Trước ngày em đến

“Em không thể chán nản hoài được, em yêu. Phải vượt qua chứ. Mọi doanh nhân hàng đầu đều tìm được cho mình con đường vươn lên sau bước thăng trầm. Jeffrey Archer làm được. Richard Branson cũng thế.” Anh vỗ vào cánh tay tôi, cố thúc tôi chạy theo cho kịp.

“Em nghi ngờ liệu đã bao giờ Jeffrey Archer mất việc nướng bánh ngọt chưa.” Tôi thở không ra hơi. Tôi đang mặc áo lót không phù hợp. Tôi chạy chậm lại, thõng hai tay trên đầu gối.

Anh quay người, chạy giật lùi, giọng anh mang theo không khí tĩnh mịch lạnh ngắt. “Nhưng giả sử ông ấy từng… Anh nói thế thôi. Quên chuyện kia đi, mặc một bộ quần áo tươm tất, đi thẳng tới Trung tâm giới thiệu việc làm. Hoặc anh sẽ huấn luyện em để làm việc với anh, nếu em thích. Em biết việc đó cũng hái ra tiền đấy. Và đừng lo lắng về kỳ nghỉ. Anh sẽ trả.” Tôi mỉm cười với anh.

Anh hôn gió, giọng anh vang vọng khắp đường chạy vắng vẻ. “Em có thể trả lại anh khi em đã ổn định trở lại.”

Nỗ lực đầu tiên của tôi là tìm kiếm trợ cấp cho người tìm việc. Tôi tham gia một cuộc phỏng vấn 45 phút, một cuộc phỏng vấn nhóm, trong đó tôi ngồi với một nhóm khoảng hai mươi người cả đàn ông và đàn bà chẳng tương hợp với nhau, một nửa số họ có cùng vẻ mặt hơi thảng thốt mà tôi ngờ là giống với nét mặt tôi, nửa khác là những người có bộ mặt vô hồn vô cảm vì họ đã tới đây quá nhiều lần rồi. Tôi mặc bộ đồ mà bố tôi gọi là “đồ bình dân.”

Hệ quả của những nỗ lực đó, tôi đã phải chịu đựng làm trọn một ca đêm ở lò giết mổ gà (việc này khiến tôi gặp ác mộng ròng rã suốt mấy tuần liền), và hai ngày theo khóa tập huấn làm Người tư vấn sức khỏe tại nhà. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra rằng về cơ bản tôi đang được đào tạo để chăm sóc người già, thế nên tôi nói với Syed, “người tư vấn” của cá nhân tôi rằng tôi không làm được việc đó. Anh ta khăng khăng bảo tôi tiếp tục, vậy là tôi liệt kê ra một loạt việc người ta sẽ bắt tôi làm, nghe tôi nói thế thì anh im lặng một lát rồi gợi ý rằng chúng tôi (luôn là “chúng tôi” dù khá rõ ràng là người kia trong chúng tôi đã có việc làm) sẽ thử công việc khác.

Tôi làm hai tuần trong một chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh. Khoảng thời gian đó cũng ổn, tôi có thể đối phó được chuyện chiếc mũ đồng phục làm tóc tôi cứng đơ, nhưng tôi không chịu nổi cứ phải bám chặt vào kịch bản “những lời đáp phù hợp”, với những câu như “Hôm nay tôi có thể giúp gì cô?” và “Anh có muốn phần khoai tây chiên cỡ lớn với món đó không?” Tôi đã bị cho thôi việc sau khi một tràng những cô nàng bán bánh vòng bắt gặp tôi đang bàn tán về bao nhiêu giá trị khác nhau của đồ chơi trí tuệ với một đứa trẻ bốn tuổi. Tôi có thể nói gì được đây? Nó là một cô bé bốn tuổi rất thông minh. Tôi thì cũng có cùng ý nghĩ là những nàng công chúa ngủ trong rừng thật là ngớ ngẩn.

Giờ tôi đang ngồi tham dự cuộc phỏng vấn thứ tư, Syed lướt suốt màn hình máy tính cảm ứng để tìm thêm “cơ hội” việc làm. Ngay cả Syed, luôn mang thái độ vô cùng vui vẻ của một người đã giúp những ứng viên khó tìm việc nhất có công việc, cũng đang bắt đầu nói giọng hơi chán nản.

“À… Cô đã bao giờ nghĩ tới chuyện tham gia công nghiệp giải trí chưa?” “Sao cơ, như diễn viên kịch câm ấy hả?”

“Thật ra không phải thế. Nhưng có một vị trí trống cần vũ nữ múa cột. Đúng hơn là mấy vị trí.”

Tôi nhướng mày. “Xin hãy nói với tôi là anh đang đùa đi.”

“Ba mươi giờ một tuần tùy chọn thời điểm. Tôi tin là tiền boa sẽ cao.”

“Làm ơn, làm ơn nói với tôi là không phải anh đang tư vấn cho tôi làm một công việc mà tôi phải mặc đồ lót lượn lờ trước mặt người lạ.”

“Cô nói cô cởi mở với mọi người. Và trông cô có vẻ… lòe loẹt… quần áo.” Anh liếc nhìn xuống chiếc quần bó của tôi, nó mang màu xanh đính kim sa. Tôi đã nghĩ nó sẽ làm tôi vui vẻ lên. Thomas đã ngâm nga bản nhạc nền của phim hoạt hình Nàng tiên cá để trêu chọc tôi gần như suốt giờ ăn sáng.

Syed gõ gì đó lên bàn phím. “Thế người giám sát phòng chat dành cho người lớn thì sao?”

Tôi nhìn anh trân trân.

Anh ta nhún vai. “Cô bảo cô thích nói chuyện với mọi người mà.”

“Không. Và không làm tiếp viên quán bar bán nuy. Hay nhân viên mát-xa. Hay người điều chỉnh webcam. Thôi nào, Syed. Phải có việc gì đó tôi có thể làm mà thực sự không khiến bố tôi lên cơn đau tim chứ.”

Điều này có vẻ làm anh ta bế tắc. “Chẳng còn gì nhiều ngoài những cơ hội bán hàng thời gian tự do.”

“Việc xếp hàng trên giá siêu thị buổi tối thì sao?” Tôi đã làm việc đó nhiều lần nên rất thành thạo.

“Có cả một danh sách chờ ở đây. Phụ huynh có xu hướng thích làm việc đó, vì nó trùng với giờ tới trường của con cái,” anh ta nói giọng có lỗi. Rồi anh ta lại nghiên cứu màn hình. “Thế thì chúng ta thực sự chỉ còn lại việc chăm sóc thôi.”

“Rửa đít cho người già.”

“Louisa ạ, tôi e là cô không đủ tiêu chuẩn làm gì khác. Nếu cô muốn được học nghề, tôi sẽ rất vui lòng chỉ cho cô định hướng đúng. Có rất nhiều khóa học ở trung tâm giáo dục dành cho người lớn.”

“Nhưng chúng ta đã nói rõ chuyện này rồi mà, Syed. Nếu tôi làm thế, tôi sẽ mất tiền trợ cấp người tìm việc, phải không?”

“Đúng thế, vì cô không còn rảnh rang để sẵn sàng làm việc.”

Chúng tôi ngồi im lặng một lát. Tôi nhìn ra cửa, nơi có hai anh chàng bảo vệ lực lưỡng đang đứng. Tôi tự hỏi có phải họ tìm được công việc đó qua Trung tâm giới thiệu việc làm này.

“Tôi không giỏi chăm sóc người già đâu Syed. Ông tôi sống cùng nhà kể từ khi bị tai biến, tôi không xoay xở được với ông.” “A! Thế là cô đã có chút kinh nghiệm chăm sóc.” “Không hẳn. Mẹ tôi làm mọi thứ cho ông.”

“Mẹ cô có thích công việc đó không?” “Buồn cười.”

“Có gì buồn cười đâu.”

“Còn để tôi chăm sóc ông tôi ư? Không đâu, cảm ơn. Ông tôi sẽ bảo thế, mà phải nói là cả tôi cũng vậy. Anh có việc gì ở quán cà-phê không?”

“Tôi không nghĩ là còn đủ quán cà-phê để đảm bảo việc làm cho cô, Louisa. Chúng ta có thể thử làm ở quán gà rán Kentucky. Ở đó cô kiếm được tốt hơn đấy.”

“Bởi vì phục vụ gà rán thì tôi sẽ nhận được nhiều hơn phục vụ bánh đùi gà hay sao? Tôi không nghĩ thế đâu.”

“À, thế thì có lẽ chúng ta sẽ phải tìm việc ra xa xa.”

“Chỉ có bốn chuyến xe buýt lên xuống từ thị trấn nhà tôi. Anh biết rồi đấy. Và tôi biết anh đã bảo tôi nên xem xét tới xe buýt du lịch, nhưng tôi đã gọi cho nhà ga thì biết năm giờ chiều là hết chuyến rồi. Vả lại giá vé đắt gấp đôi xe buýt bình thường.”

Syed ngả lưng ra ghế. “Thế thì thế này, Louisa ạ, tôi thực sự phải nói rõ rằng với tư cách một người phù hợp và được phép nhận tiền trợ cấp, để tiếp tục đủ tiêu chuẩn nhận khoản tiền đó, cô cần…”

“… thể thiện rằng tôi đang nỗ lực tìm việc. Tôi biết chứ.”

Làm sao tôi giải thích được với người đàn ông này tôi muốn làm việc tới mức nào? Anh ta có láng máng hiểu dù chỉ một chút xíu tôi nhớ công việc cũ ra sao hay không? Thất nghiệp với tôi vốn chỉ là một khái niệm, một thứ được nhắc đến bai bải trên bản tin về các xưởng đóng tàu và nhà máy sản xuất ô-tô. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng con người ta có thể nhớ công việc như nhớ chân tay mình – một thứ gắn bó máu thịt như thân thể. Tôi đã không nghĩ rằng mất việc không chỉ mang lại nỗi lo sợ hiện hữu về tiền bạc và tương lai, mà còn khiến ta thấy bản thân thiếu khả năng, hơi vô dụng. Ta sẽ cảm thấy khó thức dậy mỗi sáng hơn cả khi bị đồng hồ báo thức đánh thức một cách phũ phàng. Ta sẽ nhớ những người từng làm việc cùng mình, bất kể ta với họ có ít điểm chung ra sao. Hoặc thậm chí có khi ta còn phát hiện ra mình đang tìm kiếm những gương mặt thân quen trong khi cuốc bộ trên phố đông. Lần đầu tiên nhìn thấy Quý bà Bồ công anh thẩn thơ đi qua quán cũ, trông cụ ngơ ngác như chính cảm giác trong lòng tôi lúc đó, tôi phải cố lắm mới kiềm chế được thôi thúc bước tới ôm cụ một cái.

Giọng Syed phá tan khoảnh khắc mơ màng của tôi. “Aha. Việc này có khi phù hợp đây.”

Tôi cố soi mắt vào màn hình.

“Nhìn kỹ xem nào. Mục này nhỏ lắm. Vị trí chăm sóc.” “Tôi đã bảo anh là tôi không giỏi chăm sóc…”

“Đây không phải người già. Đây là một… vị trí riêng. Giúp việc trong nhà người ta, địa chỉ cách nhà cô khoảng ba cây số. Chăm sóc và đồng hành với một người đàn ông khuyết tật. Cô biết lái xe không?”

“Có. Nhưng tôi có phải chùi…”

“Không yêu cầu chùi đít, theo tôi thấy thì thế.” Anh ta lướt khắp màn hình. “Anh ta bị… bị liệt tứ chi. Anh ta cần một người cho ăn và giúp việc ban ngày. Thường thì với những việc như thế này, người làm cần có mặt khi họ muốn đi đâu đó ra ngoài, giúp đỡ những việc căn bản mà họ không thể tự làm. Oa. Nhiều tiền đấy. Nhiều hơn lương tối thiểu nhiều.”

“Có lẽ là vì công việc đòi hỏi phải chùi đít.”

“Tôi sẽ gọi cho họ để đảm bảo không có vụ chùi đít. Nhưng nếu đó là yêu cầu bắt buộc, cô vẫn sẽ tới phỏng vấn chứ?”

Anh nói câu đó như đặt câu hỏi.

Nhưng cả hai chúng tôi đều biết câu trả lời.

Tôi thở dài, rồi cầm túi lên chuẩn bị lên đường về nhà.

“Chúa ơi,” bố tôi thốt lên. “Các người có tưởng tượng nổi không? Nếu kết cục cuộc đời phải ngồi trên một chiếc xe lăn kềnh càng chưa phải là một hình phạt đủ nặng, thì các người sẽ có Lou nhà tôi tới làm bạn với các người đây.”

“Bernard!” mẹ tôi gắt.

Sau lưng tôi, ông ngoại cười khùng khục bên tách trà trên tay.

Chương 2

Tôi không ngu độn. Tôi chỉ muốn thoát khỏi ý nghĩ mình là đứa ngu độn. Nhưng thật khó mà không cảm thấy mình hơi thiếu tế bào não khi lớn lên bên một cô em gái không chỉ nhảy cóc một bậc vào lớp của tôi, mà rồi sau đó còn vượt lên học trước một lớp.

Tất cả những gì đòi hỏi sự nhạy cảm hoặc trí thông minh, Katrina đều làm trước, dù con bé thua tôi mười tám tháng tuổi. Tất cả sách tôi từng đọc nó đều đọc trước, mọi chuyện tôi kể lể bên bàn ăn tối nó đều biết tỏng cả rồi. Nó là người duy nhất trên đời mà tôi biết thực sự thích làm bài kiểm tra. Đôi khi tôi nghĩ tôi chọn cách ăn mặc hiện nay là vì thứ duy nhất Treena không thể làm là kết hợp quần áo. Nó là kiểu con gái chuyên quần jeans, áo thun. Sáng kiến của nó là ủi quần jeans trước.

Bố tôi bảo tôi là “cá biệt,” vì tôi thường nghĩ tới đâu nói tới đó. Ông hay bảo tôi giống cô Lily, một người tôi chưa từng biết. Kể cũng hơi lạ lùng khi cứ bị so sánh với một người mình chưa gặp bao giờ. Nếu tôi đi đôi bốt tím xuống gác, bố sẽ hất đầu với mẹ rồi nói, “Em có nhớ cô Lily với đôi bốt tím của cô ấy không hả?”, mẹ sẽ khùng khục trong cổ họng rồi cười phá lên như thể có trò đùa gì bí mật lắm. Mẹ bảo tôi là “cá tính”, một cách lịch sự cho biết bà chẳng hiểu nổi cách ăn mặc của tôi.

Nhưng ngoại trừ một giai đoạn ngắn thời tuổi teen, tôi không bao giờ muốn giống Treena, hay bất cứ bạn gái nào ở trường; tới năm mười bốn tuổi tôi vẫn thích quần áo con trai hơn, còn giờ tôi thường chiều ý mình – tùy theo tâm trạng ngày hôm ấy của tôi ra sao. Tôi không bận tâm tới chuyện phải cố khoác lên mình dáng dấp truyền thống. Tôi mi nhon, tóc đen, và theo bố tôi thì tôi có khuôn mặt tiểu yêu. Không phải giống như trong “nữ yêu xinh đẹp”. Tôi ưa nhìn, nhưng tôi không nghĩ có ai lại bảo tôi là xinh đẹp. Tôi không có vẻ duyên dáng yêu kiều. Patrick khen tôi tuyệt đẹp mỗi khi anh muốn làm tình, nhưng anh là kiểu người khá dễ hiểu như thế. Chúng tôi quen nhau đã gần bảy năm.

Tôi hai mươi sáu tuổi, tôi không thực sự hiểu rõ về cuộc đời mình. Tôi nghĩ rồi đây mình sẽ cưới Patrick, sinh ra mấy đứa con, sống cách nơi tôi ở suốt từ nhỏ tới giờ chỉ vài con phố. Ngoài chuyện ăn mặc hơi kỳ lạ và có chiều cao hơi khiêm tốn, không có gì nhiều phân biệt tôi với bất kỳ cô gái nào lướt qua trên phố. Có lẽ chẳng ai ngoái lại nhìn tôi lần nữa. Một cô gái bình thường, sống một cuộc sống bình thường. Điều đó thực sự rất phù hợp với tôi.

“Đi phỏng vấn thì con phải mặc vest chứ,” mẹ tôi khăng khăng. “Bây giờ ai cũng ăn mặc thoải mái quá thể.”

“Bởi vì mặc đồ sọc tăm sẽ hết sức cần thiết nếu con phải bón cơm cho một cụ già.”

“Đừng có tinh tướng.”

“Con không đủ tiền mua vest. Nếu con không nhận được việc đó thì sao?” “Con có thể mặc đồ của mẹ, mẹ sẽ ủi cái áo choàng dễ coi cho con, và ít nhất một lần này thôi, đừng có buộc tóc bằng những thứ kiểu…” bà chỉ nên mái tóc tôi, nó thường được buộc hai bên bằng hai cái nơ sẫm màu “… Công chúa Leia như thế. Thử cố trông như người bình thường một chút đi.”

Tôi biết tốt nhất là không nên tranh luận với mẹ. Và tôi biết chắc bố đã được phím trước là không được bình luận gì về quần áo của tôi khi tôi bước ra khỏi nhà, về dáng đi kỳ cục của tôi trong chiếc váy quá chật.

“Tạm biệt con yêu,” ông nói, khóe miệng cau lại. “Chúc may mắn nhé. Trông con rất có dáng… công sở.”

Điều gây khó xử không phải là chuyện tôi đang mặc bộ vest của mẹ, cũng không phải vì nó là mốt sau cùng của cuối thập niên 1980, mà là nó thực sự quá bé so với tôi. Tôi cảm thấy thắt lưng chiếc váy siết chặt lấy cơ hoành của mình, thế nên tôi kéo chiếc áo khoác đúp ngực sát vào người. Như bố tôi thường nói với mẹ, chỉ béo hơn có cái kẹp tăm.

Tôi ngồi suốt chặng xe buýt ngắn, cảm thấy hơi mệt mỏi. Tôi chưa bao giờ đi phỏng vấn xin việc đúng nghĩa. Tôi vào làm ở quán Bánh Bơ sau khi nghe Treena đánh cá là tôi không thể tìm được việc trong vòng một ngày. Tôi đi vào quán và hỏi thẳng Frank xem ông có cần một đôi tay còn rảnh rang không. Đó là ngày đầu tiên ông mở quán nên ông biết ơn chẳng để đâu cho hết.

Giờ nghĩ lại, tôi thậm chí không nhớ nổi mình có thảo luận về tiền bạc với ông hay không. Ông đề nghị trả lương theo tuần, tôi đồng ý, và mỗi năm một lần, ông bảo tôi là ông đã tăng ít lương cho tôi, thường là nhiều hơn một chút so với mức tôi định yêu cầu.

Tóm lại thì người ta hỏi gì khi phỏng vấn nhỉ? Và nếu họ yêu cầu tôi làm một việc gì đó thực tế với ông già này, kiểu như cho ông ta ăn hoặc tắm cho ông ta thì sao? Syed đã nói là có một người đàn ông chăm sóc đảm nhiệm “những yêu cầu tế nhị” (tôi để trong ngoặc kép). Anh ta bảo công việc của người chăm sóc thứ hai là “ở đây mô tả hơi mù mờ”. Tôi tưởng tượng ra cảnh mình chùi nước dãi khỏi miệng ông già, có thể còn hỏi thật to, “ÔNG TA CÓ MUỐN UỐNG TRÀ KHÔNG?”

Khi ông ngoại lần đầu hơi hồi tỉnh sau khi bị tai biến, ông không thể tự mình làm được việc gì. Mẹ tôi làm tất tật. “Mẹ con là một vị thánh,” bố nói, điều đó với tôi có nghĩa là bà chùi đít cho ông ngoại mà không phải lao ra khỏi nhà vừa chạy vừa la. Tôi khá chắc là sẽ không bao giờ có ai mô tả về tôi như thế. Tôi có thể cắt nhỏ đồ ăn và pha trà cho ông, nhưng còn tất cả những việc khác tôi không chắc mình có thể làm cho ra hồn.

Dinh thự Granta nằm phía bên kia lâu đài Stortfold, gần những bức tường thành xây từ thời trung đại, trên đoạn đường dài không lát đá chỉ mọc lên bốn ngôi nhà và cửa hàng National Trust, nằm ngay giữa khu du lịch. Tôi đã đi qua ngôi nhà này cả triệu lần mà chưa từng nhìn kỹ nó. Lúc này đây, khi bước ngang qua bãi đỗ xe và đường ray nhỏ, cả hai đều vắng bóng người và đều hoang lương như một nét quyến rũ của mùa hè xuất hiện giữa tháng Hai, tôi thấy nó lớn hơn hình dung, gạch đỏ với hai chái, kiểu nhà ta thường thấy trong những số cũ của tạp chí Country Life trong khi chờ đợi ở phòng khám.

Tôi bước trên con ngõ dài, cố không nghĩ xem liệu có ai đang quan sát mình từ cửa sổ hay không. Bước trên con ngõ dài hay đẩy người ta vào thế kẹt; tự nhiên nó khiến người ta cảm thấy mình thấp kém thế nào. Tôi đang tập trung nghĩ xem có nên vén tóc mái lên không thì cánh cửa bật mở khiến tôi giật nảy người.

Một phụ nữ, không lớn hơn tôi là bao, bước ra thềm. Cô mặc quần đen, áo thụng trông giống áo bác sĩ, dưới nách cặp một cái áo khoác và một xấp giấy tờ. Khi bước qua tôi, cô mỉm cười lịch sự.

“Và cảm ơn rất nhiều vì đã tới,” một giọng nói từ trong vẳng ra. “Chúng tôi sẽ liên lạc lại. A, chào.” Một phụ nữ xuất hiện, gương mặt đã tuổi trung niên nhưng còn rất đẹp ẩn dưới mái tóc cắt tỉa khéo léo xa xỉ. Bà mặc một bộ đồ tây mà tôi đoán là có giá cao hơn số tiền bố tôi kiếm được trong một tháng.

“Chắc cô là cô Clark.”

