Mùa cưới thường vào ba tháng cuối năm âm lịch. Nghĩa là hai tháng cuối năm và tháng đầu năm dương lịch, tương đương với mùa đông.
Khoảng thời gian này thuận lợi cho việc tổ chức đám cưới. Trước đó là mùa mưa, sau đó lại chộn rộn đón tết. Do đó mới có câu “Lấy vợ ăn tết”.
Thật ra sau Tết ta vẫn cưới lai rai nhưng thưa hơn cho đến cuối tháng Tư hết mùa khô. Sáu tháng mưa rất ít đám cưới. Chiều tối mưa ào ào một trận dù chưa ngập lụt cũng chẳng ai quần áo trang điểm dầm mưa ướt át đi dự tiệc, chủ nhân có nước khóc ròng vì ế cỗ.
Vào mùa, đám cưới nhất tề diễn ra khắp nơi rộn ràng quá thể. Thiệp đám cưới gửi đi bay như bươm bướm khiến người nhận… phát rầu. Dân trung lưu trở lên khỏi bàn nhưng từ nhân viên trung bình trở xuống mà nhận được hai ba thiệp mời một tháng quả thật vui người mà héo mình. Tiền chợ cũng như mọi chi tiêu tháng đó cắt giảm liền lập tức nhường chỗ cho việc đi đám.
Có khi một ngày trùng hai đám cưới. Đám con của sếp đương nhiên phải có mặt, đám bạn chí cốt từ thủa trung học lẽ nào vắng nên đành chạy sô, đầu giờ đi đám này, lượn qua lượn lại cho gia chủ thấy mặt, ký tên vào mảnh lụa rồi chạy qua đám sau. Tổ chức đám cưới đương nhiên phải chọn ngày tốt nên một buổi sáng ra ngoài đường thấy năm sáu xe hoa chạy qua. Vào công viên hoặc trung tâm thành phố gặp ngay vài đám cưới đụng nhau ầm ầm. Một góc tường gạch rêu phong, gốc cây cổ thụ, vạt cỏ, đàn chim, nhịp cầu… lọt vào ống kính phó nháy đẹp như phim nên các cặp tha hồ đứng chờ đợi phiên nhảy vào chụp hình.
Thiệp mời tiệc rất đẹp vì mẫu mã ngày càng thết kế kiểu cọ, mặt sau là sơ đồ nhà hàng hoặc in tấm lịch để hướng dẫn khách dễ tìm đường, khỏi nhầm ngày.
Nhận được tấm thiệp, khách được mời tính toán lẹ làng. Thân hay sơ, đi dự hay không, nhà hàng sang hay thường, ăn tiệm hay ăn nhà… Số tiền bỏ vào phong bì mừng bao nhiêu sẽ tùy thuộc vào những điều kiện đó. Nay thì một bàn tiệc xoàng ở nhà hàng đã tăng lên hơn năm triệu chưa kể bia, nước ngọt… tính ngoài. Tiền mừng thông thường theo giá thị trường năm trăm ngàn. Đáng lẽ giá mừng cưới đã phải tăng từ lâu nhưng vì lương lậu tăng không đáng kể và giá mừng thường chẵn chứ không thể lẻ. Năm trăm hay một triệu chứ “đi” bảy, tám trăm ngàn thì… hơi kỳ! Vì thế tiền mừng đành dậm chân tại chỗ đợi… dịp mới nhảy vọt lên một lần. Chủ nhân khi mời cũng nhắm chừng loại khách nào túi lép nên bớt bớt, hướng mũi dùi tới đám khách có “khả năng” thì tiện cho cả đôi bên hơn.
Nếu không dự thì bỏ phong bì ba trăm. Nhà hàng sang nhảy lên bạc triệu. Đa số vẫn theo giá căn bản vì nếu phải mừng tùy mức độ nhà hàng cao cấp thì đương nhiên nhiều người phải “cáo bệnh” ở nhà chứ làm sao đi nổi. Thành thử đám cưới thời khủng hoảng kinh tế sau Covid-19 ít… lời!
