến pháp danh Thích Ca được nhắc đến. Trước đó những pháp danh sử dụng với mục tiêu mỉa mai đã nghe thấy, nay chúng được thiên hạ nói đến nhiều hơn, đặc biệt để ám chỉ các bậc sư, thày Phật giáo sơ suất, làm sai… như Thích Đủ Thứ, Thích Cúng Dường, Thích Nổi Tiếng, Thích Tà Kiến, Thích Ma Tăng, Thích Tiền Đô, Thích Ba Trợn…
Những kiểu kiếm tiền lạ đời ở Việt Nam

Miễn luận tầm quan trọng của chuyện đúng sai, chỉ nói đến cách sử dụng chữ Thích trong vị trí pháp danh một cách thiếu ý thức vô tình đã thất kính với họ của Đức Phật Thích Ca. Kẻ làm bậy, bất luận là người thường hay người đã thọ ngũ giới, hành vi của họ là hành vi cá nhân. Còn pháp danh Thích Ca, họ của Đức Phật càng không nên sử dụng một cách tùy tiện, dù với mục đích phê phán hàng tăng sĩ không sống đúng với vai trò tư cách.
Ông bà ta xưa có câu: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Ăn nói nhã nhặn khiêm tốn khôn ngoan ắt sẽ thâu phục được lòng người. Hoặc câu: Cả giận mất khôn (bực lên khó có thể kiểm soát lời ăn tiếng nói). Đặc biệt người Hoa có câu: Nhất ngôn cửu đỉnh (lời nói rất có giá trị, đáng giá đến chín cái lư hương bằng đồng nên đừng ăn nói khiếm nhã, cợt nhả, thiếu thận trọng dễ bị mất tư cách).
Vâng. Chữ thích cũng thế. Chúng rất hiền. Rất dung dị. Chữ Thích càng là chữ (nếu đại diện cho Pháp danh của một vị tăng càng rất nên được kính trọng. Nhân vô thập toàn, các sư thày dù có tu tập thường xuyên vẫn không tránh những lần sa chân, sảy miệng. Vì vậy đối đãi với người khác, chúng sanh hay với các bậc tu hành bằng tâm tình vô ngã, vị tha, từ bi, nhân văn… chúng ta vừa xây dựng tốt hơn những mối quan hệ cuộc sống tích cực, vừa tránh được những cái nghiệp báo do mình bất cẩn trong lời ăn tiếng nói…
Nguyễn Thơ Sinh