“Louisa ạ.” Tôi đưa tay ra, đúng như mẹ tôi đã ép tôi phải làm. Giới trẻ thời nay chẳng bao giờ đưa tay ra bắt nữa, bố mẹ tôi cùng có ý kiến đó. Thời xưa thì đừng có mơ có người dám nói “chào!”, hoặc tệ hơn là hôn phớt. Người phụ nữ này có vẻ không phải là kiểu người chào đón một cái hôn phớt.

“Phải. Đúng rồi. Cô vào đi.” Bà rút bàn tay khỏi tay tôi nhanh nhất trong chừng mực của phép giao tế, nhưng tôi cảm thấy ánh mắt bà còn nấn ná nhìn, như thể bà đang đánh giá tôi.

“Mời cô vào trong này. Chúng ta sẽ nói chuyện ở phòng khách. Tôi là Camilla Traynor.” Trông bà có vẻ chán nản, như thể ngày hôm nay bà đã thốt ra cùng những từ đó nhiều lần lắm rồi.

Tôi theo bà vào một căn phòng rộng bát ngát với những khung cửa sổ kiểu Pháp kéo từ trần xuống sàn nhà. Những tấm rèm nặng trịch trang nhã rủ xuống từ những thanh treo rèm to tướng bằng gỗ gụ, còn sàn nhà trải thảm Ba Tư trang trí cầu kỳ. Căn phòng mang mùi sáp ong và đồ nội thất cổ. Khắp phòng là những chiếc bàn nhỏ sang trọng, bề mặt bóng loáng của chúng đặt đầy những chiếc hộp trang trí. Trong một thoáng tôi tự hỏi chẳng biết nhà Traynor còn đặt tách trà vào đâu được.

“Cô tới đây thông qua tư vấn của Trung tâm giới thiệu việc làm phải không?

Cô ngồi đi.”

Trong khi bà lật tập hồ sơ, tôi lén nhìn quanh phòng. Lúc trước tôi cứ nghĩ có lẽ ngôi nhà mình sắp tới sẽ hơi giống viện dưỡng lão, với hàng loạt máy cẩu và mọi bề mặt đều trống trơn. Nhưng ngôi nhà này trông giống một trong những khách sạn đắt đỏ kinh hoàng, tắm trong tiền của giới đại gia lâu đời, với những thứ đồ tuyệt diệu thoạt trông đã biết rất giá trị. Có nhiều khung ảnh bằng bạc trên tủ ly, nhưng tôi ngồi quá xa để có thể nhìn rõ mặt người trong ảnh. Trong khi bà chủ lướt qua từng trang hồ sơ, tôi cựa người trên ghế, cố tạo dáng ưa nhìn hơn.

Đúng lúc đó tôi nghe thấy nó – âm thanh không lẫn vào đâu được của tiếng toạc chỉ. Tôi liếc xuống thì thấy hai vạt váy bên phải đã nứt toác ra, những mảnh xơ vải lụa xù lên lởm chởm ở một bên mép vải. Tôi thấy mặt mình đỏ bừng bừng.

“Thế. Cô Clark… cô có kinh nghiệm chăm sóc người bị liệt không?”

Tôi quay sang nhìn bà Traynor, nhoài người để chiếc áo khoác che được chiếc váy càng nhiều càng tốt.

“Không.”

“Cô làm công việc chăm sóc được lâu chưa?”

“À… Thực ra tôi chưa bao giờ làm việc đó,” tôi đáp, rồi nói tiếp, như thể đang nghe thấy tiếng Syed văng vẳng bên tai, “nhưng tôi chắc tôi có thể học.”

“Cô có biết một người bị liệt là thế nào không?”

Tôi nao núng. “Là khi… người đó ngồi rịt trên xe lăn phải không ạ?”

“Tôi nghĩ đó cũng là một cách định nghĩa. Có nhiều cấp độ khác nhau, nhưng trong trường hợp này chúng ta đang nói về tình trạng hoàn toàn mất khả năng điều khiển chân, và chỉ còn rất ít khả năng điều khiển bàn tay và cánh tay. Chuyện đó có gây phiền cho cô không?”

“Chắc chắn là không bằng nó gây phiền cho ông ấy.” Tôi cố mỉm cười, nhưng gương mặt của bà Traynor vô cảm. “Xin lỗi… tôi không có ý…”

“Cô biết lái xe không, cô Clark?” “Có.”

“Bằng lái sạch chưa phạm luật chứ?” Tôi gật đầu.

Camilla Traynor đánh dấu gì đó vào tờ danh sách.

Khoảng rách mỗi lúc một lớn. Tôi có thể thấy nó lấn lên đùi một cách không thể cưỡng lại. Cứ thế này thì tới lúc đứng lên tôi sẽ chẳng khác gì một cô nàng múa phụ họa ở Vegas.

“Cô ổn chứ?” Bà Traynor nhìn tôi chằm chằm.

“Tôi chỉ thấy hơi ấm. Tôi cởi áo khoác ra có được không ạ?” Bà chưa kịp nói gì, tôi đã kéo tuột áo khoác ra rồi buộc quanh hông, che giấu vết rách trên váy. “Nóng thật đấy,” tôi nói, mỉm cười với bà, “đi từ ngoài trời vào mà. Bà biết đấy.”

Sau chỉ một thoáng ngập ngừng, bà Traynor nhìn lại tập hồ sơ. “Cô bao nhiêu tuổi?”

“Tôi hai mươi sáu.”

“Và cô đã làm công việc cũ trong sáu năm.”

“Vâng. Bà có bản photo thư giới thiệu của tôi đấy ạ.”

“Ừm…” Bà Traynor giơ nó lên rồi nheo mắt. “Người chủ trước của cô bảo rằng cô ấm áp, nhanh miệng và làm đẹp cho cuộc sống.”

“Vâng, tôi đã trả tiền để ông ấy ghi thế.” Lại cái khuôn mặt lạnh như tiền đó.

Ôi trời ơi, tôi thầm kêu lên trong lòng.

Cứ như thể tôi đang bị dò xét ấy. Không hẳn là theo nghĩa tích cực. Chiếc sơ-mi của mẹ tôi đột nhiên trở nên thật rẻ tiền, sợi vải tổng hợp lóe lên trong ánh sáng lờ mờ. Thà tôi mặc bất cứ thứ gì còn hơn là bộ đồ này.

“Thế tại sao cô lại bỏ công việc đó, nơi mà rõ ràng là cô được đánh giá rất cao.”

“Ông chủ Frank đã bán quán cà-phê. Cái quán đang ở dưới chân tòa lâu đài đấy ạ. Quán Bánh Bơ. Đã,” tôi tự sửa lại. “Nếu còn được làm ở đó thì tôi mừng lắm.”

Bà Traynor gật đầu, hoặc vì bà cảm thấy chẳng cần nói thêm gì nữa về chuyện này, hoặc vì bà cũng thấy thật mừng cho tôi nếu tôi còn được làm ở đó.

“Thế chính xác thì cô muốn làm gì với cuộc đời mình?” “Gì cơ ạ?”

“Cô có khao khát làm công việc nào không? Đây có phải là bước đệm cho

một việc gì khác? Có giấc mơ sự nghiệp nào mà cô ao ước theo đuổi không?” Tôi nhìn bà vẻ mặt ngơ ngác.

Đây có phải là một dạng câu hỏi đánh đố không?

“Tôi… tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ xa tới thế. Kể từ khi tôi bị mất việc. Tôi chỉ…” Tôi nuốt khan. “Tôi chỉ muốn lại được làm việc.”

Nghe thật lãng nhách. Kiểu người gì đi phỏng vấn mà thậm chí còn chẳng biết mình muốn làm gì? Vẻ mặt của bà Traynor cho thấy bà cũng nghĩ thế.

Bà đặt cây viết xuống. “Thế, cô Clark, tại sao tôi lại nên thuê cô mà không thuê người khác, ví như người xin việc liền trước cô với năm năm kinh nghiệm chăm sóc người bị liệt?”

Tôi nhìn bà. “Ừm… thật lòng ạ? Tôi không biết nữa.” Sau câu nói đó là một sự im lặng, thế nên tôi nói thêm, “Tôi nghĩ đó bà quyền của bà.”

“Cô không thể đưa ra lấy một lý do tại sao tôi nên thuê cô ư?”

Gương mặt mẹ tôi đột nhiên hiện ra trước mắt. Ý nghĩ trở về nhà với bộ váy rách và một cuộc phỏng vấn nữa thất bại thật quá sức chịu đựng của tôi. Mà công việc này được trả tới hơn 9 bảng một giờ.

Tôi hơi thẳng người lên. “À… Tôi học rất nhanh, tôi không ốm bao giờ, tôi sống ngay bên kia lâu đài, tôi khỏe mạnh hơn vẻ bề ngoài… có thể đủ khỏe để hỗ trợ đẩy chồng bà đi vòng vòng…”

“Chồng tôi? Cô sẽ không làm việc với chồng tôi. Đó là con trai tôi.”

“Con trai bà?” tôi chớp mắt. “Ừm… Tôi không sợ làm việc nặng. Tôi giỏi làm việc với mọi kiểu người và tôi pha trà ngon.” Tôi bắt đầu nói lảm nhảm lung tung. Ý nghĩ đó là con trai bà khiến tôi rối bời. “Ý tôi là, bố tôi thì nghĩ đó không phải chuyện gì vĩ đại mà phải kể ra. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì trên đời này không có nhiều thứ không thể thu xếp được bằng một tách trà ngon…”

Cách bà Traynor nhìn tôi có vẻ gì đó hơi lạ.

“Xin lỗi,” tôi lắp bắp khi nhận ra điều mình vừa nói. “Tôi không định nói tới thứ đó… bệnh liệt hai chân… liệt tứ chi… với… con trai bà… có thể giải quyết bằng một tách trà.”

“Tôi phải nói thế này, cô Clark, đây không phải một hợp đồng lâu dài. Lâu nhất cũng chỉ sáu tháng thôi. Vì thế nên mới có mức lương… cạnh tranh. Chúng tôi muốn thu hút người phù hợp.”

“Hãy tin tôi, khi đã làm mấy ca ở lò giết mổ gà, thì phải làm việc ở vịnh Guantánamo sáu tháng liền nghe vẫn hấp dẫn.” Ôi, im ngay, Louisa. Tôi cắn môi.

Nhưng bà Traynor dường như không để ý. Bà đóng hồ sơ lại. “Con trai tôi – Will – bị thương trong một tai nạn giao thông xảy ra gần hai năm trước. Nó cần được chăm sóc hai tư trên hai tư, phần lớn những công việc đó đã được một y tá có nghề thực hiện. Tôi mới đi làm trở lại, thế nên yêu cầu đối với người chăm sóc là ở đây suốt ngày để cận kề nó, giúp nó ăn uống, nói chung là thêm chân thêm tay, và đảm bảo nó không gặp nguy hiểm gì.” Camilla Traynor nhìn xuống lòng. “Điều quan trọng nhất là Will có một người ở bên cạnh hiểu rõ nhiệm vụ đó.”

Mọi điều bà nói, thậm chí cả cách bà nhấn mạnh từng từ, dường như bóng gió ám chỉ tới bản tính có phần ngờ nghệch của tôi.

“Tôi hiểu rồi ạ.” Tôi bắt đầu cầm túi lên. “Thế cô có muốn làm công việc này không?”

Câu nói đó quá bất ngờ tới nỗi thoạt tiên tôi nghĩ mình đã nghe nhầm. “Sao cơ ạ?”

“Chúng tôi cần cô bắt đầu càng sớm càng tốt. Lương trả theo tuần.”

Trong một thoáng tôi chẳng nói thành lời. “Bà muốn nhận tôi thay vì…” tôi mở miệng.

“Thời gian làm việc khá dài – tám giờ sáng tới năm giờ chiều, thỉnh thoảng muộn hơn. Không có nghỉ trưa, tuy nhiên vào giờ ăn trưa khi Nathan, y tá thường trực của nó tới chăm sóc cho nó, thì sẽ có nửa tiếng rảnh rang.”

“Bà không cần thứ gì liên quan tới… y tế?”

“Will có mọi chăm sóc y tế mà chúng tôi có thể dành cho nó rồi. Điều chúng tôi cần cho nó là một người khỏe mạnh… và vui vẻ. Cuộc sống của nó quá… khó khăn, thế nên điều quan trọng là nó được khích lệ để…” Bà bỏ dở câu, ánh mắt chăm chú vào đâu đó bên ngoài những ô cửa sổ kiểu Pháp. Cuối cùng, bà quay lại nhìn tôi. “Thôi, nói đơn giản là với chúng tôi sức khỏe tinh thần của nó cũng quan trọng không kém gì sức khỏe thể chất. Cô hiểu chứ?”

“Tôi hiểu rồi. Tôi có phải… mặc đồng phục không?”

“Không. Tuyệt đối không mặc đồng phục.” Bà liếc xuống chân tôi. “Tuy nhiên có lẽ cô nên mặc gì đó… bớt lộ hơn.”

Tôi liếc xuống chỗ chiếc áo khoác của tôi chệch ra, để lộ một mảng lớn đùi trần. “Nó… Tôi xin lỗi. Nó bị rách. Thật ra nó không phải của tôi.”

Nhưng có vẻ như bà Traynor không nghe nữa rồi. “Tôi sẽ giải thích những việc cần làm khi cô bắt đầu. Lúc này Will không phải người dễ tính nhất để ở bên cạnh đâu, cô Clark. Công việc này đòi hỏi thái độ tinh thần không thua gì bất kể… kỹ năng nghiệp vụ nào mà có thể cô có đâu. Thế nên. Ngày mai chúng tôi sẽ gặp cô chứ?”

“Ngày mai ư? Bà không muốn… bà không muốn tôi gặp anh ta sao?”

“Hôm nay tâm trạng Will không tốt. Tôi nghĩ tốt nhất chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu sau.”

Tôi đứng lên, nhận ra bà Traynor đã chờ thấy tôi đi về.

“Vâng,” tôi nói, giật cái áo khoác của mẹ ôm quanh người. “Ừm. Cảm ơn bà.

Tôi sẽ gặp bà vào tám giờ sáng ngày mai.”

***

Mẹ đang múc khoai tây vào vào đĩa của bố. Bà múc hai muỗng, ông gạt ra, múc muỗng thứ ba và thứ tư từ đĩa lớn. Mẹ chặn bố lại, xúc hai muỗng đó trở lại đĩa lớn, cuối cùng dùng muỗng gõ vào khớp tay bố khi ông đòi múc lại. quanh chiếc bàn nhỏ là bố mẹ tôi, em gái tôi và Thomas, ông ngoại tôi, và Patrick – tối thứ Tư nào anh cũng qua ăn.

“Bố ơi,” mẹ nói với ông ngoại. “Để ai đó cắt nhỏ thức ăn cho bố nhé?

Treena, con cắt nhỏ thức ăn cho ông được không?”

Treena vươn người tới bắt đầu cắt thức ăn trên đĩa của ông bằng những

đường dao khéo léo. Sau đó nó cũng làm y như thế cho Thomas. “Tình hình của anh chàng đó tệ tới mức nào hả Lou?”

“Chẳng thể kỳ vọng gì nhiều một khi người ta vui lòng để cho con gái chúng ta giải tỏa tinh thần cho cậu ta,” Bernard bình luận. Sau lưng tôi, ti-vi bật để bố và Patrick xem bóng đá. Thỉnh thoảng họ lại dừng, nhìn ló qua tôi, miệng ngừng nhai khi xem những pha qua người hoặc suýt vào.

“Em nghĩ đây là một cơ hội lớn. Con bé sẽ làm việc trong một dinh thự. Một gia đình tốt. Họ có quyền quý không con yêu?”

Trong phố chúng tôi, “quyền quý” thường dùng để chỉ một người không có người thân trong gia đình có chân trong hội Chống đối xã hội.

“Con nghĩ là có.”

“Hy vọng là con đã tập cúi đầu chào.” Bố tôi cười nhăn nhở.

“Thật ra chị đã gặp anh ta chưa?” Treena vươn người kéo ly nước ép của Thomas vào kẻo nó huých đổ xuống sàn. “Anh chàng bị tàn tật ấy? Trông anh ta thế nào?”

“Nhưng cũng kỳ cục nhỉ. Ngày nào con cũng ở bên cậu ta suốt cả ngày. Chín tiếng đồng hồ. Con sẽ gặp cậu ta nhiều hơn gặp Patrick.”

“Có gì ghê gớm đâu,” tôi nói.

Dù ngồi đối diện tôi qua bàn, Patrick vờ như chẳng nghe thấy tôi nói gì. “Nhưng con sẽ không phải lo lắng về trò quấy rối tình dục cũ mèm ấy, nhỉ?” bố tôi nói.

“Bernard!” mẹ tôi gắt.

“Anh chỉ nói lên điều ai cũng nghĩ thôi. Có lẽ là ông chủ tốt nhất cậu có thể tìm cho bạn gái, nhỉ, Patrick?”

Bên kia bàn, Patrick mỉm cười. Anh đang bận từ chối món khoai tây, dù mẹ ra sức mời. Tháng này anh không ăn món gì có các-bon để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc thi marathon vào đầu tháng Ba.

“Con biết không, mẹ đang nghĩ, con có phải học ngôn ngữ ám hiệu không nhỉ? Ý mẹ là, nếu cậu ta không thể giao tiếp, làm sao con biết được cậu ta muốn gì?”

“Bà ấy không bảo anh ta không nói được, mẹ ạ.” Tôi chẳng nhớ rõ những gì bà Traynor đã nói. Tôi hơi choáng váng vì thật sự được nhận vào làm.

“Có thể anh ta nói qua một trong mấy cái thiết bị đó. Giống như ông nhà khoa học nọ ấy mà. Ông xuất hiện trong phim hoạt hình Gia đình nhà Simson ấy.

“Chết tiệt,” Thomas lên tiếng. “Không phải,” bố tôi đáp.

“Stephen Hawking,” Patrick nói.

“Cháu nói đúng đấy, chính là ông ta,” mẹ tôi nói, hết nhìn Thomas lại nhìn bố tôi bằng ánh mắt trách móc. Bà có thể cắt bít-tết bằng cái nhìn đó. “Dạy thằng bé những từ xằng bậy.”

“Đâu có. Anh không biết thằng bé lượm từ đó từ đâu.” “Chết tiệt,” Thomas nói, nhìn thẳng vào ông ngoại nó.

Treena cau mặt. “Em nghĩ em sẽ chết khiếp nếu anh ta nói qua một trong những loại thiết bị phát tiếng nói đó. Chị tưởng tượng nổi không? Lấy-cho-tôi- ly-nước,” Treena giả giọng.

Thông minh – nhưng không đủ thông minh để giúp mình khỏi bị lừa, bố tôi thỉnh thoảng vẫn lầm bầm như thế về Treena. Nó là thành viên đầu tiên trong nhà đi học đại học, thế rồi Thomas ra đời khiến nó phải bỏ giữa chừng khi đang học năm cuối. Bố mẹ vẫn ôm mộng một ngày nào đó nó sẽ làm rạng danh gia đình. Có thể làm việc ở một nơi có bàn tiếp tân không có màn hình an ninh ở bên cạnh. Hoặc có.

“Tại sao ngồi trên xe lăn lại đồng nghĩa với việc anh ta phải nói chuyện như một quái vật ngoài hành tinh?” tôi đáp.

“Nhưng chị sẽ phải tiếp xúc gần gũi và thân mật với anh ta. Ít nhất chị sẽ phải lau miệng cho anh ta, đưa nước và các thứ.”

“Thế thì sao? Thế đâu có phải là ngành khoa học nghiên cứu phản lực.” “Có ai đã từng thay bỉm cho Thomas mà kêu lên như thế còn gì.”

“Chỉ có mỗi một lần thôi.”

“Hai lần. Mà chị mới thay cho thằng bé có ba lần cả thảy.” Tôi múc ít đỗ xanh, cố tỏ ra lạc quan hơn cảm giác trong lòng.

Nhưng ngay từ khi ngồi trên chuyến xe buýt về nhà, những ý nghĩ tương tự cũng đã bắt đầu náo loạn trong đầu tôi. Chúng tôi sẽ nói gì đây? Sẽ ra sao nếu suốt ngày anh ta cứ nghẹo đầu nhìn tôi chăm chăm? Tôi có hoảng sợ không? Nếu tôi không hiểu nổi anh ta muốn gì thì sao? Tôi đặc biệt kém trong khoản chăm sóc mọi thứ; ở nhà chúng tôi chẳng còn cây cối hay vật nuôi gì nữa sau thảm họa hamster, bọ que và cá vàng. Và bà mẹ băng giá của anh ta có thường xuyên lượn lờ qua lại không? Tôi không thích cái ý nghĩ suốt ngày bị giám sát. Bà Traynor trông có vẻ là kiểu phụ nữ sẵn sàng nhúng tay vào mọi chuyện.

“Patrick, tóm lại thì cậu nghĩ gì về tất cả chuyện này?”

Patrick uống một hơi nước thật dài, rồi nhún vai. Bên ngoài, mưa đập trên ô cửa sổ, nghe rõ hơn cả tiếng thìa nĩa và chén đĩa.

“Công việc đó được trả nhiều tiền, chú Bernard. Dù sao thế còn tốt hơn làm ca đêm ở lò giết mổ gà.”

Mọi người quanh bàn đều lầm bầm đồng tình.

“À, thật buồn cười khi điều hay ho duy nhất anh có thể nói về công việc mới của em là nó tốt hơn việc vận chuyển lũ gà đã làm thịt lòng vòng trong cái lò giết mổ rộng như kho chứa máy bay,” tôi nói.

“Ồ, con có thể vừa làm vừa tập thể dục luôn rồi tới làm mấy việc huấn luyện thể hình với Patrick đây này.”

“Tập thể dục. Cảm ơn, bố.” Tôi đã đưa tay ra định xúc thêm một thìa khoai tây, nhưng giờ lại đổi ý.

“Ồ, sao lại không nhỉ?” Mẹ trông như định ngồi xuống – mọi người ngừng lại một chốc, nhưng không, mẹ lại thẳng người lên, múc cho ông ngoại một ít nước xốt. “Chuyện đó cũng đáng suy nghĩ cho tương lai đấy. Con có khiếu nói chuyện mà.”

“Nó có khiếu tích mỡ thì có,” bố tôi đập lại.