Do tiền mừng trở thành “vấn đề” như vậy nên ảnh hưởng mạnh mẽ đến số người đi dự. Một cặp đi tiệc hiện nay phải chi tối thiểu năm trăm ngàn một người nên dần bỏ thói quen. Bây giờ chỉ một người đại diện chứ hai vợ chồng tốn cả triệu còn gì. Họ nhẩm tính lại túi tiền, chỉ định hoặc vợ hoặc chồng tùy thuộc vào đám cưới thân với bên nào hơn với câu thoái thác quen thuộc: bà xã bận mắc đi đám khác, ông xã bị đau răng…. Việc này đã thành thông lệ ngầm nên chi chính chủ tiệc tuy lịch sự ghi thiệp mời ông bà nhưng dư biết cũng chỉ một người dự mà thôi.
Phân công hai người đi hai nơi hay một người dự hai nơi. 17 giờ có mặt tại nhà hàng trong quận Sáu, giơ cao chiếc phong bì bỏ vào thùng, vui vẻ chụp với cô dâu chú rể một tấm rồi chạy gấp sang trung tâm tiệc cưới quận Phú Nhuận trễ mất hai món đầu vẫn tính là kịp. Cuối năm nhà hàng nào cũng chật cứng. Do đó phải nhìn kỹ tên cô dâu chú rể trong tấm thiệp với tên cô dâu chú rể dựng trước sảnh cưới. Ngày cưới, cô dâu nào cũng đẹp như nhau, dễ lộn lắm. Đã có chuyện mấy sảnh cưới liền nhau và khách mời đi nhầm vào sảnh này thay vì sảnh bên cạnh. Bỏ tiền mừng vào thùng rồi mới nhận ra đi lộn phòng thì chỉ có nước…mếu, Hay là xin lỗi cho lấy lại phong bì?
Hiện nay không ai mừng bộ ly tách, nồi cơm điện hay mùng mền như xưa, mà thực tế mừng tiền để sau đó cô dâu chú rể kịp thời thanh toán chi phí nhà hàng ngay sau bữa tiệc. Trước cổng bao giờ cũng có cuốn sổ hay tấm vóc ký tên lưu niệm bên cạnh là thùng tiền hình giỏ hoa hay trái tim. Bỏ phong bì vào thùng không lưu ý đôi khi cũng gặp phiền chứ chẳng chơi. Nếu chỉ một đàng trai hay đàng gái chi tiền tuệc thì chỉ có một thùng nhưng nếu đám cưới chưa góp gạo thổi cơm chung, có nghĩa mỗi bên trả tiền theo số bàn của bên mình, sẽ đặt hai thùng trên bàn, mỗi thùng có người của từng bên trông coi. Một ông khách đàng gái lơ đễnh bỏ phong bì vào thùng tiền đàng trai. Vào ngồi bàn hồi lâu, khi biết mình lầm, ông đã phải chạy ra xin lỗi đàng trai cho mở thùng, lấy lại phong bì bỏ lại vào thùng kia. Hơi tức cười trước nhưng “được lòng sau”!
Có nhiều đám cưới, chủ nhà giao thiệp rộng quá, bàn xếp chật ở bên cánh gà mà khách còn lố nhố ngoài tiền sảnh. Trường hợp này, khách dày dạn kinh nghiệm ăn cưới thường mang trong túi hai phong bì, nếu “lọt” được vào phòng ăn thì bỏ vào thùng Hai quả tim hay Hai con chim bồ câu đúng giá. Xem chừng phải đi về “bụng không” bỏ phong bì hai trăm thôi, tương đương với… ăn cơm nhà!
Dù tới mùa cưới nhưng những cơn mưa rớt bão cuối mùa cộng với đợt triều cường khiến nhiều đám cưới phấp pha phấp phỏng. Ngày tốt đã xem rồi chỉ sợ tiệc ế, mà ế có nghĩa là… lỗ nặng. Lắm đám cưới mời rất đông. Vì cả đời mới có một lần mà. Ngoài bạn bè họ hàng của cô dâu chú rể, còn bạn bè của cha mẹ, anh chị em. sáu chục bàn nhét chật cứng vào một cái sảnh, hai họ không len vào nổi để chụp hình từng bàn.