“Con đã có cho mình một công việc,” tôi nói. “Được trả nhiều hơn việc cũ, thưa bố.”

“Nhưng đó chỉ là tạm thời thôi,” Patrick xen vào. “Bố em nói đúng đấy. Có khi em sẽ muốn bắt đầu có cơ thể thon gọn trong khi em làm việc đó. Em có thể trở thành một huấn luyện viên thể hình giỏi, nếu em chịu khó một chút.”

“Em không muốn trở thành huấn luyện viên thể hình. Em không có hứng… tất cả những trò đó… nhảy tưng tưng.” Tôi lầm bầm xúc phạm Patrick, anh chỉ cười khì khì.

“Điều Lou muốn là một công việc để chị ấy có thể thư giãn, được xem ti-vi buổi ngày trong khi cho ông tướng đó ăn uống qua ống hút,” Treena nói.

“Đúng đấy. Bởi vì cắm lại mấy bông thược dược ẻo lả vào xô nước đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của tinh thần và thể chất mà, phải không Treen?”

“Mọi người đang trêu con mà con yêu.” Bố nâng cốc trà lên. “Con có việc là tuyệt rồi. Mọi người rất tự hào về con. Và bố cá với con là một khi con đã đặt được chân vào dinh thự đó thì các vị đại gia ấy sẽ không muốn loại bỏ con đâu.”

“Chết tiệt,” Thomas bi bô.

“Không phải anh,” bố vừa nói vừa nhai, trước khi mẹ kịp nói gì.

Chương 3

“Đây là khu nhà phụ. Trước kia nó vốn là nhà kho, nhưng chúng tôi nhận thấy nó phù hợp với Will hơn nhà chính vì toàn bộ mặt bằng của nó nằm ở tầng trệt. Đây là phòng thừa để Nathan có thể ngủ lại nếu cần. Chúng tôi khá thường xuyên cần có người ở đây từ sáng sớm.”

Bà Traynor bước nhanh xuống hành lang, chỉ hết cánh cửa này sang cánh cửa khác, chẳng buồn ngoái nhìn, đôi giày cao gót của bà gõ lách cách trên sàn đá. Dường như bà kỳ vọng là tôi có thể theo kịp.

“Chìa khóa xe đây. Tôi đã để tên cô trên sổ bảo hiểm. Tôi tin những chi tiết cô cung cấp là đúng. Nathan có thể chỉ cô cách hoạt động của đường dẫn xe lăn lên ô-tô. Tất cả những gì cô phải làm là giúp Will vào đúng vị trí, phần còn lại là việc của chiếc xe. Nhưng mà… dạo này nó cũng chẳng thích đi đâu cho lắm.”

“Ngoài trời hơi lạnh,” tôi nói.

Bà Traynor có vẻ chẳng nghe thấy tôi nói gì.

“Cô có thể pha trà và cà-phê trong bếp để uống. Tôi để cả trong tủ ly. Phòng tắm đi lối này…”

Bà mở cánh cửa, tôi nhìn chăm chăm vào cái máy cẩu bọc nhựa và kim loại trắng chúc cần xuống chỗ tắm. Có một vùng ướt nước ở dưới vòi sen, bên cạnh đó là một chiếc xe lăn xếp gọn. Trong góc có một cái tủ, mặt kính cho thấy nó chứa hàng dãy hộp bọc giấy bạc xếp gọn gàng. Từ chỗ này, tôi không biết chúng là gì, nhưng tất cả tỏa ra mùi khử trùng thoang thoảng.

Bà Traynor đóng cửa lại, hơi quay mặt sang tôi. “Tôi cần phải nhắc lại, điều rất quan trọng là Will luôn có người ở bên cạnh. Người chăm sóc trước đã ra ngoài mấy tiếng để đi sửa xe, và khi cô ta vắng mặt Will đã… tự làm mình bị thương.” Bà nuốt khan, như thể vẫn còn đau lòng trước ký ức đó.

“Tôi sẽ không đi đâu cả.”

“Tất nhiên là cô sẽ cần… nghỉ ngơi giải tỏa. Tôi chỉ muốn làm rõ là cô không được để Will một mình trong những khoảng thời gian dài hơn mười tới mười lăm phút. Nếu có việc bất khả kháng thì phải gọi điện thoại nội bộ, nếu chồng tôi, Steven, ở nhà, hoặc gọi điện thoại di động cho tôi. Nếu cô cần nghỉ bữa nào, tôi phải được thông báo càng sớm càng tốt. Tìm người trông giúp không phải lúc nào cũng dễ.”

“Vâng.”

Bà Traynor mở tủ búp-phê ở sảnh. Bà nói giọng chẳng khác gì người ta đọc thuộc một bài phát biểu đã tập luyện kỹ càng.

Tôi thoáng tự hỏi đã bao nhiêu người chăm sóc từng làm việc ở đây trước tôi.

“Nếu Will bận, sẽ rất có ích nếu cô biết làm một số việc nhà cơ bản. Giặt khăn trải giường, hút bụi, đại loại thế. Dụng cụ lau dọn để phía dưới bồn rửa. Có lẽ nó sẽ không muốn cô ở bên cạnh cả ngày đâu. Cô và nó sẽ phải xác định mức độ hợp tác cho hai người.”

Bà Traynor nhìn quần áo của tôi, như thể lần đầu mới gặp. Tôi mặc một chiếc áo ghi-lê se sua, bố thường bảo cái áo này khiến tôi trông như một con đà điểu. Tôi cố mỉm cười. Có vẻ như phải nỗ lực nhiều lắm.

“Tất nhiên là tôi hy vọng hai người có thể… hòa hợp với nhau. Sẽ rất tốt nếu

Will xem cô là bạn chứ không phải người giúp việc được trả công.” “Đúng thế. Anh ấy… ưm… thích làm gì ạ?”

“Nó xem phim. Thỉnh thoảng lại nghe đài, hoặc nghe nhạc. Nó có một vật dụng kỹ thuật số. Nếu cô để thứ đó gần bàn tay nó, thường thường nó tự điều khiển được. Ngón tay nó có thể nhúc nhích được một chút, tuy nhiên nó khó cầm nắm.”

Tôi thấy mình phấn chấn hẳn lên. Nếu anh ta thích âm nhạc và phim ảnh, chắc chắn chúng tôi có thể tìm thấy chuyện gì đó chung phải không? Đột nhiên trước mắt tôi hiện ra hình ảnh tôi và người đàn ông này cùng nhau cười ngặt nghẽo khi xem một bộ phim hài Hollywood, tôi kéo máy hút bụi vòng vòng còn anh ta thì nghe nhạc. Có lẽ chuyện này sẽ ổn cả thôi. Có lẽ cuối cùng chúng tôi sẽ thành bạn. Trước đây tôi chưa bao giờ có bạn bị tàn tật – tôi chỉ biết một người bị điếc là David, bạn của Treen, nhưng còn phải tranh luận dài dài nếu có ai cho rằng bị điếc là tàn tật.

“Cô có hỏi gì không?” “Không ạ.”

“Thế thì chúng ta đi giới thiệu cô thôi.” Bà liếc đồng hồ. “Chắc lúc này Nathan cũng mặc xong đồ cho Will rồi.”

Chúng tôi ngần ngừ ngoài cửa một lát rồi bà Traynor gõ cửa. “Con có đó không? Mẹ đưa cô Clark tới gặp con đây, Will.”

Chẳng có tiếng trả lời. “Will? Nathan?”

Một giọng nói đặc sệt ngữ âm New Zealand cất lên. “Cậu ấy xong xuôi rồi, bà T.”

Bà đẩy cửa mở. Phòng khách của khu nhà phụ rộng kinh khủng, có một bức tường hoàn toàn bằng kính nhìn ra khung cảnh bao la của vùng nông thôn. Một ngọn lửa củi cháy bập bùng trong góc, một chiếc sofa thấp màu be đối diện với cái ti-vi màn hình phẳng siêu lớn, chỗ ngồi trên ghế được phủ khăn len. Không khí gian phòng thật trang nhã và thanh bình – một không gian đậm chất Scandinavia.

Ở giữa phòng là một chiếc xe lăn màu đen, chỗ ngồi và lưng dựa bọc lông cừu. Một người đàn ông vạm vỡ khỏe mạnh mặc áo bờ-lu không cổ màu trắng đang cúi xuống, đặt chân của một thanh niên vào đúng bàn để chân trên xe lăn. Khi chúng tôi bước vào phòng, anh chàng trên xe lăn ngước nhìn lên từ dưới mái tóc rối tinh rối bù. Ánh mắt anh ta gặp ánh mắt tôi, dừng lại một thoáng, anh ta gừ lên một tiếng kinh hoàng. Rồi miệng anh ta cau lại, và anh ta hét lên một tiếng ghê sợ nữa.

Tôi thấy mẹ anh ta cứng đờ người. “Will, thôi đi!”

Anh ta thậm chí không thèm liếc nhìn bà. Một tiếng kêu thời tiền sử khác lại phát ra từ đâu đó cạnh lồng ngực của anh ta. Đó là một tiếng động rùng rợn, gai người. Tôi cố chống lại cơn rùng mình. Người đàn ông đang cau mặt, đầu anh ta nghiêng nghiêng rụt vào giữa hai vai khi anh ta nhìn tôi chằm chằm bằng khuôn mặt vẹo vọ. Trông anh ta thật khiếp khủng, và có vẻ như đang giận dữ. Tôi nhận thấy ở chỗ tôi cầm túi xách, các khớp tay đã trắng bợt cả ra.

“Will! Làm ơn.” Có một thoáng kích động trong giọng nói của mẹ anh ta. “Làm ơn, đừng làm như thế.”

Ôi trời đất ơi, tôi thầm rên lên. Tôi không chuẩn bị tinh thần cho chuyện này. Tôi nuốt khan khó nhọc. Người đàn ông vẫn nhìn tôi trân trân. Dường như anh ta đang chờ tôi hành động.

“Tôi… tôi là Lou.” Giọng tôi run bần bật, phá tan khoảng yên lặng. Trong một giây tôi băn khoăn không biết có nên đưa tay ra, rồi sực nhớ anh ta không thể bắt tay, nên thay vì vậy tôi khẽ vẫy tay. “Nói tắt của Lousia.”

Thế rồi trước sự kinh ngạc của tôi, gương mặt anh ta giãn ra, đầu thẳng thớm trên hai vai.

Will Traynor vẫn nhìn tôi không dứt, những nụ cười mờ nhạt nhất lướt qua mặt anh ta. “Xin chào cô Clark,” anh ta nói. “Tôi nghe bảo cô là người trông chừng mới nhất của tôi.”

Nathan đã xong việc điều chỉnh bàn để chân. Ông vừa đứng dậy vừa lắc lắc đầu. “Cậu là anh chàng hư hỏng, cậu T. Hư lắm.” Ông cười tươi rói, chìa bàn tay to bản ra, tôi nắm lấy một cách yếu ớt. Ở Nathan toát ra một vẻ điềm tĩnh. “Tôi e là cô vừa thấy cái vẻ đặc sệt chất Christy Brown của Will. Cô sẽ quen với cậu ấy thôi. Cậu ấy chỉ quát tháo thế thôi chứ tâm địa không có gì.”

Bà Traynor đang nắm chặt cây thánh giá ở cổ bằng những ngón tay trắng xanh gầy guộc. Bà kéo nó tới lui trên sợi dây chuyền mỏng tang, một thói quen khi căng thẳng. Gương mặt bà khắc khổ. “Tôi sẽ để mọi người lại bàn bạc công việc với nhau. Nếu cần giúp đỡ gì cô cứ gọi qua điện thoại nội bộ. Nathan sẽ nói qua cho cô về sinh hoạt hằng ngày của Will, và trang thiết bị của nó.”

“Con ở đây mà mẹ. Mẹ không cần phải nói thay con đâu. Não con đâu có liệt. Vẫn chưa.”

“Ừ, được rồi, nếu con định gây chuyện, Will, mẹ nghĩ tốt nhất cô Clark nên nói chuyện trực tiếp với Nathan.” Tôi để ý thấy bà không nhìn vào mắt anh ta khi nói. “Hôm nay tôi sẽ làm việc tại nhà. Thế nên tới giờ ăn trưa tôi sẽ ghé qua, cô Clark.”

“Được ạ,” giọng tôi thoát ra the thé.

Bà Traynor biến mất. Chúng tôi yên lặng lắng nghe tiếng bước chân rõ mồn một của bà xa dần xuống sảnh về phía nhà chính.

Rồi Nathan phá tan khoảng im lặng. “Cậu có phiền không nếu tôi đi chỉ cho cô Clark về thuốc thang của cậu, Will? Cậu muốn xem phim không? Hay nghe nhạc?”

“Radio 4 nhé, Nathan.” “Hẳn rồi.”

Chúng tôi đi xuống bếp, “Bà T nói cô không có nhiều kinh nghiệm với người bị liệt lắm?” “Vâng.”

“Được rồi. Hôm nay tôi sẽ để mọi chuyện đơn giản thôi. Có một tập tài liệu ở đây nói cho cô gần như mọi điều cô cần biết về sinh hoạt của Will, và tất cả các số khẩn cấp của cậu ấy. Tôi khuyên cô nên đọc nó, nếu cô có thời gian rảnh. Tôi nghĩ là cô sẽ có thôi.”

Nathan lấy chiếc chìa khóa ở thắt lưng ra mở một cái tủ đang khóa, trong đó chất đầy hộp và lọ nhựa nhỏ đựng thuốc. “Rồi. Đây chủ yếu là công việc của tôi, nhưng cô cần biết thứ nào ở đâu phòng khi khẩn cấp. Có thời gian biểu trên tường kia để cô biết lịch sinh hoạt hằng ngày của cậu ấy. Nếu có đưa thêm bất cứ thứ gì cho cậu ấy thì cô phải đánh dấu vào đó…” ông chỉ “… nhưng tốt nhất là cô đừng làm gì mà bà T không bảo, ít nhất là trong giai đoạn này.”

“Tôi không biết là tôi sẽ phải để ý chuyện thuốc thang cơ đấy.”

“Không khó khăn gì đâu. Cậu ấy hầu như biết hết mình cần gì. Nhưng có lẽ cậu ấy cần giúp đỡ một chút để lấy thuốc xuống. Chúng tôi thường dùng cái cốc bê-se này đây. Hoặc cô có thể nghiền thuốc bằng bộ chày cối này rồi hòa tan vào một ly nước.”

Tôi cầm một chiếc nhãn lên. Tôi không chắc mình đã bao giờ nhìn thấy nhiều thuốc tới thế ở bên ngoài hiệu thuốc chưa.

“Thế này nhé. Cậu ấy có hai loại thuốc huyết áp, loại này là để hạ huyết áp khi đi ngủ, loại này là để tăng huyết áp khi thức dậy. Nhưng loại này cậu ấy cần khá thường xuyên để kiểm soát cơn co cơ – cô cần phải đưa cho cậu ấy một viên vào giữa buổi sáng, và một viên nữa vào giữa buổi chiều. Cậu ấy không thấy khó nuốt mấy viên đó quá đâu, vì chúng nhỏ mà lại được bọc đường. Những loại này dành cho chứng co thắt bàng quang, còn mấy loại đây là để điều trị trào ngược a-xit. Thỉnh thoảng cậu ấy cần chúng sau khi ăn nếu thấy không dễ chịu. Đây là thuốc kháng histamine cho cậu ấy vào buổi sáng, còn đây là mấy loại thuốc nhỏ mũi, nhưng tôi luôn làm mấy việc đó cuối cùng trước khi ra về, nên cô không phải lo lắng gì đâu. Cậu ấy có thể phải uống paracetamol nếu thấy đau, và cậu ấy cũng phải uống thuốc ngủ, nhưng những loại thuốc này khiến cậu ấy dễ cáu kỉnh hơn vào ban ngày nên chúng tôi cố hạn chế chúng.

“Những thứ này…” ông giơ một chai nữa lên “… là thuốc kháng sinh cậu ấy dùng hai tuần một lần khi thay ống thông tiểu. Nếu không đi đâu thì tôi sẽ làm việc này, nếu đi vắng thì tôi sẽ để lại hướng dẫn cụ thể. Thuốc này khá mạnh. Có hộp đựng găng tay cao su kia, nếu có khi nào đó cô cần rửa cho cậu ấy. Nếu đau thì cậu ấy kêu la, nhưng cậu ấy cũng thấy không tới nỗi nào, vì chúng ta có nệm hơi.”

Khi tôi đứng đó, ông thò tay vào túi lấy ra một chiếc chìa khóa nữa đưa cho tôi. “Đây là khóa dự phòng,” ông nói. “Không được đưa cho bất kỳ ai khác kể cả Will, được chứ? Bảo vệ nó như mạng sống nhé.”

“Quá nhiều thứ để nhớ.” Tôi nuốt khan.

“Mọi điều đã được ghi lại. Tất cả những gì cô cần nhớ hôm nay là các loại thuốc chống co giật của cậu ấy. Những loại kia kìa. Có số điện thoại của tôi đấy, cần gì cô cứ gọi. Khi không ở đây thì tôi nghiên cứu, nên tốt nhất là đừng gọi thường xuyên quá, nhưng chừng nào cô còn chưa tự tin thì cứ gọi thoải mái.”

Tôi nhìn chăm chú vào tập giấy tờ trước mặt tôi. “Phải làm sao nếu… anh ta cần đi tiểu?” Tôi nghĩ tới chiếc cần cẩu. “Tôi không chắc mình có thể, ông biết đấy, nhấc anh ta lên.” Tôi cố diễn vẻ mặt khác hẳn nỗi sợ hãi trong lòng.

Nathan lắc đầu. “Cô không cần phải làm mấy việc đó đâu. Ống thông tiểu sẽ làm. Tới giờ trưa tôi sẽ đến thay nó. Cô ở đây không phải để làm những việc liên quan tới thể chất.”

“Thế công việc của tôi ở đây là gì?”

Nathan nhìn chăm chăm xuống sàn nhà mãi rồi mới ngước nhìn tôi. “Cố làm cậu ấy vui lên một chút chăng? Cậu ấy… cậu ấy hơi cáu bẳn. Dễ hiểu thôi, vì… hoàn cảnh như thế. Nhưng cô sẽ phải chai mặt vào. Trò chọc quậy sáng nay là cách cậu ấy làm cô mất bình tĩnh đấy.”

“Có phải vì thế mà thù lao mới cao tới vậy?”

“Ồ phải. Không có bữa trưa nào là miễn phí đâu nhỉ?” Nathan vỗ lên vai tôi. Tôi thấy người mình nảy lên vì cái vỗ đó. “À, cậu ấy không sao đâu. Cô không phải đi rón ra rón rén bên cạnh cậu ấy.” Ông trù trừ một chút. “Tôi mến cậu ấy.”

Ông nói câu đó như thể ông là người duy nhất mến nổi anh ta.

Tôi theo ông trở lại phòng khách. Xe lăn của Will đã dịch chuyển tới cửa sổ, anh ta quay lưng lại chúng tôi, nhìn chăm chú ra ngoài trời, nghe gì đó trên đài.

“Tôi xong việc rồi Will. Cậu có muốn gì trước khi tôi đi không?” “Không đâu. Cảm ơn Nathan.”

“Thế tôi sẽ để cậu lại với đôi tay giỏi giang của cô Clark nhé. Gặp lại vào giờ ăn trưa, anh bạn.”

Lòng tôi chợt trào lên nỗi hoảng sợ khi quan sát ông giúp việc ân cần khoác áo vào.

“Vui vẻ nhé, hai bạn.” Nathan nháy mắt với tôi, rồi đi mất.

Tôi đứng giữa phòng, tay thọc sâu trong túi áo, không chắc phải làm gì. Will Traynor tiếp tục nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ như thể tôi không ở đó.

“Anh muốn tôi pha cho anh một tách trà không?” cuối cùng tôi lên tiếng, khi sự im lặng trở nên không chịu nổi nữa.

“À. Phải rồi. Cô gái pha trà để kiếm sống. Tôi đã tự hỏi mất bao lâu thì cô sẽ muốn phô diễn kỹ năng của mình. Không. Không đâu, cảm ơn.”

“Thế cà-phê nhé?”

“Đồ uống nóng không dành cho tôi, ngay lúc này, cô Clark ạ.” “Anh có thể gọi tôi là Lou.”

“Thế thì ích gì?”

Tôi chớp mắt, miệng tôi mở ra một chốc. Tôi ngậm lại. Bố luôn nói làm thế trông tôi còn ngớ ngẩn hơn vốn dĩ. “À… tôi có thể mang gì cho anh?”

Anh ta quay lại nhìn tôi. Cằm anh ta lởm chởm vì mấy tuần liền không cạo, mắt anh ta thật khó dò. Anh ta quay đi.

“Tôi sẽ…” tôi nhìn quanh phòng. “Thế tôi sẽ xem có thứ gì cần giặt giũ không.”

Tôi đi ra khỏi phòng, tim đập thình thịch. Từ góc an toàn trong bếp, tôi lôi điện thoại ra bấm tin nhắn gửi cho em gái.

Kỳ quái quá. Anh ta ghét chị.

Mấy giây sau tin nhắn trả lời xuất hiện.

Chị mới ở đó có một giờ đồng hồ thôi mà, chị gái yếu đuối! B & M rất lo lắng về tiền bạc. Hãy kiềm chế và nghĩ về thù lao hàng giờ. X.

Tôi đóng nắp điện thoại lại, lòng rối bời. Tôi xới tung giỏ đựng đồ giặt trong phòng tắm, xoay xở nâng được mức đồ giặt trong máy lên được một phần tư ít ỏi, dành mấy phút để kiểm tra hướng dẫn sử dụng máy. Tôi không muốn máy giặt tắc tị giữa chừng, cũng không muốn mình làm gì đó có thể khiến Will hoặc bà Traynor nhìn tôi như thể tôi là con hâm lần nữa. Tôi khởi động máy giặt rồi đứng đó, cố nghĩ xem còn việc gì khác mình được phép làm. Tôi lôi chiếc máy hút bụi từ tủ nhỏ bên tường ra rồi kéo nó tới lui dọc hành lang và trong hai phòng ngủ, vừa làm vừa nghĩ rằng nếu thấy tôi lúc này thể nào bố mẹ cũng sẽ khăng khăng đòi chụp hình kỷ niệm. Phòng ngủ phụ hầu như trống trơn, giống phòng trong khách sạn. Tôi cho là Nathan không hay ngủ lại. Tôi nghĩ tôi chẳng thể trách ông được.

Tôi chần chừ bên ngoài phòng ngủ của Will Traynor, rồi biện hộ rằng nó cũng cần được hút bụi như mọi chỗ khác. Có một cái giá âm tường ở một bên, trên đó là chừng hai mươi khung ảnh.

Khi hút bụi quanh giường, tôi cho phép mình nhìn chúng một cái thật nhanh. Kia là hình một thanh niên đang nhảy bungee từ một mỏm đá, hai cánh tay anh ta dang ra như tượng Chúa. Kia là hình một thanh niên – có lẽ là Will trước đây – đang ở nơi nào trông như rừng nguyên sinh, rồi lại có bức hình của anh ta giữa đám bạn say xỉn. Anh nào anh nấy đều thắt nơ bướm và mặc áo vét-tông dự tiệc, tay người này choàng vai người kia.

Kia là hình anh ta đi trượt tuyết, bên cạnh là một cô gái đeo kính đen có mái tóc dài vàng óng. Tôi dừng lại, để nhìn rõ hơn bức hình anh ta đeo kính bảo hộ trượt tuyết. Trong ảnh đó, anh ta cạo râu nhẵn nhụi, và dù dưới ánh sáng chói lóa, khuôn mặt anh ta vẫn toát lên cái vẻ rạng rỡ xa hoa của những tay lắm tiền nhiều của đi du lịch một năm ba bận. Anh ta có đôi vai rộng lực lưỡng nổi rõ qua cả lần áo khoác trượt tuyết. Tôi cẩn thận đặt bức ảnh lại trên bàn và tiếp tục hút bụi quanh giường. Cuối cùng, tôi tắt máy hút bụi rồi bắt đầu cuộn dây lại. Khi tôi cúi xuống gỡ dây ra khỏi máy, qua khóe mắt tôi để ý thấy có chuyển động, tôi giật nảy mình khẽ ré lên. Will Traynor đang ở trên ngưỡng cửa, quan sát tôi.

“Khu trượt tuyết Courchevel. Hai năm rưỡi về trước.”

Mặt tôi đỏ bừng. “Tôi xin lỗi. Tôi chỉ…”

“Cô chỉ xem ảnh của tôi. Tự nghĩ hẳn phải kỳ quặc lắm khi đang sống như thế bỗng dưng lại thành một thằng què.” “Không đâu.” Tôi càng đỏ mặt dữ hơn.

“Nếu cô thấy mình lại tò mò không chịu nổi thì số ảnh còn lại của tôi nằm trong ngăn kéo cuối cùng đấy,” anh ta nói.

Rồi với chiếc xe lách cách rẽ sang phải, anh ta biến mất.

Buổi sáng hôm ấy chùng chình và quyết định kéo dài thêm dăm năm nữa. Tôi không nhớ lần gần đó nhất từng phút từng giờ kéo dài thê lương tới vậy là khi nào. Tôi cố tìm càng nhiều việc để giết thời gian càng tốt, ít khi vào phòng khách hết mức có thể, biết rằng mình đang nhát như thỏ đế, nhưng chẳng thực sự bận lòng.

Tới mười một giờ, tôi mang cho Will Traynor một cốc bê-se đựng nước và thuốc chống co giật, như Nathan đã yêu cầu. Tôi đặt thuốc vào lưỡi anh ta rồi đưa cái cốc bê-se ra, như Nathan đã chỉ dẫn. Cái ly đó bằng nhựa đục nhờ nhờ, giống cái ly Thomas hay dùng, chỉ khác là không có hình chàng Bob Thợ xây ở bên. Anh ta nỗ lực nuốt vào, rồi ra hiệu rằng tôi nên để anh ta một mình.

Tôi phủi bụi mấy cái giá không cần phủi bụi cho lắm, rồi suy tính lau mấy ô cửa sổ. Xung quanh tôi, khu nhà phụ lặng như tờ, chỉ có tiếng ti-vi rì rầm nho nhỏ trong phòng khách nơi anh ta ngồi. Tôi không thấy đủ tự tin để bật nhạc trong phòng bếp. Tôi có cảm giác anh ta sẽ có những câu cay nghiệt để nói về lựa chọn âm nhạc của tôi.

Tới mười hai giờ ba mươi, Nathan đến, mang theo giá lạnh ngoài trời và một cái nhướng mày. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” ông hỏi.

Tôi hiếm khi mừng khi gặp được ai tới vậy trong đời. “Ổn ạ.”

“Tốt. Giờ cô có thể nghỉ nửa tiếng. Tôi và cậu T có một số việc phải làm vào giờ này trong ngày.”

Tôi gần như bổ nhào tới lấy áo khoác. Tôi không định ra ngoài ăn trưa, nhưng lúc này được ra khỏi cái nhà đó khiến tôi sung sướng suýt ngất vì nhẹ nợ. Tôi dựng cổ áo lên, khoác túi lên vai, rồi bước vội xuống ngõ, như thể tôi đang nóng ruột muốn tới chỗ nào không bằng. Thực sự thì tôi chỉ đi lòng vòng trên mấy con đường xung quanh trong suốt nửa tiếng, thở những hơi ấm như làn khói vào tấm khăn quàng quấn chặt.

Đầu này thị trấn không có quán cà-phê, khi mà giờ đây quán Bánh Bơ đã đóng cửa. Tòa lâu đài hoang vắng. Tụ điểm ăn uống gần nhất là một quán rượu, một nơi mà tôi ngờ mình chẳng đủ tiền mua lấy một món uống, nói gì tới một bữa trưa ăn nhanh. Tất cả xe trong bãi đỗ đều to đùng và đắt giá, với biển số còn mới tinh.

Tôi đứng trong bãi đỗ xe của lâu đài, biết chắc mình đã thoát khỏi tầm nhìn của dinh thự Granta, và bấm số của em gái. “Này.”

“Chị biết em không thể nói chuyện trong giờ làm mà. Không phải chị đang đi ra ngoài đấy chứ?”

“Không. Chỉ là chị cần nghe một giọng nói thân thiện thôi.” “Anh ta có tệ tới thế không đấy?”

“Treen, anh ta ghét chị. Anh ta nhìn chị như thể chị là thứ mèo tha vào nhà ấy. Anh ta thậm chí còn không uống trà. Chị đang biến khỏi mắt anh ta.” “Em không tin nổi mình đang nghe thấy điều này đấy.”

“Điều gì?”

“Cứ nói chuyện với anh ta xem nào, gào lên. Tất nhiên anh ta phải thấy khổ sở rồi. Anh ta chết gí trên cái xe lăn chết toi đó. Và có lẽ chị không giúp gì được. Nói chuyện với anh ta đi. Tìm hiểu anh ta. Trên đời này còn chuyện gì tồi tệ hơn có thể xảy ra nữa?”

“Chị không biết… Chị không biết chị có thể bám trụ nổi không.”

“Em sẽ không nói với mẹ là chị bỏ việc sau nửa ngày đâu. Họ sẽ không cho chị một xu nào cả, Lou. Chị không thể làm thế được. Cả nhà không cho chị làm thế đâu.”

Em gái tôi nói đúng. Tôi nhận ra mình ghét nó.

Một khoảng im lặng ngắn trôi qua. Treen chuyển giọng hòa giải quen thuộc. Giọng nói này có vẻ thật sự lo âu. Điều đó có nghĩa là nó biết quả tình tôi đang có công việc tệ hại nhất trên đời. “Nghe này,” nó nói. “Công việc đó chỉ kéo dài sáu tháng. Làm sáu tháng thôi, có chút gì hữu ích trên CV của chị, rồi chị sẽ tìm được công việc chị thật sự thích. Mà này – hãy nhìn nó theo hướng này đi, ít nhất nó không phải làm ca đêm trong lò giết mổ gà, phải không?”

“Làm đêm trong lò giết mổ gà chẳng khác gì đi chơi hội nếu đem so với…” “Em cúp máy đây Lou. Em sẽ gặp chị sau.”

“Thế chiều nay anh có muốn đi đâu đó không? Chúng ta có thể lái xe tới chỗ nào đấy nếu anh thích.”

Nathan đã đi được gần nửa giờ. Tôi đã kéo dài việc rửa tách trà lâu nhất mà con người có thể làm, và tôi nghĩ nếu ở thêm một giờ nữa trong ngôi nhà câm lặng này thì đầu tôi sẽ nổ tung mất.

Anh ta quay đầu về phía tôi. “Cô đang nghĩ tới chỗ nào?”

“Tôi không biết. Cứ lái xe trong vùng nông thôn thôi được không?” Tôi đang làm cái việc mà thỉnh thoảng tôi vẫn làm là giả vờ mình là Treena. Nó là một người tuyệt đối bình tĩnh và giỏi giang, thế nên chưa bao giờ có ai gây bối rối được cho nó. Giọng tôi, với lỗ tai tôi, nghe rất sành điệu và vui vẻ.

“Nông thôn,” anh ta nói, ra chiều ngẫm nghĩ. “Chúng ta sẽ thấy gì nhỉ. Ít cây? Chút trời?”

“Tôi không biết nữa. Bình thường anh hay làm gì?”

“Tôi chả làm gì cả, cô Clark. Tôi chả làm gì được nữa. Tôi ngồi. Tôi chỉ tồn tại thôi.”

“À,” tôi nói. “Tôi nghe bảo anh có một cái xe có thể sử dụng xe lăn?” “Và cô lo là nó sẽ hỏng mất nếu không được sử dụng hằng ngày?” “Không, nhưng tôi…”

“Cô đang bảo tôi nên ra ngoài đấy à?” “Tôi chỉ nghĩ…”

“Cô nghĩ đi dạo lòng vòng một tí sẽ tốt cho tôi? Hít thở không khí trong lành?”

“Tôi chỉ cố để…”

“Cô Clark ạ, đời tôi sẽ chẳng tiến bộ gì đáng kể khi lái xe quanh mấy con đường làng của Stortfold đâu.” Anh ta quay mặt đi.

Đầu anh ta vùi giữa hai vai và tôi tự hỏi anh ta có thấy thoải mái không. Giờ chưa phải là lúc hỏi anh ta. Chúng tôi ngồi trong im lặng.

“Anh có muốn tôi mang máy tính tới không?”

“Sao nào, cô đang nghĩ tới một nhóm hỗ trợ người bị liệt tử tế mà tôi có thể gia nhập hả? Qu R Us? The Tin Wheel Club?”

Tôi hít vào một hơi thật sâu, cố nói giọng thật tự tin. “Được rồi… ừm… vì chúng ta sẽ dành toàn bộ thời gian này ở cạnh nhau nên có lẽ chúng ta nên biết đôi chút về nhau…”

Thái độ trên gương mặt anh ta khiến tôi nản chí. Anh ta đang nhìn chăm chăm vào bức tường, cằm anh ta giật giật.

“Chỉ là… ở bên cạnh một người chừng ấy thời gian là khá dài. Cả ngày cơ mà,” tôi tiếp tục. “Có lẽ nếu anh nói cho tôi một chút xem anh muốn làm gì, anh thích cái gì, thì tôi có thể… đảm bảo mọi thứ diễn ra đúng như anh muốn, phải không?”

Lần này sự im lặng thật nhức nhối. Tôi nghe giọng mình chầm chậm chìm nghỉm vào sự nín thinh đó, tôi chẳng nghĩ ra mình phải làm gì với đôi tay. Treena và điệu bộ hiểu biết của nó đã bốc hơi rồi.

Cuối cùng, chiếc xe lăn kêu rì rầm và anh ta từ từ quay mặt nhìn tôi.

“Đây là điều tôi biết về cô, cô Clark. Mẹ tôi bảo cô hay nói.” Anh ta nói như thể đó là đại họa. “Chúng ta thỏa thuận được không? Làm sao để cô không hay nói ở cạnh tôi được đây?”

Tôi nuốt khan, cảm thấy mặt mình nóng ran.

“Không sao,” tôi cất tiếng, khi có thể mở miệng trở lại. “Tôi sẽ ở trong bếp. Cần gì anh cứ gọi tôi.”

***

“Chị không thể bỏ cuộc ngay như thế.”

Tôi nằm nghiêng trên giường, chân gác lên tường, giống như tôi vẫn làm thời còn tuổi teen. Tôi đã ở trên này từ khi ăn tối xong, một chuyện không bình thường chút nào. Từ khi Thomas được sinh ra, nó và Treena chuyển vào phòng lớn hơn, còn tôi ở trong phòng ở tầng lửng, một căn phòng đủ nhỏ để khiến người ta thấy sợ không gian kín nếu ngồi trong đó lâu hơn nửa giờ đồng hồ liên tục.

Nhưng tôi không muốn ngồi dưới lầu với mẹ và ông ngoại vì mẹ cứ nhìn tôi lo âu rồi nói những câu kiểu như “Rồi sẽ tốt lên thôi, con yêu” hay “Có việc nào tốt đẹp ngay từ ngày đầu đâu” – như thể bà từng có một công việc ra hồn trong hai mươi năm qua. Chuyện đó khiến tôi cảm thấy có lỗi. Tôi thậm chí chẳng làm xong được việc gì.

“Chị đâu có nói chị đang bỏ cuộc.”

Treena lao vào phòng mà không buồn gõ cửa, như nó vẫn làm hằng ngày, dù tôi lúc nào cũng phải gõ cửa phòng nó nhè nhẹ, chẳng may Thomas đang ngủ.

“Mà biết đâu chị đang khỏa thân. Ít nhất em cũng phải đánh tiếng trước chứ.”

“Em còn thấy những cảnh tệ hơn rồi mà. Mẹ nghĩ chị sẽ gửi đơn thôi việc.”

Tôi hạ chân xuống khỏi tường, dựng người ngồi dậy.

“Ôi Chúa ơi, Treen. Nó tệ hơn chị nghĩ. Anh ta quá khốn khổ.” “Anh ta không đi lại được. Tất nhiên phải khốn khổ rồi.”

“Không, nhưng mà vì chuyện đó anh ta trở nên mai mỉa và thô lỗ. Lần nào chị nói gì hay đề nghị gì anh ta cũng nhìn chị như thể chị là con điên, hoặc nói những câu khiến chị thấy mình như đứa lên hai.”

“Có khi chị nói cái gì ngớ ngẩn thật thì sao. Chỉ cần hai người quen tính nhau là được.”

“Thật sự chị không nói gì sai. Chị đã rất cẩn thận. Chị chẳng nói gì ngoài

Anh có muốn lái xe ra ngoài không? hay Anh có muốn uống trà không?.”

“À có thể ban đầu với ai anh ấy cũng như vậy, cho tới khi biết chị có gắn bó ở đó hay không. Em cá là họ đã thay đổi hàng loạt người giúp việc.”

“Anh ta thậm chí không muốn chị ở trong cùng một phòng với anh ta. Chị không nghĩ chị gắn bó được với nó đâu, Katrina. Chị thực lòng không nghĩ thế. Thật tình – nếu ở đó em sẽ hiểu.”

Tới đó Treena không nói gì, chỉ nhìn tôi chăm chăm một lát. Nó đứng dậy và liếc nhìn ra cửa, như thể đang kiểm tra xem có ai ở chiếu nghỉ không.

“Em đang tính quay trở lại trường đại học,” cuối cùng nó lên tiếng. Mất mấy giây não tôi mới tiếp nhận nổi sự thay đổi chiến lược này. “Ôi trời ơi,” tôi thốt lên. “Nhưng…”

“Em sẽ đi vay để trả học phí. Nhưng em có thể cũng được nhận một khoản trợ cấp đặc biệt nào đó, vì em có Thomas, và nhà trường đang đề nghị giảm học phí cho em vì họ…” Nó nhún vai, tỏ vẻ hơi xấu hổ. “Họ nói họ nghĩ em có thể đạt thành tích nổi bật. Có người bị bật khỏi khóa học ngành thương mại, thế nên họ có thể nhận em vào đầu học kỳ tới.”

“Thomas thì sao?”

“Ở ký túc xá có nhà trẻ. Bọn em có thể sống trong một căn apartment ở đó vào những ngày trong tuần, và về đây hầu hết các kỳ cuối tuần.” “Ôi.”

Tôi cảm thấy nó đang quan sát tôi. Tôi không biết phải làm gì với mặt mình.

“Em thực sự khao khát sử dụng lại bộ não của mình. Làm hoa đang khiến đầu em phát rồ. Em muốn học. Em muốn mình tiến bộ. Và em phát ốm khi bàn tay luôn chết cóng vì ngâm trong nước.”

Hai chúng tôi cùng nhìn vào đôi bàn tay nó, ửng đỏ dù trong nhà ấm áp như ở vùng nhiệt đới.

“Nhưng…”

“Phải. Em sẽ không thể làm việc, Lou. Em sẽ không thể đưa gì cho mẹ. Có thể em… có thể em còn cần họ giúp đỡ một chút.” Lần này thì trông nó thực sự không thoải mái. Vẻ mặt nó, khi nó liếc nhìn tôi, gần như xin lỗi.

Dưới lầu, mẹ đang cười với chuyện gì đó trên ti-vi. Chúng tôi có thể nghe mẹ đang nói chuyện với ông ngoại. Mẹ thường giải thích diễn biến bộ phim cho ông, dù chúng tôi luôn bảo mẹ là không cần phải làm thế. Lúc này tôi chẳng nói được nên lời. Sức nặng từng từ em gái tôi nói thấm từ từ mà không sao cưỡng lại được. Tôi cảm thấy mình như nạn nhân của Mafia, chống mắt nhìn gông cùm chầm chậm siết lấy mắt cá.

“Em thực sự cần phải làm thế, Lou. Em muốn nhiều hơn cho Thomas, nhiều hơn cho mẹ con em. Cách duy nhất giúp em tới được đâu đó là trở lại giảng đường. Em không có một Patrick. Em không chắc có bao giờ em có được một Patrick hay không, vì từ khi em có Thomas thì chẳng ai bén mảng tới cả. Em cần làm việc tốt nhất bản thân em có thể làm.”

Khi tôi chẳng nói gì, nó nói thêm, “Cho em và Thomas.”

Tôi gật đầu.

“Lou à? Làm ơn nhé?”

Trước đây tôi chưa bao giờ thấy em gái tôi như thế. Điều đó khiến tôi thực sự không thoải mái. Tôi ngẩng đầu lên, trưng một nụ cười. Giọng tôi, khi thoát ra, nghe thậm chí chẳng giống giọng tôi chút nào.

“Ừm, như em nói đó. Vấn đề chỉ là quen tính quen nết anh ta thôi. Cùng lắm cũng khó khăn trong mấy ngày đầu thôi, phải không?”

Chương 4

Hai tuần trôi qua và xuất hiện cùng đó là một chuỗi công việc hằng ngày đều đặn. Mỗi buổi sáng tôi đến dinh thự Granta lúc tám giờ, gọi báo mình đã đến, rồi sau đó, khi Nathan giúp Will thay đồ xong, tôi cẩn thận lắng nghe ông nói những điều cần biết về thuốc thang của Will – hoặc, quan trọng hơn, về tâm trạng của anh ta.

Khi Nathan đi rồi tôi sẽ chọn chương trình radio hoặc ti-vi cho Will, lấy thuốc cho anh ta, đôi khi nghiền thuốc bằng bộ chày cối nhỏ bằng đá cẩm thạch. Thường thường, sau khoảng chừng mươi phút anh ta sẽ nói thẳng rằng đã chán ngấy với sự có mặt của tôi. Tới lúc đó tôi sẽ bôi ra vài việc nhà lặt vặt để làm, giặt khăn mù-soa chưa bẩn, hoặc dùng cái đầu hút bất kỳ để làm sạch những đoạn viền chân tường bé tí hay gờ cửa sổ, cứ đều đặn mười lăm phút lại ngó đầu vào cửa như lời bà Traynor dặn. Lần nào nhìn vào tôi cũng thấy anh ta đang ngồi trên xe lăn nhìn ra ngoài khu vườn trống trải.

Sau đó có thể tôi sẽ mang cho anh ta nước lọc, hoặc một ly nước dinh dưỡng lờ nhờ như hồ dán giấy dán tường được cho là giúp anh ta tăng cân, hoặc mang thức ăn cho anh ta. Anh ta có thể nhúc nhích bàn tay một chút, nhưng cánh tay thì không, vì vậy tôi phải đút cho anh ta từng thìa. Đây là phần tệ hại nhất trong ngày; chẳng hiểu sao chuyện đút ăn cho một thanh niên dường như thật phi lý, và sự bối rối khiến tôi trở nên lúng túng vụng về. Will căm ghét chuyện này đến nỗi anh ta thậm chí không nhìn mắt tôi khi tôi đút cho anh ta ăn.

Thế rồi trước một giờ trưa một chút, Nathan sẽ đến và tôi sẽ chộp lấy áo khoác rồi biến ra ngoài đường, thi thoảng ăn trưa ở bến xe buýt bên ngoài lâu đài. Trời rất lạnh và chắc trông tôi rất thảm hại khi ngồi ở đó ăn sandwich nhưng tôi chẳng quan tâm. Tôi không thể ở cả ngày trong cái nhà đó được.

Vào buổi chiều tôi sẽ mở một bộ phim – Will là hội viên của một câu lạc bộ DVD nên hằng ngày đĩa phim mới được gửi tới qua đường bưu điện – nhưng anh ta chẳng bao giờ rủ tôi xem cùng, vậy nên tôi thường ra ngồi ở bếp hoặc trong phòng dành cho khách. Tôi cầm lên một cuốn sách hoặc tạp chí, nhưng tôi có cảm giác có lỗi kỳ quặc khi không thực sự làm việc nên tôi chẳng bao giờ tập trung hoàn toàn vào con chữ được. Đôi khi vào cuối ngày, bà Traynor sẽ tạt về – tuy nhiên bà chẳng bao giờ nói gì nhiều với tôi ngoài câu hỏi “Mọi việc ổn chứ?” mà câu trả lời duy nhất có thể chấp nhận được dường như là “Vâng ạ”.