Trước kia thường đi ăn cưới bằng xe máy. Nhưng nay đường phố kẹt cứng xe, khói bụi mù mịt, mặt mũi tô son trét phấn, đầu tóc uốn chải phết keo mà đội cái mũ bảo hiểm thì hư hết đầu, diện váy dài váy ngắn tới được nhà hàng mặt mũi bơ phờ, mồ hôi mồ kê vì hít khói ở vài cái ngã tư. Nay xe taxi công nghệ cũng tương đối rẻ, cùng chung hãng xưởng hay cùng xóm, ta ráp nhau kêu xe, chia ra đầu người.
Hà Nội đa số làm cơ quan chuộng đi ăn đám cưới vào ban ngày. Họ tận dụng thời gian nghỉ trưa để ăn cưới, quay lại cơ quan kịp giấc chiều rồi về nhà. Quần áo đi làm đến thẳng nhà hàng luôn. Dân Sài Gòn trọng bữa tiệc cưới hơn. Đó là dịp làm đẹp và “lên đồ”! Vì thế ít người Sài Gòn muốn tổ chức tiệc cưới vào buổi trưa. Do vậy tiệc trưa giá cũng rẻ hơn tối. Tiệc ban ngày cũng như tối giữa tuần đều thua thiệt hơn tối cuối tuần. Thế nhưng đôi khi phái chốt vào buổi trưa vì thuê nhà hàng xa trung tâm thành phố (giả rẻ) và khách mời nhiều người lớn tuổi khó đi lại. Để tổ chức tiệc cưới vào ngày lý tưởng là tối thứ Bảy, thường phải đặt cọc nhà hàng từ nhiều tháng trước, thậm chí từ năm trước qua năm sau.
Ngoài ra tiệc được cố gắng đặt vào tối thứ Bảy và Chủ nhật cho khách thuận tiện đi dự. Buổi tối thời gian rộng rãi người ta có thể đi giày cao gót, mặc áo dài thêu, váy ngắn hở vai, váy dài nhiều tầng, bới đầu cao, sơn móng tay…
Thật ra đến nhà hàng ngồi vào một chỗ, đâu có ai đi tới đi lui khoe quần áo để thấy y phục của ai đẹp tới cỡ nào. Bây giờ đi ăn đám cưới, ngoại trừ những người đứng tuổi hoặc trong buổi lễ: lễ hỏi, lễ gia tiên, rước dâu… các bà, các cô mới mặc áo dài, còn đi ăn tiệc cưới đa số mặc đầm gọn hay quần tây với vest.
Ngày xưa thiệp cưới chỉ có câu “Xin hân hạnh được đón tiếp anh, chị… vào lúc 18 giờ ngày…” Nhưng thông lệ của người Việt ta là nếu đi đúng 18 giờ thì sợ mang tiếng “ham ăn” nên 18 giờ mới bắt đầu rời khỏi nhà. Nay thì thiệp cưới ghi rõ: 18 giờ đón khách; 19 giờ nhập tiệc. Vì ghi rõ như thế nên chẳng ai đến đúng 6 giờ chiều cả. Nếu không đến trễ thì không phải là người VN! Vả lại đến đúng 6 giờ sau khi chào hỏi chụp hình với cô dâu chú rể hai phút xong, khách ngồi tò hỏ cả tiếng đồng hồ ở chiếc bàn trống lốc không có ai nói chuyện và không thể bắt chuyện với ai. Đôi khi chưa có cả nước uống bởi chủ thường nói nhỏ với bồi khoan rót nước, nhất là bia trước giờ khai tiệc quá sớm vì… hao dữ lắm! Chỉ còn nhìn vào màn hình lớn chiếu clip “lịch sử tình yêu” của cô dâu, chú rể từ lúc học chung trường… Cho nên chắc ăn hơn cả thì nên đến nhà hàng vào lúc 7 giờ hay… muộn hơn chút!
Khách không ngồi lẫn lộn mà chia rõ rệt từng bàn: họ nội, họ ngoại, hàng xóm, hạn trung học cô dâu, bạn đại học chú rể, bạn chợ của má, đồng nghiệp dì Út, cơ quan… theo tờ giấy ghi để sẵn trên bàn.