Bà sẽ hỏi Will xem anh ta có cần gì không, thỉnh thoảng đề xuất một việc gì đó mà biết đâu anh ta muốn làm vào ngày hôm sau – đi đâu đó ra ngoài, hoặc gặp người bạn nào đó từng hỏi thăm sức khỏe anh ta – và anh ta luôn trả lời với giọng cộc cằn thô lỗ, nếu không thì cũng thờ ơ lạnh nhạt. Khi đó trông bà rất đau đớn, cứ mân mê sợi dây chuyền rồi lại biến mất.

Bố anh ta, một người đàn ông phương phi, trông lịch thiệp, thường tới lúc tôi sắp đi. Ông ấy thuộc típ người mà ta có thể thấy đội mũ Panama xem cricket, hình như ông coi sóc việc quản lý tòa lâu đài kể từ khi bỏ công việc được trả lương hậu hĩnh trên thành phố. Tôi nghĩ ông cũng chỉ làm cho có việc mà thôi. Ông kết thúc mỗi ngày vào đúng năm giờ chiều rồi ngồi xem ti-vi cùng Will. Thi thoảng khi ra khỏi phòng, tôi nghe thấy ông ta bình luận về chuyện gì đó trên mục tin tức.

Trong hai tuần đầu tiên này tôi đã nhìn Will Traynor kỹ hơn. Tôi thấy dường như anh ta quyết tâm khiến mình trông khác hẳn con người trước đây; anh ta để mái tóc nâu nhạt dài ra thành một mớ lộn xộn, râu ria lởm chởm bò quanh quai hàm. Đôi mắt xám của anh ta đầy nếp nhăn vì mệt mỏi, hoặc tác động của việc thiếu thoải mái triền miên (Nathan nói rằng anh ta hiếm khi được thoải mái). Chúng mang cái nhìn vô hồn của một kẻ đã trượt vài bước khỏi thế giới quanh mình. Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng đó là một cơ chế phòng vệ, khi mà cách duy nhất để anh ta đối phó với cuộc đời là giả vờ mình không phải là người phải hứng chịu những gì đang xảy ra.

Tôi muốn thấy thương cảm cho anh ta. Tôi thật sự rất thương cảm. Tôi nghĩ anh ta là người đáng buồn nhất mà tôi từng gặp, trong những khoảnh khắc ấy khi tôi thoáng thấy anh ta nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ. Rồi khi ngày nối ngày trôi qua, khi nhận ra rằng tình trạng của anh ta không chỉ là chuyện bị mắc kẹt trong cái xe đó và cơ thể mất tự do mà còn là một chuỗi không bao giờ dứt của những tổn thương và vấn đề sức khỏe, của nguy hiểm và bất tiện, tôi nghĩ rằng nếu là Will, chắc tôi cũng sẽ cảm thấy hết sức khốn khổ như vậy.

Nhưng ôi Chúa ơi, anh ta rất khó chịu với tôi. Mọi điều tôi nói, anh ta đều trả lời rất gay gắt. Khi tôi hỏi xem anh ta đã đủ ấm chưa, anh ta sẽ vặn lại rằng anh ta thừa khả năng để báo cho tôi biết nếu anh ta cần thêm khăn choàng. Khi tôi hỏi anh ta liệu tiếng máy hút bụi có quá ồn với anh ta không – tôi không muốn làm gián đoạn bộ phim của anh ta – anh ta sẽ hỏi tôi sao cơ, tôi đã nghĩ ra cách nào đó khiến máy chạy im phắc à? Khi tôi đút thức ăn, anh ta sẽ kêu ca thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, hoặc tôi đã đút thìa tiếp theo vào miệng anh ta trước khi anh ta ăn xong thìa trước. Anh ta có khả năng bóp méo hầu hết mọi điều tôi nói hoặc làm ra vẻ như tôi rất ngớ ngẩn.

Trong suốt hai tuần đầu đó, tôi khá giỏi giữ nét mặt hoàn toàn vô cảm trước anh ta, xong việc là tôi quay người biến vào một căn phòng khác và kiệm lời với anh ta hết mức. Tôi bắt đầu ghét anh ta và tôi chắc là anh ta biết điều đó.

Tôi đã không nhận ra mình có thể nhớ công việc cũ nhiều hơn mình từng nhớ. Tôi nhớ Frank cùng vẻ vui mừng ra mặt của ông lúc nhìn thấy tôi khi tôi đến vào buổi sáng. Tôi nhớ khách hàng, sự bầu bạn của họ, nhớ tiếng chuyện trò thoải mái khoan nhặt rì rầm quanh tôi như tiếng sóng biển vùng ôn đới. Còn ngôi nhà này, đẹp đẽ hào nhoáng là thế nhưng lại tịch mịch lặng tờ như nhà xác. Sáu tháng, tôi thầm nhắc lại khi cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Sáu tháng.

Rồi tới ngày thứ Năm ấy, đúng lúc đang pha ly nước dinh dưỡng làm bữa lửng sáng cho Will, tôi nghe thấy tiếng bà Traynor dưới sảnh. Ngoài ra lần này còn có những tiếng nói khác nữa. Tôi chờ đợi, chiếc dĩa nằm yên trên tay tôi. Tôi chỉ có thể nhận ra có tiếng một cô gái trẻ, giọng dễ nghe, và tiếng của một người đàn ông.

Bà Traynor xuất hiện ở lối cửa bếp, tôi cố tỏ ra bận rộn, khuấy mạnh vào chiếc cốc bê-se.

“Pha với tỷ lệ nước 60 sữa 40 đấy chứ?” bà hỏi, chằm chằm nhìn vào ly đồ uống.

“Vâng ạ. Một cốc dâu tây.”

“Bạn của Will đến thăm nó. Có lẽ sẽ tốt nhất nếu cô…”

“Tôi đang có rất nhiều việc phải làm ở đây,” tôi nói. Tôi thật sự cảm thấy rất dễ chịu khi được giải thoát khỏi anh ta trong khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi vặn nắp cốc bê-se lại. “Khách của bà muốn uống trà hay cà-phê ạ?”

Bà nhìn tôi gần như ngạc nhiên. “Phải rồi. Thế thì hay lắm. Cà-phê đi. Tôi nghĩ tôi sẽ…”

Bà dường như còn căng thẳng hơn cả ngày thường, hai mắt dán ra phía hành lang nơi chúng tôi có thể nghe những tiếng rì rầm khe khẽ. Tôi đoán là Will chỉ có vài vị khách.

“Tôi nghĩ… tôi sẽ để chúng ở với nhau thôi.” Bà nhìn chằm chằm ra ngoài hành lang, nhưng ý nghĩ của bà có lẽ đang ở rất xa. “Rupert. Đó là Rupert, đồng nghiệp cũ của nó,” bà đột nhiên quay về phía tôi nói.

Tôi có cảm giác thời điểm này rất cam go và bà cần phải chia sẻ với một ai, dù cho người đó chỉ là tôi.

“Và Alicia. Hai đứa đã… rất thân thiết… trong một thời gian. Trà sẽ tuyệt đấy. Cảm ơn cô, Clark.”

Tôi nán lại một chút trước khi mở cửa, tựa hông vào cửa để cân bằng khay nước trên tay.

“Bà Traynor bảo rằng có thể mọi người sẽ muốn uống một chút cà-phê,” tôi nói khi bước vào, đặt khay nước lên chiếc bàn thấp. Khi tôi đặt cốc nước của Will lên góc để cốc trên xe lăn, xoay ống hút để anh ta chỉ cần cúi đầu xuống là có thể với tới, tôi lén nhìn mấy vị khách của anh ta.

Tôi để ý đến cô gái trước tiên. Đôi chân dài và mái tóc vàng, cùng với làn da màu caramel nhạt, cô thuộc típ người khiến tôi băn khoăn không biết có phải mọi người trên đời đều cùng loài không. Cô ta trông như ngựa chứng. Có đôi lần tôi đã thấy những người phụ nữ kiểu này; họ thường nhún nhảy lên đồi đến lâu đài, lôi theo đám con mặc đồ hiệu Boden, rồi khi tới quán cà-phê thì tiếng họ sẽ vang to, trong như pha lê và đầy tự tin khi hói “Harry, anh yêu, anh muốn cà-phê chứ? Để em xem họ có thể làm cho anh một ly macchiato không nhé?” Đây chính xác là kiểu phụ nữ sành điệu như ly macchiato. Mọi thứ từ con người cô toát lên mùi tiền bạc, quyền lực và một cuộc đời như sống trong những trang giấy của một quyển tạp chí thời thượng.

Rồi tôi nhìn kỹ cô hơn và nhận ra một chuyện giật mình là a) cô là cô gái trong bức ảnh Will đi trượt tuyết và b) cô trông thật sự, thật sự không hề thoải mái.

Cô đã hôn lên má Will còn bây giờ thì đang lùi bước ra sau cười gượng gạo. Cô mặc chiếc áo ghi-lê lông cừu màu nâu, kiểu áo khiến tôi trông giống như con khỉ đột, choàng quanh cổ chiếc khăn cashmere màu xám nhạt mà cô luôn tay vân vê, như thể cô chẳng quyết định được có nên cởi ra hay không.

“Anh trông khá lắm,” cô nói với Will. “Thật đấy. Anh đã để tóc hơi dài ra một tí.”

Will không nói gì cả. Anh ta chỉ nhìn cô, vẻ mặt thật khó hiểu. Tôi thoáng có cảm giác biết ơn khi tôi không phải là người duy nhất anh ta nhìn như vậy.

“Xe mới hả?” Người đàn ông vỗ vào lưng ghế của Will, đặt tay lên cằm gật đầu tán thưởng như thể anh ta đang ngưỡng mộ một chiếc xe hơi thể thao đỉnh cao. “Trông… tuyệt lắm. Công nghệ… rất đỉnh.”

Tôi không biết phải làm gì cả. Tôi đứng đó thêm một lúc nữa, chuyển chân trụ liên hồi, cho đến khi tiếng Will cất lên phá vỡ không gian yên lặng.

“Louisa, cô cho thêm mấy thanh củi vào lò sưởi được không? Tôi nghĩ cần phải vun lên một chút.”

Đây là lần đầu tiên anh ta gọi tên khai sinh của tôi. “Được chứ,” tôi nói.

Tôi khiến mình tất bật với việc nhen củi, đốt lửa và xếp gọn những thanh củi trong giỏ.

“Kinh khủng, bên ngoài trời lạnh lắm,” cô gái nói. “Thật tốt khi có lửa ấm.” Tôi mở cửa lò sưởi, lấy que cời gạt những thanh củi đang cháy.

“Thời tiết ở đây lạnh hơn London mấy độ liền.”

“Ừ, đúng vậy,” người đàn ông tán thành.

“Em cũng đang tính đặt một lò sưởi ở nhà. Chắc chắn kiểu lò này sẽ ấm hơn kiểu lò mở nhiều.” Alicia hơi cúi người xuống để xem chiếc lò sưởi, như thể trước đây cô chưa lần nào nhìn thấy loại lò này.

“Đúng đấy, anh có nghe nói vậy,” người đàn ông nói.

“Em phải xem xét nó. Một trong những việc mà anh cần làm đấy rồi sau đó…” cô nói nhỏ dần. “Cà-phê ngon quá,” cô nói thêm sau một lát im lặng.

“Thế… cậu đã phải làm những gì, Will?” người đàn ông hỏi bằng giọng cố tỏ ra vui vẻ.

“Chẳng làm gì nhiều, khôi hài thay.”

“Thế còn vật lý trị liệu. Vẫn tiếp tục chứ? Có… tiến triển không?”

“Tớ không nghĩ là tớ sẽ sớm đi trượt tuyết được đâu, Rupert,” Will trả lời với giọng đầy mai mỉa.

Tôi gần như mỉm cười một mình. Đó đúng là Will mà tôi biết. Tôi gạt gạt tro trong lò sưởi. Cảm giác như tất cả mọi người đang nhìn mình. Sự im lặng thật nặng nề. Tôi chợt băn khoăn tự hỏi có phải mác áo của tôi đang ló ra và cảm thấy muốn kiểm tra ngay.

“Vậy…” cuối cùng Will lên tiếng. “Tôi phải nợ vinh hạnh này điều gì đây?

Đã… tám tháng rồi?”

“Ôi, em biết. Em xin lỗi. Là vì… em bận quá chừng trời. Em vừa có việc làm mới ở Chelsea. Quản lý hiệu đồ của Sasha Goldstein. Anh nhớ Sasha chứ? Em còn làm bao nhiêu việc vào cuối tuần nữa. Thứ Bảy thì bận vô cùng. Rất khó có thời gian nghỉ.” Giọng Alicia trở nên căng thẳng. “Em đã gọi cho anh đôi lần. Mẹ anh có nói lại không?”

“Công việc ở Lewins đợt rồi lộn xộn lắm. Cậu… cậu biết nó thế nào rồi đấy, Will. Chúng ta vừa có sếp mới. Một thằng cha từ New York tới. Bains. Dan Bains. Cậu gặp ông ta chưa nhỉ?”

“Chưa.”

“Gã chết tiệt luôn làm việc hai tư trên hai tư và muốn tất cả mọi người đều phải làm như thế.” Ai cũng có thể nghe thấy tiếng thở phào rõ rệt của anh ta khi tìm ra một chủ đề khiến anh ta được thoải mái. “Cậu biết nguyên tắc làm việc của mấy gã Yankee già rồi đấy – không ăn trưa lâu lắc, không chuyện phiếm huyên thuyên – Will, tớ bảo cậu, không khí ở công ty bọn mình đã thay đổi hết rồi.”

“Hẳn vậy.”

“Chúa ơi, thật mà. Làm trâu bò lắm. Đôi khi tớ cảm giác như không dám nhấc mông khỏi ghế luôn.”

Toàn bộ không khí dường như đã rút sạch khỏi căn phòng trong thoáng chốc. Ai đó ho hắng.

Tôi đứng lên chùi tay vào quần jean. “Tôi sẽ… tôi chỉ đi lấy thêm ít củi,” tôi lẩm bẩm về phía Will.

Rồi tôi xách chiếc giỏ biến ngay ra ngoài.

Trời bên ngoài rét căm căm nhưng tôi vẫn nán lại, giết thời gian trong lúc lựa những mẩu gỗ. Tôi đang thử tính xem đứng đây đến chết rét có tốt hơn quay trở lại căn phòng đó không. Nhưng trời quá lạnh, cái ngón trỏ để khâu vá của tôi xanh xám lại và cuối cùng tôi đành phải đầu hàng.

Tôi xếp gỗ thật chậm, đi vào cửa sau rồi từ từ quay trở lại hành lang. Khi đi đến phòng khách tôi nghe tiếng cô gái bay ra từ cánh cửa mở hờ.

“Thật ra, Will ạ, có một lý do nữa mà bọn em tới đây,” cô nói. “Bọn em… có vài tin muốn báo.”

Tôi dừng lại gần cửa, hai tay nệ nên xách giỏ củi.

“Em nghĩ – ừm, bọn em nghĩ – sẽ là đúng đắn khi báo cho anh biết… nhưng, ừm, có một chuyện. Rupert và em sắp làm đám cưới.”

Tôi đứng im thít, tính xem liệu tôi có thể quay đi mà không ai biết không.

Cô gái tiếp tục nói đứt quãng. “Hãy nghe em, em biết điều này có thể hơi sốc đối với anh. Thật sự thì cả em cũng rất ngạc nhiên. Bọn em – chuyện đó – phải, chuyện đó thực sự chỉ bắt đầu một thời gian rất dài sau khi…”

Hai cánh tay tôi bắt đầu đau. Tôi nhìn chằm chằm xuống chiếc giỏ, cố nghĩ xem phải làm gì.

“Anh biết anh và em… chúng ta…” Lại một sự im lặng nặng nề. “Will, hãy nói gì đi.”

“Chúc mừng,” cuối cùng anh nói.

“Em hiểu điều anh đang nghĩ. Nhưng chẳng ai trong hai bọn em cố tình làm ra chuyện này. Thật lòng đấy. Trong suốt một thời gian rất dài bọn em chỉ là bạn bè. Những người bạn cùng quan tâm đến anh. Chỉ là Rupert giúp đỡ em rất nhiều sau tai nạn của anh…”

“Cậu ấy thật vĩ đại.”

“Đừng có như vậy chứ. Thế này thật khủng khiếp. Em đã vô cùng sợ hãi khi phải nói với anh. Cả hai bọn em.”

“Rõ rồi,” Will nói thẳng thừng.

Giọng Rupert chen vào. “Cậu nghe tớ, bọn tớ nói với cậu chỉ bởi vì cả hai bọn tớ đều quan tâm đến cậu. Bọn tớ không muốn cậu phải nghe chuyện này từ một ai đó khác. Nhưng mà, cậu biết đấy, cuộc đời vẫn tiếp tục. Cậu phải hiểu điều đó. Rốt cuộc cũng đã hai năm rồi.”

Lại một khoảng im lặng. Tôi thấy chẳng muốn nghe thêm nữa nên bắt đầu nhẹ nhàng rời khỏi lối cửa vào, khẽ làu bàu vì bưng nặng. Nhưng khi Rupert nói tiếp, anh ta nói lớn hơn nên tôi vẫn nghe thấy được.

“Thôi mà, anh bạn. Tớ biết sẽ vô cùng khó khăn… tất cả những điều này. Nhưng nếu cậu vẫn còn quan tâm tới Lissa chút nào, cậu phải mong mỏi cho cô ấy một cuộc đời hạnh phúc chứ.”

“Nói gì đi, Will. Hãy nói đi.”

Tôi có thể hình dung ra gương mặt anh ta. Tôi có thể thấy ánh nhìn đó của anh ta, luôn tỏ ra vừa khó đoán định vừa khinh thường xa cách.

“Xin chúc mừng,” cuối cùng anh ta nói. “Tôi chắc là cả hai sẽ rất hạnh phúc.”

Khi đó Alicia bắt đầu phản đối – mấy câu gì đó nghe không rõ – nhưng rồi Rupert ngắt lời. “Thôi nào, Lissa. Anh nghĩ chúng ta nên về thôi. Will này, không phải bọn tớ đến để chờ đợi lời chúc mừng của cậu đâu. Đó là phép lịch sự. Lissa nghĩ – phải, cả hai bọn tớ chỉ nghĩ rằng – cậu nên biết. Xin lỗi, bạn cũ. Tớ… tớ thật sự hy vọng rằng cậu sẽ tiến triển tốt và tớ hy vọng cậu vẫn giữ liên lạc khi mọi thứ… cậu biết đấy… khi mọi thứ ổn định đôi chút.”

Tôi nghe thấy tiếng bước chân nên xách ngay giỏ củi lên như thể tôi vừa mới bước vào. Tôi nghe thấy tiếng họ ở hành lang rồi Alicia xuất hiện trước mặt tôi. Đôi mắt cô ngấn đỏ như sắp khóc.

“Tôi dùng nhà tắm được chứ?” cô hỏi giọng u ám nghẹn ngào. Tôi từ từ giơ một ngón tay lên lặng lẽ chỉ về hướng nhà tắm.

Rồi cô nhìn tôi rất nặng nề khiến tôi nhận ra có lẽ những gì tôi nghĩ đang hiển hiện trên gương mặt tôi. Tôi chưa bao giờ là người giỏi che giấu cảm xúc.

“Tôi hiểu điều cô đang nghĩ,” cô nói sau một thoáng im lặng. “Nhưng tôi đã cố gắng. Tôi thật sự đã cố gắng. Suốt nhiều tháng. Nhưng anh ấy chỉ đẩy tôi ra xa.” Hàm răng cô cứng lại, nét mặt vô cùng giận dữ. “Thực sự là anh ấy đã không muốn tôi ở đây. Anh ấy đã nói rõ như thế.”

Dường như cô chờ tôi nói điều gì đó.

“Đó hoàn toàn không phải việc của tôi,” sau cùng tôi đáp. Hai chúng tôi đứng nhìn nhau.

“Cô biết đấy, người ta chỉ có thể thật sự giúp đỡ người nào cần được giúp đỡ thôi,” cô ta nói. Rồi bỏ đi.

Tôi chờ thêm đôi phút, lắng nghe tiếng xe hơi của họ chạy xuống đường, rồi tôi đi vào nhà bếp. Tôi đứng trong đó nấu một ấm nước mặc dù tôi không muốn uống trà. Tôi lướt qua một cuốn tạp chí đã đọc rồi. Cuối cùng tôi trở lại hành lang, hự một tiếng rồi xách giỏ củi lên bưng vào phòng khách, thúc nhẹ cánh cửa trước khi bước vào để Will biết tôi đang tới.

“Tôi băn khoăn không biết anh có cần tôi làm…” tôi lên tiếng. Nhưng chẳng có ai ở đó cả.

Căn phòng trống không.

Đúng lúc đó tôi nghe tiếng đổ vỡ. Tôi vừa chạy ra đến hành lang thì nghe thấy một tiếng nữa, cùng với tiếng thủy tinh vỡ. Âm thanh phát ra từ phòng ngủ của Will. Ôi Chúa ơi, xin đừng để anh ấy tự làm tổn thương mình. Tôi hoảng hốt – lời dặn của bà Traynor như găm vào óc tôi. Tôi đã bỏ mặc anh ta trong hơn mười lăm phút rồi.

Tôi chạy ra hành lang, lao tới trước cửa phòng rồi dừng lại, cả hai tay nắm chặt vào cánh cửa. Will đang ở giữa căn phòng, ngồi thẳng trên ghế, một cây gậy đặt nằm ngang trên tay ghế, nó chĩa ra phía bên trái của anh ta chừng bốn mươi phân – một cây thương đồ chơi. Chẳng còn tấm hình nào trên cả cái giá dài; những khung ảnh đắt tiền nằm vỡ vụn khắp sàn, thảm phủ đầy những mảnh thủy tinh lấp lánh. Trên vạt áo anh ta vương đầy mảnh thủy tinh và vụn khung gỗ. Tôi nhìn khắp khung cảnh đổ nát, cảm thấy nhịp tim mình chậm lại khi biết rằng anh ta không bị thương. Will đang thở dốc như thể những việc vừa làm đã lấy đi quá nhiều sức lực.

Chiếc xe lăn xoay lại, nghiến khẽ lên thủy tinh. Mắt anh ta chạm vào mắt tôi.

Đôi mắt ấy vô cùng tuyệt vọng. Nó thách tôi dám tỏ lòng thương cảm.

Tôi nhìn xuống vạt áo của anh ta rồi nhìn khắp sàn nhà xung quanh. Tôi chỉ có thể nhìn thấy tấm hình anh chụp cùng Alicia nằm giữa những thứ rách nát khác, gương mặt cô lúc này khuất dưới một khung ảnh bằng bạc đã gãy.

Tôi nuốt khan, chằm chằm nhìn vào tấm hình rồi từ từ ngước mắt lên nhìn anh ta. Mấy giây đó là khoảng thời gian dài nhất trong đời tôi từ trước tới giờ.

“Cái này có thể bị thủng không vậy?” cuối cùng tôi hất đầu về phía chiếc xe lăn của anh ta rồi hỏi. “Bởi vì tôi không biết cái bơm bỏ ở đâu.”

Mắt anh ta mở to. Trong một thoáng, tôi nghĩ tôi đã làm mọi chuyện thêm tồi tệ. Nhưng một khóe cười rất nhẹ lướt ngang gương mặt anh ta.

“Nghe này, đừng di chuyển,” tôi nói. “Tôi sẽ đi lấy máy hút bụi.” Tôi nghe thấy tiếng cây gậy rơi xuống sàn. Khi ra khỏi phòng, tôi nghĩ có thể tôi đã nghe thấy anh ta nói xin lỗi.

Quán Kings Head đêm thứ Năm nào cũng đông nghịt, trong góc căn phòng ấm áp người còn đông hơn nữa. Tôi ngồi trét giữa Patrick và một người đàn ông có tên là Rutter, chăm chú nhìn qua nhìn lại giữa những chiếc huy hiệu gắn hình ngựa đính trên xà nhà bằng gỗ sồi phía trên đầu tôi và những tấm hình chụp lâu đài làm điểm nhấn cho những thanh rầm, cố tỏ ra lơ đãng với câu chuyện đang bàn tán quanh mình mà chủ đề chính dường như là về tỉ lệ mỡ trong cơ thể và khẩu phần ăn nhiều carbohydrate.

Bấy nay tôi luôn nghĩ rằng cuộc họp mặt hai tuần một lần của nhóm Hailsbury Triathlon Terrors chắc chắn là ác mộng khủng khiếp nhất của chủ quán. Tôi là người duy nhất uống rượu và chỉ duy nhất gói khoai tây chiên của tôi hết nhẵn nằm nhăn nhúm trên bàn. Tất cả những người khác đều uống nước khoáng hoặc kiểm tra trước tỷ lệ chất làm ngọt trong lon Diet Coke của họ. Khi rốt cuộc cũng gọi đồ ăn, salad họ gọi sẽ chẳng bao giờ có lấy một cọng rau phủ nước xốt nhiều chất béo hay thịt gà còn một mẩu để nguyên da. Tôi thường gọi khoai tây chiên, chỉ để được nhìn tất cả bọn họ giả vờ rằng họ chẳng muốn ăn tẹo nào.

“Phil chạy kịch được cỡ bốn mươi dặm. Anh ta bảo khi đó anh ta thấy đầu óc ong ong. Chân nặng như chì. Mặt mũi như người cõi âm, các cậu hiểu không?”

“Tôi thì sắm mấy đôi giày Nhật. Giảm được mười lăm phút trên chặng chạy mười dặm đấy nhé.”

“Đừng mang túi đựng xe đạp loại mềm nhé. Nigel mang nó theo khi tham gia hội trại ba môn phối hợp, trông như một cái mắc áo dở hơi ấy.”

Tôi không thể nói là tôi thích những vụ hội họp của nhóm Triathlon Terrors, nhưng với những giờ làm thêm của tôi và thời gian biểu tập luyện của Patrick thì đó là một trong số những lúc hiếm hoi tôi có thể chắc chắn gặp được anh. Anh ngồi bên cạnh tôi, mặc quần soóc đến bắp đùi mặc cho thời tiết bên ngoài cực rét. Mặc ít quần áo hết mức là một biểu trưng cho niềm tự hào của các thành viên trong câu lạc bộ này. Đám đàn ông trông rất rắn chắc, mặc những bộ đồ thể thao tối màu đắt tiền khoe cơ thể siêu chuẩn và trọng lượng nhẹ hơn cả không khí. Họ gọi nhau là Scud hoặc Trig và cong các bắp cơ nhằm khoe ra những vết trầy xước và những chỗ thịt đang lên da non. Các cô gái không trang điểm, ai nấy có làn da hồng hào của những người chẳng sợ gì việc đi bộ hàng dặm dài giữa trời băng tuyết. Họ nhìn tôi hơi khó chịu – hoặc thậm chí có thể là không hiểu nổi – chắc chắn họ đang tính tỉ lệ mỡ so với cơ thịt của tôi và nhận ra nó không đạt tiêu chuẩn.

“Thật là khủng khiếp,” tôi nói với Patrick rồi băn khoăn tự hỏi liệu mình có thể gọi món bánh kem mà không bị tất cả bọn họ ném cho những cái nhìn sét đánh không. “Người yêu và bạn thân nhất của anh ta.”

“Em chẳng trách cô ấy được,” anh nói. “Không phải thật lòng em đang muốn nói em sẽ ở bên cạnh anh nếu anh bị liệt từ cổ xuống đấy chứ?”

“Dĩ nhiên là em sẽ ở bên anh rồi.”

“Không, em sẽ không làm thế đâu. Và anh cũng không chờ đợi em làm như vậy.”

“Có đấy, em sẽ ở bên anh thật.”

“Nhưng anh sẽ không muốn em ở đó. Anh sẽ chẳng muốn ai ở bên mình chỉ vì lòng thương hại.”

“Ai nói đó là lòng thương hại? Trong tâm hồn anh vẫn là con người cũ thôi mà.”

“Không đâu. Anh sẽ chẳng còn gì giống con người cũ.” Anh nhăn mũi. “Anh sẽ không muốn sống nữa. Dựa dẫm vào những người khác từng giây từng phút. Để những người lạ chùi đít cho…”

Một anh chàng trọc lóc ngó đầu vào giữa hai chúng tôi. “Pat,” anh ta nói, “cậu đã uống thử loại nước ép mới đó chưa? Tuần trước có một lon nước tăng lực trong ba-lô của tớ. Chưa từng thấy cái gì như vậy.”

“Tớ chưa uống, Trig. Mỗi ngày cho tớ một trái chuối và một chai Lucozade là được rồi.”

“Dazzer đã uống một lon Diet Coke khi đang lướt trực thăng Norseman. Nôn sạch khi lên đến độ cao một ngàn mét. Chúa ơi, bọn tớ cười đau cả bụng.”

Tôi nở một nụ cười yếu ớt.

Cái đầu trọc biến mất và Patrick quay lại nhìn tôi, rõ ràng vẫn đang băn khoăn về số phận của Will. “Chúa ơi. Hãy nghĩ đến tất cả những thứ mình không thể làm được…” Anh lắc đầu. “Không thể chạy, không đạp xe đạp được nữa.” Anh nhìn tôi như thể điều đó vừa xảy ra với anh. “Không thể làm tình được nữa.”

“Dĩ nhiên là người ta có thể làm tình chứ. Chỉ có điều là người phụ nữ phải nằm trên.”

“Rồi sau đó chúng ta sẽ nhèo một đống.” “Nực cười.”

“Rồi nữa, nếu bị liệt từ cổ xuống thì anh đoán nhé cái… ừm… cái xe lăn không thể hoạt động được như ý muốn đâu.”

Tôi nghĩ đến Alicia. Tôi đã cố gắng, cô nói. Tôi thật sự đã cố gắng. Trong nhiều tháng.

“Em chắc nó có thể hoạt động ổn thỏa với một số người chứ. Dù sao vẫn phải có một cách nào đó cho những chuyện này chứ nếu như anh… tưởng tượng.”

“Haha.” Patrick uống một ngụm nước. “Ngày mai em sẽ phải hỏi anh ta thôi. Xem nào, em bảo là anh ta rất kinh khủng. Biết đâu anh ta đã rất kinh khủng từ trước khi bị tai nạn rồi. Biết đâu đó mới là lý do thực sự vì sao cô ấy rời bỏ anh ta thì sao. Em đã bao giờ nghĩ thế chưa?”

“Em không biết nữa…” Tôi nghĩ về những tấm hình. “Trông họ có vẻ như đã là một đôi rất hạnh phúc.” Nhưng mà, một tấm hình thì chứng minh được điều gì chứ? Tôi có một khung ảnh đặt ở nhà, trong bức hình tôi đang cười tươi roi rói với Patrick như thể anh vừa lôi tôi ra khỏi một tòa nhà cháy dở, vậy mà trong thực tế lúc đó tôi vừa mới gọi anh là “gã thúi” còn anh hét trả, “Ôi, khốn kiếp!”

Patrick không còn hứng thú nữa. “Này, Jim… Jim, cậu đã xem qua loại xe đạp siêu nhẹ mới chưa? Thấy ngon không?”

Tôi để anh chuyển chủ đề, rồi ngồi nghĩ về những điều Alicia đã nói. Tôi có thể tưởng tượng ra rõ ràng chuyện Will đẩy cô ấy ra xa. Nhưng chẳng phải khi yêu ai đó thì nhiệm vụ của chúng ta là phải gắn bó với họ sao? Để giúp họ vượt qua đau khổ? Khi đau ốm cũng như khi khỏe mạnh, đại loại thế?

“Em uống thêm gì không?”

“Vodka tonic. Loại tonic giảm béo ấy,” tôi nói khi anh nhướng lông mày lên nhìn.

Patrick nhún vai rồi đi về phía quầy bar.

Tôi bắt đầu cảm thấy hơi có lỗi về cách chúng tôi bàn luận về ông chủ của tôi. Nhất là khi tôi nhận ra rằng có lẽ anh ta luôn phải chịu đựng điều đó. Hầu như không thể nào không suy luận về các khía cạnh riêng tư trong cuộc sống của anh ta. Tôi dừng lại. Đang có cuộc nói chuyện về một khóa tập luyện cuối tuần ở Tây Ban Nha. Tôi chỉ nghe câu được câu chăng, cho đến khi Patrick xuất hiện trở lại bên cạnh tôi và huých vào khuỷu tay tôi.

“Thích nó không?” “Cái gì cơ?”

“Cuối tuần ở Tây Ban Nha. Thay cho kỳ nghỉ ở Hy Lạp. Em có thể nằm nghỉ bên hồ bơi nếu em không khoái vụ đạp xe bốn mươi dặm. Chúng ta có thể đặt vé máy bay giá rẻ. Đặt trước sáu tuần. Bây giờ mình đang bàn về chuyện đó…”

Tôi nghĩ đến bà Traynor. “Em không biết nữa… Em không chắc họ có đồng tình cho em nghỉ phép quá sớm như vậy không.”

“Thế em thấy sao nếu anh đi? Anh thật sự rất thích tham dự các cuộc tập luyện ở những vùng cao so với mặt nước biển. Anh đang nghĩ đến việc làm một vụ lớn đây.”

“Vụ lớn thế nào cơ?”

“Một cuộc thi thể thao ba môn kết hợp. Xtreme Viking. Sáu mươi dặm đạp xe, ba mươi dặm đi bộ và bơi một đoạn thật dài trên vùng biển Bắc Âu có nhiệt độ âm.”

 

Người ta luôn nói tới người Viking bằng giọng sùng kính, những người đã nỗ lực chịu đựng thương tích giống như những tay lính kỳ cựu của một cuộc chiến tranh đặc biệt tàn khốc nào đó thuở xưa. Anh chép môi chờ đợi. Tôi nhìn bạn trai và băn khoăn tự hỏi phải chăng thật tình anh là người ngoài hành tinh. Tôi thoáng nghĩ rằng tôi thích anh hơn khi anh còn là người bán hàng qua điện thoại và không thể đi qua một trạm bán xăng mà không mua cất dành mấy thanh sô-cô-la Mars.

“Anh sẽ tham gia thật đấy hả?”

“Sao không chứ? Anh chưa bao giờ khỏe mạnh hơn giờ.”

Tôi suy nghĩ về tất cả những cuộc tập luyện đặc biệt đó – những câu chuyện không bao giờ dứt về cân nặng và độ dài đường đua, sự cân đối và sức dẻo dai. Giờ đây thật quá khó để có được sự quan tâm của Patrick dù với bất cứ chuyện gì.

“Em có thể tham gia cùng anh mà,” anh nói mặc dù cả hai chúng tôi đều biết rằng anh không tin như vậy.

“Em sẽ để mặc anh với trò ấy thôi,” tôi nói. “Đúng thế đấy. Anh cứ tham gia đi.” Tôi nói. Rồi sau đó tôi gọi bánh kem.

Nếu tôi nghĩ những sự kiện xảy ra ngày hôm qua có thể làm tan băng giá tại dinh thự Granta thì tôi đã nhầm.

Tôi chào Will với một nụ cười tươi rói và tiếng chào vui vẻ còn anh ta thậm chí chẳng buồn rời mắt khỏi khung cửa sổ.

“Không phải là một ngày tốt lành rồi,” Nathan lẩm bẩm, khi ông choàng chiếc áo khoác lên vai.

Đó là một buổi sáng u ám, trời đầy mây đen tối sầm, mưa tạt không ngừng vào những khung cửa sổ và thật khó tưởng tượng mặt trời còn có thể ló ra được nữa.

Đến cả tôi cũng thấy buồn bã trong một ngày như thế này. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Will cảm thấy tồi tệ hơn. Tôi bắt đầu công việc với những việc lặt vặt vào buổi sáng, nhắc nhở bản thân từng giây phút rằng đó chẳng phải vấn đề gì đáng kể. Dù sao ta đâu cần phải thích ông chủ, đúng không? Rất rất nhiều người không thích ông chủ của họ. Tôi nghĩ đến bà chủ của Treena, một phụ nữ ly dị nhiều lần có khuôn mặt cứng đờ, bà ta luôn theo dõi xem em gái tôi vào nhà vệ sinh bao nhiêu lần và luôn đưa ra những lời bình luận gai góc khi thấy bọng đái của nó hoạt động quá số lần thông thường. Hơn nữa, tôi đã làm việc ở đây được hai tuần. Điều đó có nghĩa chỉ còn năm tháng mười ba ngày làm việc nữa là được ra đi.

Những tấm hình vẫn nằm gọn gàng trong ngăn cuối của tủ ngăn kéo, nơi ngày hôm qua tôi đã đặt chúng, lúc này đây tôi cúi xuống sàn nhà bắt đầu lôi chúng ra để phân loại, nhận định xem những chiếc khung nào còn sửa được. Tôi sửa đồ khá giỏi. Ngoài ra, tôi nghĩ đó có thể là một cách hữu ích để giết thời gian.

Tôi loay hoay với việc này được mươi phút thì tiếng rì rì khe khẽ của chiếc xe lăn gắn động cơ báo cho tôi biết sự có mặt của Will.

Anh ta ngồi đó ngay cửa ra vào, nhìn thẳng vào tôi. Mắt anh ta thâm quầng. Thỉnh thoảng Nathan vẫn nói với tôi anh ta hầu như không ngủ được. Tôi không muốn nghĩ xem cảm giác đó sẽ như thế nào, nằm bẹp trên giường không dậy được cùng với những ý nghĩ tăm tối triền miên trong não suốt mấy giờ đồng hồ.

“Tôi nghĩ tôi nên xem coi có sửa được cái khung nào không,” tôi nói, giơ một cái khung lên. Trong khung là bức ảnh chụp anh ta đang thực hiện một cú nhảy bungee. Tôi cố tỏ ra vui tươi. Anh ấy cần một ai đó lạc quan, một ai đó vui vẻ.

“Tại sao?”

Tôi chớp mắt. “À… tôi nghĩ vài cái khung vẫn còn sửa được. Tôi mang theo keo dán gỗ đây rồi, nếu anh vui lòng để tôi thử dán chúng. Hoặc nếu anh muốn thay mới, giờ nghỉ trưa tôi có thể vào thị trấn để tìm mua vài chiếc. Hoặc hai chúng ta cùng đi, nếu anh muốn đi ra ngoài một chút…”

“Ai mượn cô sửa khung ảnh cơ chứ?” Anh ta nhìn chòng chọc không chớp mắt.

Ôi ôi, tôi nghĩ. “Tôi… tôi chỉ muốn giúp thôi.”

“Cô muốn sửa chữa lại những gì tôi đã làm ngày hôm qua.” “Tôi…”

“Cô có hiểu cái gì không, Louisa? Sẽ tốt hơn – dù chỉ một lần duy nhất thôi – nếu có ai đó quan tâm đến điều tôi muốn. Việc tôi đập tan đống ảnh đó không phải là một tai nạn. Đó chẳng phải là một nỗ lực thay đổi thiết kế nội thất theo hướng hiện đại. Đó là bởi vì tôi thật sự không muốn nhìn thấy chúng.”

Tôi đứng dậy. “Tôi xin lỗi. Tôi không nghĩ là…”

“Cô nghĩ là cô biết hết mọi điều. Tất cả mọi người đều nghĩ họ biết tôi cần gì. Hãy để những tấm hình phải gió này vào chỗ cũ. Cho gã tàn phế đáng thương kia cái gì đó để ngắm. Tôi không muốn những tấm hình chết tiệt đó chĩa vào tôi bất cứ khi nào tôi bẹp gí trên giường cho đến khi nào một kẻ chết tiệt nào đó đến lôi tôi ra khỏi giường. Được chứ? Cô có nghĩ là cái đầu cô hiểu được chuyện đó không?”

Tôi nuốt khan. “Tôi sẽ không lắp những tấm hình có Alicia – tôi không ngốc đến vậy… tôi chỉ nghĩ là trong một chốc anh có thể cảm thấy…”

“Ôi Chúa ơi…” Anh ta quay đi, giọng điệu rất gay gắt. “Tha cho tôi những liệu pháp tâm lý đó đi. Hãy đi đọc mấy quyển tạp chí nhảm nhí chết tiệt hoặc làm bất cứ việc gì những khi cô không phải pha trà.”

Hai má tôi đỏ chín. Tôi nhìn anh ta di chuyển trong hành lang chật hẹp, tiếng nói của tôi phát ra trước khi tôi kịp hiểu tôi đang làm gì.

“Anh không cần phải cư xử khốn kiếp như vậy đâu.” Từng từ vang lên trong không gian im ắng.

Chiếc xe lăn dừng lại. Một khoảng tĩnh lặng kéo dài rồi sau đó anh ta đảo xe và từ từ quay lại, nhìn thẳng vào tôi, bàn tay anh ta đặt trên chiếc cần điều khiển nhỏ.

“Gì cơ?”

Tôi nhìn anh ta, tim đập thình thịch. “Những người bạn của anh đã bị anh coi không ra gì. Rồi. Có lẽ họ đáng bị đối xử như vậy. Nhưng tôi đến đây ngày này qua ngày khác chỉ để cố gắng làm tốt nhất những việc tôi có thể. Vì thế tôi thật sự sẽ đánh giá cao nếu anh không khiến cuộc sống của tôi đáng chán giống như anh hành động với cuộc sống của tất cả những người khác.”

Hai mắt Will mở to. Anh ta ngập ngừng một chút rồi cất tiếng. “Thế nếu tôi nói với cô tôi không muốn cô ở đây thì sao?”

“Tôi không làm việc cho anh. Tôi làm việc cho mẹ anh. Và trừ phi bà ấy bảo với tôi là bà ấy không cần tôi ở đây nữa chứ không thì tôi vẫn sẽ làm việc. Không phải bởi vì tôi đặc biệt quan tâm tới anh hay yêu thích cái công việc ngớ ngẩn này hay muốn thay đổi cuộc đời anh theo cách này hay cách khác, mà là bởi vì tôi cần tiền. Được chứ? Tôi thật sự rất cần tiền.”

Vẻ mặt Will Traynor bề ngoài không thay đổi nhiều nhưng tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy một thoáng ngạc nhiên như thể anh ta không quen với việc bị người ta bật lại.

Quỷ tha ma bắt, tôi nghĩ, khi hiện thực về những điều tôi vừa làm bắt đầu hiển hiện. Lần này mình làm hỏng bét mọi chuyện rồi.

Nhưng Will chỉ nhìn tôi chằm chằm trong giây lát, rồi khi tôi chưa quay đi, anh ta thở ra khe khẽ như đang muốn nói một điều gì buồn bã.

“Hiểu rồi,” anh ta nói rồi quay xe đi. “Cô cứ bỏ tất cả vào ngăn cuối tủ kéo, được chứ? Tất cả.”

Rồi cùng với tiếng xe lăn rì rì, anh ta biến mất. 

Chương 5

Vấn đề của việc bị ném mạnh vào một cuộc đời hoàn toàn mới – hay ít nhất cũng là bị xô cật lực vào cuộc đời của người khác mà ở đó bạn phải cùng gí mặt vào ô cửa sổ nhà họ – nằm ở chỗ nó bắt bạn phải nghĩ lại về ý niệm bạn là ai. Hoặc trong mắt kẻ khác bạn là người như thế nào.

Với bố mẹ, tất cả những gì tôi mang lại trong bốn tuần ngắn ngủi là thêm đôi ba chút thú vị. Giờ đây tôi là cầu nối tới một thế giới khác. Đặc biệt là mẹ tôi, ngày nào mẹ cũng hỏi đủ thứ về dinh thự Granta và những thói quen trong gia đình đó theo cái cách mà một nhà động vật học say mê nghiên cứu một sinh vật mới lạ lùng và môi trường sống của nó. Mẹ hay hói “Bữa ăn nào bà Traynor cũng dùng khăn ăn bằng vải lanh à?” hoặc, “Họ làm gì với khoai tây?”