Khách ngồi lâu quá, đưa mắt ngắm thơ thẩn quang cảnh các sảnh đám cưới kiến trúc đẹp mắt với cây cột Hy Lạp đỡ mái cong Á Đông, trên tường có thể treo tranh lập thể hay tĩnh vật… Nếu không phải khu vực nhiếu người Hoa với màu đỏ rực bao trùm thì các nhà hàng thường trang trí theo kiểu Tây để phù hợp với cô dâu thay một buổi ba, bốn bộ soirée,o cũng như các loại váy nhiều kiểu lộng lẫy của người đi dự. Ngồi hoài ngồi hủy đến bảy rưỡi mới bắt đầu khai mạc. Màn trình diễn thêm nửa tiếng nữa mới thực sự nhập tiệc. Đèn tắt, cô dâu chú rể từ ngoài cổng tiến vào trong bản nhạc The Wedding muôn thuở, múa trống cơm hay múa ballet, cô MC diễn giải hai trẻ có duyên tiền định, hai bên thông gia từ nay có dâu hiền rể quý, hai họ lên sân khấu, rót rượu giao bôi. “Cám ơn quan khách không ngại đường xa… Xin bỏ qua những điều sơ sót… Cuối cùng xin mời quý vị… Dzô”.
Công nghệ đám cưới ngày càng phát triển. Cô dâu chú rể ngồi kiệu, xe song mã hay xe hơi mui trần, rước đuốc, rước hoa hay pháo bông… Đôi uyên ương đứng trong lồng chim từ trên trời rơi xuống hay dưới đất chui lên… Bong bóng nổ lạch tạch thay tiếng pháo,
Vừa ăn cỗ vừa nghếch mắt xem văn nghệ, hoàn toàn không thể nói chuyện được vì âm thanh quá lớn. Đủ loại hát dân ca hay hát tân nhạc, nhạc Việt hay nhạc ngoại quốc… Lắm khi không cần đến văn nghệ nhà hàng mà chỉ giọng hát của thực khách đã không đủ thời giờ để trình diễn. Sân khấu kéo đến gần khán giả. Một bà mẹ vợ quá sức vui vì đẩy được cô con gái bướng bỉnh lên xe hoa cầm micro ca Bằng lòng đi em, trẻ con leo lên bứt bong bóng nhảy nhót trên sân khấu, một ông say xỉn lạng quạng ca bài Yêu là cưới… Riêng 60 năm cuộc đời không hiểu sao dường như là bài hát không thể thiếu trong các đám cưới.
Tiệc cưới giữa miền Nam và Bắc cũng có sự khác nhau. Hà Nội theo kiểu cổ, cỗ cưới nhiều món hơi giống bữa giỗ, có cả cơm tám giò chả và mỗi món nhiều ê hề. Miền Nam ít hơn, và các món thường vừa đủ, không thừa mà vừa khít. Trừ phi quá sang hay quá bình dân, còn thì thông thường bao giờ cũng năm món: súp hay gỏi, heo quay hay gà quay bánh bao, cá chẻm sốt chua ngọt, bò ra gu bánh mì… Kết thúc bằng cơm chiên, lẩu đồng quê gọi thế chắc vì nhiều rau hay lẩu hải sản gồm cá, mực và mấy con nghêu ngao ăn với mì hay bún để thực khách không còn cớ phàn nàn về nhà lục cơm nguội, tráng miệng dưa hấu hay sương sa… Chén súp be bé, con gà ta xíu xiu, cái nem nướng nhỏ nhắn khai vị khiến ai nấy no lưng lửng, không đói và cũng không thừa phí.
Bắt đầu ăn món cuối thì nhiều người đi xe máy lo rút sớm ra bãi lấy xe, giống như đi xem hát ấy mà, chứ một nhà hàng lớn thường có 3- 4 sảnh, mỗi sảnh chừng vài chục bàn tan cùng một lúc lại bị kẹt xe hoặc khó kêu taxi. Bỏ luôn món tráng miệng chạy cho lẹ!
Những kiểu kiếm tiền lạ đời ở Việt Nam
SGCN