Sáng nào tiễn tôi đi làm mẹ cũng nghiêm khắc chỉ đạo tôi tìm hiểu xem họ dùng giấy vệ sinh của hãng nào, liệu có phải ga nhà họ đều là vải poly-cotton không. Tôi hầu như chẳng nhớ được lần nào, điều đó khiến mẹ vô cùng thất vọng. Mẹ tôi thầm tin rằng người quyền quý sống giống loài lợn – kể từ năm tôi lên sáu, khi tôi kể cho mẹ nghe về một bạn con nhà giàu cùng lớp, mẹ bạn ấy không cho chúng tôi chơi ở gian sảnh “vì chúng tôi sẽ quấy rối bụi bặm.”

Khi tôi về nhà tường thuật lại rằng, phải, tất nhiên là chó được phép ăn trong phòng bếp, hoặc là, không, không phải ngày nào nhà Traynor cũng lau chùi bậc tam cấp như mẹ, mẹ sẽ bĩu môi, liếc sang bố và khẽ gật đầu thỏa mãn, như thể tôi vừa thừa nhận mọi điều bà vốn đã nghi ngờ về tình trạng ăn ở lôi thôi luộm thuộm của giới thượng lưu.

Sự phụ thuộc của bố mẹ vào thu nhập của tôi, hay có lẽ là chuyện họ biết tôi thật sự không ưa công việc này, đồng nghĩa với việc tôi cũng nhận được thêm một chút tôn trọng trong nhà. Thật ra điều này cũng không có ý nghĩa gì nhiều – trong trường hợp của bố tôi, nó có nghĩa là bố thôi gọi tôi là “nàng mập”, còn với mẹ tôi, nó có nghĩa là thường có một tách trà đợi sẵn khi tôi về nhà.

Với Patrick, và với em gái tôi, tôi chẳng khác trước chút nào – vẫn là trung tâm của chọc ngoáy, vẫn là nơi nhận những cái ôm hôn, những giận hờn. Trong tôi cũng không thấy có gì thay đổi. Trông tôi vẫn như cũ, vẫn ăn mặc – theo lời Treen – giống như tôi đã có một trận đấu vật trong cửa hàng từ thiện.

Tôi không hay biết hầu hết mọi người trong dinh thự Granta nghĩ gì về tôi. Will thì khó dò. Với Nathan, tôi nghĩ tôi chỉ là người mới nhất trong chuỗi dài những người chăm sóc được thuê. Ông khá thân tình, nhưng hơi tư lự. Tôi có cảm giác ông không tin tôi sẽ trụ ở đây lâu. Ông Traynor thường lịch sự gật đầu chào mỗi khi chúng tôi đi qua nhau trong sảnh, thỉnh thoảng hỏi tôi giao thông hôm đó thế nào, hoặc tôi đã ổn mọi việc ở đó chưa. Tôi không chắc ông có thể nhận ra tôi không nếu ông được giới thiệu về tôi trong một hoàn cảnh khác.

Còn với bà Traynor – ôi trời ơi – với bà Traynor, tôi rõ ràng là người ngớ ngẩn vô tích sự nhất hành tinh.

Điều đó khơi nguồn từ chuyện khung ảnh. Chẳng có điều gì trong ngôi nhà đó lọt khỏi tầm mắt của bà Traynor, và lẽ ra tôi phải biết trước rằng chuyện vỡ khung ảnh to tát chẳng kém gì một vụ động đất. Bà vặn vẹo tôi xem chính xác thì tôi đã bỏ Will một mình trong bao lâu, điều gì đã khiến tôi làm thế, tôi dọn dẹp đống hỗn độn nhanh chậm thế nào. Thật tình bà không chỉ trích tôi – bà quá quý phái nên không thể dù chỉ cao giọng – nhưng cái cách bà chầm chậm chớp mắt trước những câu trả lời của tôi, tiếng hư-hử khe khẽ của bà khi tôi nói, bảo với tôi mọi điều tôi cần biết. Tôi chẳng ngạc nhiên khi Nathan nói với tôi rằng bà là quan tòa.

Bà nghĩ sẽ là một ý hay nếu lần tới tôi không bỏ mặc Will lâu như vậy, dù tình huống có khó xử tới mức nào, hử? Bà nghĩ có lẽ lần lau dọn tiếp theo, tôi nên đảm bảo rằng mọi thứ không quá gần mép để tránh trường hợp chẳng may chúng rơi xuống sàn, hử? (Dường như bà thích tin rằng đó là một tai nạn thì hơn.) Bà khiến tôi cảm thấy mình giống một con ngốc thượng hạng khi ở cạnh bà. Bà luôn xuất hiện ngay khi tôi đánh rơi thứ gì đó xuống sàn, hoặc đang đánh vật với nút vặn bếp lò, hoặc bà sẽ đứng ngay giữa lối đi nhìn với vẻ hơi bực bội lúc tôi bước vào nhà sau khi đi lấy củi bên ngoài, như thể tôi đã đi lâu hơn rất nhiều so với mức cần thiết.

Lạ lùng là thái độ của bà khiến tôi thấy sợ hơn sự thô lỗ của Will. Đôi lần tôi rất muốn hỏi thẳng bà xem có gì sai quấy không. Tôi muốn nói, Bà đã bảo bà mướn tôi vì thái độ của tôi chứ không phải kỹ năng nghiệp vụ cơ mà. Ồ, thì tôi đây, cứ tươi vui dù ngày nào cũng thật nghiệt ngã. Rất mạnh khỏe, đúng như bà mong muốn. Thế thì vấn đề của bà là gì đây?

Nhưng Camilla Traynor không phải kiểu phụ nữ mà ta có thể nói ra điều đó. Vả chăng, tôi có cảm giác là trong nhà đó chưa từng có ai nói thẳng điều gì với ai.

“Lily, cô giúp việc gần đây của chúng tôi, có thói quen rất thông minh là sử dụng cái chảo đó cho hai loại rau cùng một lúc,” có nghĩa Cô làm ăn lộn xộn quá.

“Con có muốn uống trà không Will,” thực sự có nghĩa Mẹ chẳng biết phải nói gì với con cả.

“Mẹ nghĩ có mấy công việc giấy tờ mẹ cần sắp xếp,” có nghĩa Con thô lỗ quá, mẹ ra khỏi cái phòng này đây. Tất cả những lời ấy luôn thốt ra cùng nét mặt thoáng đau thương, và những ngón tay gầy rộc cứ kéo cây thập ác lên xuống trên sợi dây chuyền. Bà quá kín kẽ, quá dè chừng. Bà khiến tôi thấy mẹ mình chẳng khác gì Amy Winehouse. Tôi mỉm cười lịch sự, vờ như tôi chẳng để ý thấy điều gì, chỉ làm công việc mà tôi được trả công để làm.

Hoặc chí ít, tôi cố tỏ ra như thế.

“Sao cô cứ giấu cà-rốt vào đĩa của tôi thế?”

Tôi liếc nhìn xuống đĩa thức ăn. Tôi đang mải nhìn cô phát thanh viên trên ti- vi và tự nghĩ không biết tóc mình sẽ thế nào nếu nhuộm cùng màu đó.

“Gì ạ? Đâu có.”

“Rõ là có. Cô nấu cà-rốt cho nhừ rồi cố che giấu trong nước xốt. Tôi thấy rồi.”

Tôi đỏ mặt. Anh ta nói đúng. Tôi đang ngồi đút cho Will ăn, trong khi hai chúng tôi cùng lơ đãng xem bản tin trưa. Bữa ăn có bò nướng và khoai tây hầm. Mẹ anh ta bảo tôi bỏ ba loại rau củ vào đĩa, dù anh ta đã nói rõ ràng rằng hôm nay anh ta không muốn ăn rau. Tôi không nghĩ có bữa ăn nào mà tôi được chỉ dẫn chuẩn bị lại hoàn toàn thiếu cân bằng dinh dưỡng tới vậy.

“Sao cô cứ cố nhồi cà-rốt cho tôi?” “Đâu có.”

“Thế không có cà-rốt trong món đó hả?”

Tôi nhìn vào những mẩu nhỏ xíu màu cam. “Ừm… à…” Anh ta nhướng mày chờ đợi.

“Ờ… tôi cho là tôi đã nghĩ rau sẽ rất tốt cho anh, phải không ạ?”

Chuyện này một phần là vì vâng lời bà Traynor, một phần là vì thói quen. Tôi thường xuyên cho Thomas ăn, rau của nó phải xay nhuyễn và giấu dưới từng ụ khoai tây, hoặc che trong những mẩu mì ống. Qua mặt được nó mẩu rau nào là chúng tôi lại thấy như một thắng lợi nho nhỏ.

“Để tôi nói thẳng chuyện này nhé. Cô nghĩ một thìa cà-phê cà-rốt sẽ làm tăng chất lượng cuộc sống của tôi hả?”

Thật ngớ ngẩn khi anh ta đánh giá chuyện này như thế. Nhưng tôi đã học được rằng điều quan trọng là không được tỏ ra ngạc nhiên trước bất kỳ điều gì Will làm hoặc nói. “Tôi hiểu ý anh rồi,” tôi nói bình thản. “Tôi sẽ không làm thế nữa.”

Thế rồi bỗng dưng, Will Traynor cười khanh khách. Cơn cười bật ra khiến anh ta thở hổn hển, như thể đây là chuyện vô cùng bất ngờ.

“Vì Chúa,” anh ta lắc đầu. Tôi nhìn anh ta chằm chằm.

“Cô đã lén cho thứ chết tiệt gì nữa vào thức ăn của tôi vậy? Tiếp theo cô sẽ bảo tôi mở đường hầm để Ngài Tàu hỏa có thể giao gửi ít cải Brussel mềm cho nhà ga đỏ.”

Tôi suy nghĩ điều này trong một phút. “Không,” tôi nói, mặt nghiêm trang. “Tôi chỉ xoay xở với Ngài Dĩa thôi. Ngài Dĩa trông chẳng giống con tàu chút nào.”

Thomas đã bảo với tôi như vậy, rất đinh ninh, mấy tháng trước. “Mẹ tôi đã bảo cô làm thế này à?”

“Không. Nghe này, Will, tôi xin lỗi. Tôi chỉ… không nghĩ.” “Kiểu như thế là bất bình thường.”

“Được rồi, được rồi. Tôi sẽ bỏ món cà-rốt phải gió này ra, nếu nó thực sự khiến anh bực mình tới vậy.”

“Không phải món cà-rốt phải gió làm tôi bực mình. Mà là chuyện cà-rốt giấu trong thức ăn của tôi bởi một cô nàng dở hơi cứ gọi dao dĩa và Quý ngài và Quý bà Dĩa.”

“Chỉ đùa thôi mà. Nghe này, để tôi lấy cà-rốt đi và…”

Anh ta quay đi. “Tôi không muốn ăn gì nữa. Chỉ cần pha cho tôi một tách trà.” Anh ta gọi với theo khi tôi rời khỏi phòng, “Và đừng có cố nhét bầu đất chết giẫm vào trà đấy.”

Nathan bước vào khi tôi vừa rửa xong đĩa. “Tâm trạng cậu ấy đang tốt,” ông nói, khi tôi đưa ông một tách trà.

“Thật sao?” Tôi đang ăn sandwich trong phòng bếp. Ngoài trời lạnh thấu xương thấu phổi, và chẳng hiểu sao gần đây không khí trong nhà có cảm giác không còn căng thẳng như trước.

“Cậu ấy nói cô đang cố đầu độc cậu ấy. Nhưng cậu ấy nói chuyện đó – cô biết đấy – với giọng vui vẻ.”

Thông tin này khiến tôi thấy vui sướng một cách kỳ cục. “À… ừm…” Tôi nói, cố che giấu cảm xúc đó. “Cứ đợi đấy.”

“Cậu ấy còn nói đôi điều nữa. Có nhiều tuần cậu ấy chẳng nói một lời nào, nhưng rõ ràng là mấy ngày gần đây cậu ấy đã chịu nói chút ít.”

Tôi nghĩ tới lúc Will bảo tôi nếu tôi không thôi cái trò huýt sáo dở hơi đi thì anh ta sẽ buộc phải tống cổ tôi đi. “Tôi nghĩ định nghĩa của anh ta và của tôi về hay nói có phần khác nhau.”

“À, chúng tôi đã nói đôi điều về cricket. Và tôi phải nói với cô…” Nathan hạ giọng “… Khoảng một tuần trước bà T hỏi tôi nghĩ cô có làm được việc không. Tôi nói tôi nghĩ cô rất chuyên nghiệp, nhưng tôi biết rằng bà ấy không định hỏi chuyện đó. Thế nên hôm qua bà ấy vào bảo với tôi rằng bà ấy nghe thấy hai cô cậu đang cười.”

Tôi nhớ lại chập chiều hôm qua. “Anh ấy cười tôi,” tôi nói. Will thấy thật ngộ nghĩnh khi tôi không biết sốt pesto là gì. Tôi đã bảo với anh ta bữa tối là “mì ống trộn nước xốt xanh xanh.”

“À, bà ấy không quan tâm đâu. Đã quá lâu rồi cậu ấy chẳng cười trước điều gì.”

Quả thực là thế. Will và tôi dường như đã tìm được cách dễ dàng hơn để ở cạnh nhau. Nó chủ yếu xoay quanh cách anh ta thô lỗ với tôi, và đôi khi tôi cũng thô lỗ lại. Anh ta nói gì đó không êm tai với tôi, tôi bật lại rằng nếu chuyện ấy thực sự quan trọng với anh thì hãy hỏi tôi cho tử tế. Anh ta nhiếc tôi, hoặc gọi tôi là kẻ lắm điều rắc rối, thì tôi sẽ bảo anh ta cứ thử không có kẻ lắm điều rắc rối này coi anh ta chịu được bao lâu. Cách này cần nỗ lực đôi chút, nhưng dường như nó hiệu quả với cả hai chúng tôi. Đôi khi thậm chí dường như anh ta cảm thấy nhẹ nhõm khi có người chuẩn bị cư xử thô lỗ với anh ta, cãi vã hoặc nói anh ta là kẻ tồi tệ. Tôi có cảm giác là mọi người đều rón chân quanh anh ta kể từ sau vụ tai nạn – có lẽ chỉ trừ Nathan, dường như Will đối xử với sự tôn trọng tự nhiên, còn ông thì miễn nhiễm với những lời bình luận châm chích của anh ta. Nathan giống như cỗ xe tăng đội lốt người.

“Cô chỉ cần đảm bảo rằng cô vẫn sẽ là trung tâm trêu chọc của cậu ấy, được chứ?”

Tôi đặt cái tách vào bồn rửa. “Tôi nghĩ chuyện đó không thành vấn đề.”

Một thay đổi lớn nữa, ngoại trừ sự thay đổi không khí trong ngôi nhà, là Will không thường xuyên bảo tôi để anh ta một mình như trước nữa, và có đôi buổi chiều anh ta còn hỏi tôi có muốn ở lại xem phim với anh ta không. Tôi chẳng quá phiền khi đó là phim The Terminator (Kẻ hủy diệt) – dù tôi đã xem trọn các tập phim Kẻ hủy diệt – nhưng khi anh ta chiếu cho tôi bộ phim của Pháp có phụ đề thì tôi liếc nhanh lên bìa đĩa rồi nói tôi nghĩ có lẽ tôi không nên tham gia.

“Tại sao?”

Tôi nhún vai. “Tôi không thích xem phim với phụ đề.”

“Thế thì khác gì nói cô không thích xem phim có diễn viên nam. Đừng có ngớ ngẩn thế. Cô không thích gì ở nó chứ? Chuyện cô vừa phải đọc vừa phải xem à?”

“Chỉ là tôi không thích phim nước ngoài.”

“Mọi phim sau phim Local Bloody Hero (Nhiệt huyết anh hùng) đều là phim nước ngoài cả. Cô nghĩ Hollywood là ngoại ô Birmingham chắc?”

“Buồn cười thật.”

Anh ta không tin nổi khi tôi thừa nhận thực sự tôi chưa bao giờ xem phim có phụ đề. Nhưng bố mẹ tôi thường chiếm quyền sở hữu cái điều khiển ti-vi vào buổi tối, còn Patrick thì thích xem phim nước ngoài cũng chẳng kém gì thích đề nghị chúng tôi tham gia lớp học thêu thùa buổi tối. Rạp chiếu phim ở thị trấn gần nhà chúng tôi nhất chỉ chiếu những bộ phim hành động hoặc phim hài lãng mạn mới nhất, cái rạp đó quá ồn ào với lũ trẻ mặc áo chui đầu la hò ầm ĩ mà đa phần người dân quanh thị trấn ấy hiếm khi để tâm.

“Cô phải xem phim này, Louisa. Nói thật nhé, tôi lệnh cho cô xem phim này.” Will lùi xe lại, hất đầu về chiếc ghế bành. “Kia. Cô ngồi kia. Phim chưa hết thì đừng có mà đi đâu. Chưa bao giờ xem phim nước ngoài. Chúa ơi,” anh ta lầm bầm.

Đó là một bộ phim cũ, kể về một anh gù được thừa kế một ngôi nhà ở miền quê nước Pháp, Will nói nó dựa trên một cuốn sách nổi tiếng, nhưng tôi nói tôi chưa từng nghe về tác phẩm ấy. Hai mươi phút đầu tôi cứ ngọ nguậy không yên, bực mình khi phải đọc phụ đề và tự hỏi Will có nổi giận không nếu tôi bảo là tôi cần đi tiểu.

Thế rồi có điều gì đó xảy ra. Tôi thôi nghĩ về chuyện thật quá khó khi phải vừa xem vừa nghe, quên luôn thời gian biểu dùng thuốc của Will, quên nỗi băn khoăn không biết bà Traynor có nghĩ tôi đang chây lười không, tôi bắt đầu lo lắng cho người đàn ông tội nghiệp và gia đình anh ta, đang bị đám hàng xóm độc ác gài bẫy. Khi Anh Gù chết, tôi khóc lặng lẽ, quệt nước mũi vào ống tay áo.

“Thế nào,” Will nói, xuất hiện bên cạnh tôi. Anh ta ranh mãnh liếc nhìn tôi. “Cô không thích xem phim đó chút nào hả.”

Tôi ngước lên, ngạc nhiên khi nhận ra bên ngoài trời đã tối sầm. “Giờ thì anh hả hê rồi phải không?” Tôi lầm bầm, với tay lấy hộp khăn giấy.

“Một chút. Tôi chỉ kinh ngạc khi cô đã tới độ tuổi trưởng thành là – bao nhiêu nhỉ?”

“Hai sáu.”

“Hai sáu, mà chưa từng xem bộ phim phụ đề nào.” Anh ta nhìn tôi lau mắt. Tôi liếc xuống khăn giấy thì nhận ra mình không còn chút mascara nào nữa.

“Tôi chẳng thấy chuyện đó là bắt buộc,” tôi gầm gừ.

“Được rồi. Thế cô làm gì với bản thân, Louisa Clark, nếu cô không xem phim?”

Tôi vo khăn giấy trong nắm tay. “Anh muốn biết tôi làm gì khi tôi không ở đây hả?”

“Cô là người muốn chúng ta biết về nhau mà. Thế thì nói đi nào, kể tôi nghe về cô.”

Anh ta có cái kiểu nói khiến người khác không bao giờ dám chắc anh ta không hề bỡn cợt họ. Tôi đang chờ anh ta tiếp tục trò bỡn cợt. “Tại sao?” tôi hỏi. “Tại sao tự nhiên anh lại muốn biết vậy?”

“Ôi, vì Chúa. Đó đâu phải bí mật quốc gia gì chứ, cuộc sống xã hội của cô ấy mà, phải không?” Anh ta bắt đầu tỏ ra bực bội.

“Tôi không biết…” tôi nói. “Tôi đi uống ở quán rượu. Thỉnh thoảng xem ti-vi. Tôi đi xem bạn trai chạy. Không thường xuyên lắm.” “Cô xem bạn trai chạy.”

“Phải.”

“Mà bản thân cô không chạy.”

“Không. Tôi không thực sự” – tôi liếc nhìn xuống ngực – “sinh ra để chạy.” Câu đó khiến anh ta mỉm cười.

“Còn gì khác nữa?”

“Còn gì khác ư, ý anh là sao?”

“Sở thích? Du lịch? Những nơi cô thích tới?”

Giọng anh ta đang bắt đầu nghe giống giọng ông thầy dạy nghề cũ của tôi.

Tôi cố nghĩ. “Tôi không thật sự có sở thích. Thỉnh thoảng tôi đọc. Tôi thích quần áo.”

“Xoàng,” anh ta nói cộc lốc.

“Anh hỏi mà. Thật sự tôi không phải người có nhiều sở thích.” Giọng tôi trở nên phòng vệ lạ thường. “Tôi không làm gì nhiều, được chưa? Tôi đi làm rồi về nhà thôi.”

“Cô sống ở đâu?”

“Phía bên kia tòa lâu dài. Đường Renfrew.”

Trông anh ta ngơ ngác không rõ. Tất nhiên là thế rồi. Có quá ít xe cộ qua lại giữa hai đầu lâu đài. “Nó ở cuối con đường hai làn. Gần quán McDonald.”

Anh ta gật đầu, nhưng tôi không chắc anh ta có thật sự biết nơi tôi đang nói tới không.

“Ngày nghỉ thì sao?”

“Tôi từng tới Tây Ban Nha, với Patrick. Bạn trai tôi,” tôi nói thêm. “Khi còn nhỏ, chúng tôi chỉ tới Dorset. Hoặc Tenby. Dì tôi sống ở Tenby.”

“Thế cô muốn gì?” “Tôi muốn gì là sao?”

“Từ cuộc sống của cô ấy mà?”

Tôi chớp mắt. “Như thế hơi sâu quá đấy nhỉ?”

“Chỉ chung chung thôi. Tôi đâu có đòi hỏi cô phân tích bản thân. Tôi chỉ hỏi, cô muốn gì? Kết hôn? Đẻ ra mấy nhóc? Công việc mơ ước? Du lịch thế giới?”

Tôi im lặng hồi lâu.

Tôi nghĩ trước khi nói ra những lời này tôi đã biết câu trả lời của mình sẽ khiến anh ta thất vọng. “Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều đó.”

Vào thứ Sáu, chúng tôi đi bệnh viện. Tôi mừng vì tôi không biết về cuộc hẹn của Will trước khi tôi tới làm sáng đó, vì nếu biết tôi sẽ nằm chong mắt suốt đêm lo lắng chuyện phải chở anh ta tới đó. Tôi biết lái xe, đúng. Nhưng tôi nói tôi biết lái xe đúng với cách tôi nói tôi biết nói tiếng Pháp. Phải, tôi đã tham gia kỳ sát hạch thích đáng và vượt qua. Nhưng từ khi có bằng tôi không sử dụng kỹ năng đặc biệt đó quá một lần mỗi năm. Ý nghĩ chất Will và chiếc xe lăn lên chiếc xe đa dụng rồi chở anh ta an toàn tới thị trấn bên cạnh rồi quay về khiến tôi tràn ngập nỗi sợ khủng khiếp.

Nhiều tuần liền, tôi đã hy vọng rằng ngày lao động của tôi có việc gì đó đòi hỏi phải ra ngoài. Nhưng giờ tôi sẵn sàng làm mọi thứ chỉ để được ở trong nhà. Tôi để tấm card bệnh viện của anh ta giữa đống giấy tờ liên quan tới sức khỏe của anh ta – một tập dày cộm chia thành các mục “vận chuyển”, “bảo hiểm”, “sống chung với tật nguyền,” và “lịch hẹn khám”. Tôi cầm tấm card lên và kiểm tra xem nó có ghi ngày hôm nay không. Trong tôi thoáng chút hy vọng rằng Will đã nhầm.

“Mẹ anh có tới không?”

“Không. Bà không tới các cuộc hẹn khám của tôi.”

Tôi không giấu được nỗi ngạc nhiên. Tôi đã nghĩ bà sẽ muốn giám sát mọi mặt công cuộc điều trị anh ta.

“Trước đây bà hay tới,” Will nói. “Giờ thì chúng tôi có một thỏa thuận.” “Nathan có tới không?”

Tôi đang quỳ trước mặt anh ta. Tôi quá căng thẳng tới nỗi đã đánh rơi ít thức ăn trưa xuống lòng anh ta và giờ đang nỗ lực tuyệt vọng lau nó đi, thế nên một mảng quần của anh ta bị ướt nhẹp. Will chẳng nói gì, chỉ bảo tôi làm ơn thôi xin lỗi đi, nhưng điều đó không giúp tôi hết cảm giác căng thẳng bao trùm.

“Để làm gì?”

“Không có gì.” Tôi không muốn anh ta biết tôi đang sợ thế nào. Tôi đã dành phần lớn buổi sáng hôm đó – thời gian tôi thường dành để lau chùi – để đọc đi đọc lại cuốn sách mỏng hướng dẫn sử dụng xe nâng nhưng giờ tôi vẫn cứ sợ chết khiếp khi nghĩ tới lúc tôi phải một mình thực hiện nhiệm vụ nhấc anh ta lên không trung bảy mươi phân.

“Thôi nào, Clark. Có chuyện gì thế?”

“Được rồi. Tôi chỉ… tôi chỉ nghĩ lần đầu này sẽ dễ dàng hơn nếu có ai đó khác biết về dây dợ.”

“Ai đó khác tôi hả,” anh ta nói. “Tôi không có ý đó.”

“Vì không thể kỳ vọng tôi biết chút gì về việc chăm sóc chính tôi hả?”

“Anh biết hoạt động bàn nâng xe lăn hả?” tôi nói không giấu giếm. “Anh có thể nói chính xác cho tôi biết phải làm gì đúng không?”

Anh ta quan sát tôi, cái nhìn của anh ta phẳng lặng. Nếu đang đấu tranh tư tưởng, thì dường như anh ta đã thay đổi ý định. “Được rồi. Đúng thế, ông ấy sẽ tới. Ông ấy sẽ phụ một tay. Vả lại tôi nghĩ nếu có ông ấy ở đây thì cô sẽ giúp mình bớt căng thẳng đi.”

“Tôi đâu có căng thẳng,” tôi phản đối.

“Rõ ràng còn gì.” Anh ta liếc nhìn xuống lòng mình, tôi vẫn đang dùng khăn lau chùi chỗ đó. Tôi đã đánh đổ sốt mì ống, nhưng ướt cả vào người anh ta. “Thế tôi sắp được tha chưa đây?”

“Tôi chưa xong,” tôi cắm máy sấy tóc vào ổ điện và chĩa thẳng ống sấy vào đũng quần anh ta.

Khi khí nóng lan tỏa lên quần, anh ta nhướng mày.

“À, ừm,” tôi nói. “Đó không hẳn là việc tôi nghĩ mình phải làm vào chiều thứ Sáu.”

“Cô rất căng thẳng phải không?”

Tôi biết rõ là anh ta đang quan sát tôi.

“Ôi, tươi tỉnh lên nào Clark. Tôi mới là người bị luồng khí nóng bỏng sấy thẳng vào hạ bộ cơ mà.”

Tôi không đáp. Tôi nghe giọng anh ta qua tiếng rào rào của máy sấy tóc. “Thôi nào, còn chuyện gì tệ hại hơn có thể xảy ra cơ chứ – rốt cuộc tôi đã ngồi xe lăn rồi còn gì?”

Nghe thì ngớ ngẩn, nhưng quả thực tôi không thể không phá lên cười. Đây là biểu hiện rõ ràng nhất Will thực sự đang cố làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn.

Nhìn bên ngoài chiếc xe trông giống một chiếc xe chở người bình thường, nhưng khi cửa sau chỗ ghế hành khách mở ra, một đường trượt hạ từ một bên hông xe xuống đất. Trước sự quan sát của Nathan, tôi đẩy chiếc xe đi ngoài trời của Will (anh ta có một chiếc dành riêng để du ngoạn) thẳng vào đường trượt, kiểm tra phanh khóa điện.

Nathan ngồi vào ghế khách còn lại, cài dây an toàn cho anh ta và chốt bảo vệ cho xe lăn. Cố ngăn đôi tay thôi run rẩy, tôi thả phanh tay rồi từ từ lái xe về phía bệnh viện.

Khi đi xa khỏi ngôi nhà, Will có vẻ hơi co người lại. Trời rét căm căm, Nathan và tôi đã bọc anh ta trong khăn choàng và áo khoác dày cộp, nhưng anh ta trở nên im lặng hơn, cằm đơ ra, trông nhỏ bé trước khung cảnh bao la hơn ở xung quanh. Mỗi lần tôi nhìn vào gương chiếu hậu (khá thường xuyên – vì dù Nathan ở đó tôi vẫn lo sợ bằng cách nào đó chiếc xe sẽ tuột khỏi dây chằng), tôi đều thấy anh ta đang nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ, vẻ mặt không đoán định nổi. Ngay cả dăm ba lần khi tôi giảm tốc hoặc phanh quá đột ngột, anh ta cũng chỉ hơi cau mặt và chờ đợi cho tôi trấn tĩnh lại.

Khi tới được bệnh viện, tôi đã toát đẫm mồ hôi. Tôi lái xe quanh bãi đỗ của bệnh viện ba lần, quá lo sợ không dám chạy lùi vào chỗ nào chưa phải chỗ rộng nhất trong bãi, cho tới khi nhận thấy hai người đàn ông bắt đầu mất bình tĩnh. Thế rồi cuối cùng, tôi hạ thấp đường trượt và Nathan giúp đẩy xe lăn của Will xuống đường nhựa.

“Tốt lắm,” Nathan nói, vỗ lưng tôi khi ông ra khỏi xe, nhưng tôi thấy khó tin đó là sự thật.

Có những thứ phải tới khi đồng hành với người ngồi xe lăn ta mới để ý thấy. Một trong số đó là hầu hết các vỉa hè đều đầy rác rến, lỗ rỗ bao nhiêu hố hốc chắp vá khủng khiếp, hoặc đơn giản là không bằng phẳng. Đi chầm chậm bên Will trong khi anh ta tự điều khiển xe đẩy dọc đường, tôi để ý thấy từng phiến đá nham nhở đều khiến anh ta bật nảy lên đau đớn, anh ta phải cẩn thận tránh vòng quanh những chỗ có khả năng gây dằn xóc. Nathan vờ như không để ý nhưng tôi thấy ông cũng đang quan sát. Will thì chỉ lộ vẻ đăm đăm và quyết tâm.

Một điều khác nữa là, hầu hết các tài xế đều hết sức vô tâm. Họ đỗ xe sát vỉa hè hoặc quá gần nhau tới nỗi chẳng có lối cho xe lăn qua đường. Tôi quá kinh ngạc, đôi lần thậm chí còn muốn để lại một tờ giấy nhắn thô lỗ trên cần gạt nước, nhưng Nathan và Will dường như đã quen rồi. Nathan chỉ ra một chỗ có thể qua đường, thế rồi chúng tôi mỗi người đi một bên Will, cuối cùng cũng qua được bên kia.

Từ khi rời nhà, Will không nói một lời.

Bản thân bệnh viện là một tòa nhà thấp tầng sáng choang, khu vực tiếp tân sạch bong trông giống một khách sạn hiện đại hơn là bệnh viện, có lẽ đây là biểu hiện của bảo hiểm tư nhân. Tôi đứng lùi phía sau khi Will xưng tên với cô tiếp tân, rồi theo anh ta và Nathan xuống một hành lang dài. Nathan mang một ba-lô to đùng chứa mọi thứ mà có thể Will sẽ cần trong cuộc hẹn ngắn ngủi này, từ cốc bê-se cho tới quần áo dự phòng. Sáng nay ông đã gói ghém đồ đạc trước mặt tôi, trình bày tỉ mỉ từng tình huống có thể xảy ra. “Tôi nghĩ sẽ rất tốt nếu chúng ta không phải làm việc này quá thường xuyên,” ông nói khi thấy vẻ mặt sợ hãi của tôi.

Tôi không theo Will vào cuộc hẹn. Nathan và tôi ngồi trên những chiếc ghế thoải mái bên ngoài phòng bác sĩ tư vấn. Ở đây không hề có mùi bệnh viện, chỉ có hương hoa tươi trong bình bên cửa sổ. Cũng không có cả những bông hoa cũ. Những thứ đồ ngoại lai to đùng mà tôi không biết gọi tên là gì được sắp xếp nghệ thuật thành những khối đơn giản.

“Họ đang làm gì trong đó?” tôi nói sau khi chúng tôi ngồi chờ được nửa tiếng.

Nathan ngước lên khỏi cuốn sách. “Chỉ là cuộc kiểm tra định kỳ sáu tháng thôi.”

“Sao, để xem anh ấy có tiến bộ tí nào không à?”

Nathan đặt sách xuống. “Cậu ấy sẽ không tốt lên chút nào cả. Đó là tổn thương tủy sống.”

“Nhưng ông vẫn trị liệu các thứ cho anh ấy.”

“Đó là để cố giữ cho thể trạng của cậu ấy ổn định – để ngăn cho cậu ấy không bị teo cơ, xương không bị khử khoáng, chân không bị tụ máu, đại loại thế.”

Khi cất tiếng trở lại, giọng ông nhẹ nhàng, như thể ông nghĩ có lẽ ông đã làm tôi thất vọng. “Cậu ấy sẽ không đi được nữa đâu, Louisa. Những chuyện đó chỉ xảy ra trên phim Hollywood. Tất cả những gì chúng ta đang làm là tránh cho cậu ấy đau đớn, và duy trì biến chuyển của cậu ấy dù ở mức độ nào đi nữa.”

“Có phải anh ấy làm những thứ này là vì ông không? Những thứ vật lý trị liệu ấy? Dường như anh ấy không muốn làm bất cứ thứ gì mà tôi đề nghị.”

Nathan nhăn mũi. “Cậu ấy làm việc đó, nhưng tôi nghĩ cậu ấy không tin tưởng. Hồi đầu tôi tới, cậu ấy khá quyết tâm. Cậu ấy đã rất chịu khó chữa trị, nhưng sau một năm không tiến triển gì, tôi nghĩ cậu ấy thấy khó giữ niềm tin chuyện chữa trị có ý nghĩa.”

“Ông có nghĩ anh ấy nên tiếp tục cố gắng không?”

Nathan nhìn chằm chằm xuống sàn nhà. “Nói thật nhé? Cậu ấy bị liệt tứ chi mức độ C5/6. Điều đó có nghĩa không có gì hoạt động từ phần này trở xuống…” ông đặt một bàn tay lên phần trên của ngực mình. “Người ta chưa tìm ra cách chữa trị tổn thương cột sống.”

Tôi nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, nghĩ về gương mặt của Will khi chúng tôi lái xe dọc con đường tràn nắng mùa đông, cái khuôn mặt tươi cười rạng rỡ của chàng thanh niên đi trượt tuyết trong kỳ nghỉ. “Nhưng có mọi loại dịch vụ y tế trên đời mà, phải không? Ý tôi là… ở chỗ nào đó như thế này… họ hẳn sẽ chữa trị những thứ bệnh trạng thế này mọi lúc.”

“Đây là một bệnh viện rất tốt,” ông nói bình thản. “Nơi còn sống, còn mọi thứ đó?”

Nathan nhìn tôi, rồi nhìn lại vào sách. “Phải,” ông nói.

Ba giờ kém mười lăm, tôi đi lấy một tách cà-phê, Nathan cũng muốn một tách. Ông nói rằng những cuộc hẹn khám thường kéo dài khá lâu, thế nên ông sẽ giữ chỗ cho tới khi tôi quay lại. Tôi giết thời gian một lát ở khu tiếp tân, lướt qua mấy cuốn tạp chí trên sạp báo, nấn ná bên những thanh sô-cô-la.

Có lẽ đúng như đoán trước, tôi bị lạc khi tìm đường trở lại hành lang cũ và phải hỏi mấy cô y tá xem tôi phải đi hướng nào, thậm chí hai người trong số họ cũng không biết. Khi tôi về lại chỗ đó, cà-phê đã lạnh trên tay, dãy hành lang trống trơn. Khi bước lại gần hơn, tôi thấy cửa phòng bác sĩ tư vấn hé mở. Tôi lưỡng lự bên ngoài, nhưng giờ đây lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng bà Traynor trong lỗ tai, chỉ trích tôi vì đã bỏ mặc anh ta. Tôi lại làm thế rồi.

“Thế thì chúng tôi sẽ gặp lại ngài sau ba tháng nữa, ngài Traynor,” một giọng đang nói. “Tôi vừa điều chỉnh thuốc chống co giật và tôi sẽ đảm bảo có người gọi cho ngài để báo kết quả xét nghiệm. Có lẽ là vào thứ Hai.”

Tôi nghe giọng Will. “Tôi lấy những viên này ở quầy thuốc dưới lầu được không?”

“Được. Đây. Có thể họ sẽ đưa cho ngài thêm một số viên kia nữa.” Một giọng phụ nữ. “Tôi lấy tập hồ sơ đó được chứ?”

Tôi nhận thấy chắc là họ sắp ra. Tôi gõ cửa, và có ai đó gọi mời tôi vào. Hai cặp mắt hướng về phía tôi.

“Xin lỗi,” bác sĩ tư vấn nói, đứng lên khỏi ghế. “Tôi tưởng cô là người chăm sóc y tế.”

“Tôi là… người giúp việc của Will,” tôi nói, đứng nán lại ở cửa. Will được giữ ngả người về phía trước trên ghế để Nathan kéo áo xuống cho anh. “Xin lỗi – tôi tưởng mọi người xong xuôi rồi.”

“Cho chúng tôi thêm một phút nữa thôi, được không, Louisa?” Giọng Will vang khắp căn phòng.

Tôi vừa lầm bầm xin lỗi vừa lui ra ngoài, mặt đỏ bừng. Không phải hình ảnh tấm thân trần trụi của Will khiến tôi kinh ngạc, gầy guộc và chằng chịt sẹo. Không phải cái nhìn hơi giận dữ của bác sĩ tư vấn, hệt như ánh mắt bà Traynor nhìn tôi ngày qua ngày – một cái nhìn khiến tôi thấy mình vẫn là con ngốc chuyên làm hỏng việc như cũ, dù thực tế tôi đã nhận được mức thù lao theo giờ cao hơn.

Không, mà đó là những đường đỏ bầm rạch trên cổ tay Will, những vết sẹo dài nham nhở không lẫn vào đâu được, dù Nathan có kéo ống tay áo của Will nhanh cỡ nào.

ranson cũng thế.” Anh vỗ vào cánh tay tôi, cố thúc tôi chạy theo cho kịp.

“Em nghi ngờ liệu đã bao giờ Jeffrey Archer mất việc nướng bánh ngọt chưa.” Tôi thở không ra hơi. Tôi đang mặc áo lót không phù hợp. Tôi chạy chậm lại, thõng hai tay trên đầu gối.

Anh quay người, chạy giật lùi, giọng anh mang theo không khí tĩnh mịch lạnh ngắt. “Nhưng giả sử ông ấy từng… Anh nói thế thôi. Quên chuyện kia đi, mặc một bộ quần áo tươm tất, đi thẳng tới Trung tâm giới thiệu việc làm. Hoặc anh sẽ huấn luyện em để làm việc với anh, nếu em thích. Em biết việc đó cũng hái ra tiền đấy. Và đừng lo lắng về kỳ nghỉ. Anh sẽ trả.” Tôi mỉm cười với anh.

Anh hôn gió, giọng anh vang vọng khắp đường chạy vắng vẻ. “Em có thể trả lại anh khi em đã ổn định trở lại.”

Nỗ lực đầu tiên của tôi là tìm kiếm trợ cấp cho người tìm việc. Tôi tham gia một cuộc phỏng vấn 45 phút, một cuộc phỏng vấn nhóm, trong đó tôi ngồi với một nhóm khoảng hai mươi người cả đàn ông và đàn bà chẳng tương hợp với nhau, một nửa số họ có cùng vẻ mặt hơi thảng thốt mà tôi ngờ là giống với nét mặt tôi, nửa khác là những người có bộ mặt vô hồn vô cảm vì họ đã tới đây quá nhiều lần rồi. Tôi mặc bộ đồ mà bố tôi gọi là “đồ bình dân.”

Hệ quả của những nỗ lực đó, tôi đã phải chịu đựng làm trọn một ca đêm ở lò giết mổ gà (việc này khiến tôi gặp ác mộng ròng rã suốt mấy tuần liền), và hai ngày theo khóa tập huấn làm Người tư vấn sức khỏe tại nhà. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra rằng về cơ bản tôi đang được đào tạo để chăm sóc người già, thế nên tôi nói với Syed, “người tư vấn” của cá nhân tôi rằng tôi không làm được việc đó. Anh ta khăng khăng bảo tôi tiếp tục, vậy là tôi liệt kê ra một loạt việc người ta sẽ bắt tôi làm, nghe tôi nói thế thì anh im lặng một lát rồi gợi ý rằng chúng tôi (luôn là “chúng tôi” dù khá rõ ràng là người kia trong chúng tôi đã có việc làm) sẽ thử công việc khác.

Tôi làm hai tuần trong một chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh. Khoảng thời gian đó cũng ổn, tôi có thể đối phó được chuyện chiếc mũ đồng phục làm tóc tôi cứng đơ, nhưng tôi không chịu nổi cứ phải bám chặt vào kịch bản “những lời đáp phù hợp”, với những câu như “Hôm nay tôi có thể giúp gì cô?” và “Anh có muốn phần khoai tây chiên cỡ lớn với món đó không?” Tôi đã bị cho thôi việc sau khi một tràng những cô nàng bán bánh vòng bắt gặp tôi đang bàn tán về bao nhiêu giá trị khác nhau của đồ chơi trí tuệ với một đứa trẻ bốn tuổi. Tôi có thể nói gì được đây? Nó là một cô bé bốn tuổi rất thông minh. Tôi thì cũng có cùng ý nghĩ là những nàng công chúa ngủ trong rừng thật là ngớ ngẩn.

Giờ tôi đang ngồi tham dự cuộc phỏng vấn thứ tư, Syed lướt suốt màn hình máy tính cảm ứng để tìm thêm “cơ hội” việc làm. Ngay cả Syed, luôn mang thái độ vô cùng vui vẻ của một người đã giúp những ứng viên khó tìm việc nhất có công việc, cũng đang bắt đầu nói giọng hơi chán nản.

“À… Cô đã bao giờ nghĩ tới chuyện tham gia công nghiệp giải trí chưa?” “Sao cơ, như diễn viên kịch câm ấy hả?”

“Thật ra không phải thế. Nhưng có một vị trí trống cần vũ nữ múa cột. Đúng hơn là mấy vị trí.”

Tôi nhướng mày. “Xin hãy nói với tôi là anh đang đùa đi.”

“Ba mươi giờ một tuần tùy chọn thời điểm. Tôi tin là tiền boa sẽ cao.”

“Làm ơn, làm ơn nói với tôi là không phải anh đang tư vấn cho tôi làm một công việc mà tôi phải mặc đồ lót lượn lờ trước mặt người lạ.”

“Cô nói cô cởi mở với mọi người. Và trông cô có vẻ… lòe loẹt… quần áo.” Anh liếc nhìn xuống chiếc quần bó của tôi, nó mang màu xanh đính kim sa. Tôi đã nghĩ nó sẽ làm tôi vui vẻ lên. Thomas đã ngâm nga bản nhạc nền của phim hoạt hình Nàng tiên cá để trêu chọc tôi gần như suốt giờ ăn sáng.

Syed gõ gì đó lên bàn phím. “Thế người giám sát phòng chat dành cho người lớn thì sao?”

Tôi nhìn anh trân trân.

Anh ta nhún vai. “Cô bảo cô thích nói chuyện với mọi người mà.”

“Không. Và không làm tiếp viên quán bar bán nuy. Hay nhân viên mát-xa. Hay người điều chỉnh webcam. Thôi nào, Syed. Phải có việc gì đó tôi có thể làm mà thực sự không khiến bố tôi lên cơn đau tim chứ.”

Điều này có vẻ làm anh ta bế tắc. “Chẳng còn gì nhiều ngoài những cơ hội bán hàng thời gian tự do.”

“Việc xếp hàng trên giá siêu thị buổi tối thì sao?” Tôi đã làm việc đó nhiều lần nên rất thành thạo.

“Có cả một danh sách chờ ở đây. Phụ huynh có xu hướng thích làm việc đó, vì nó trùng với giờ tới trường của con cái,” anh ta nói giọng có lỗi. Rồi anh ta lại nghiên cứu màn hình. “Thế thì chúng ta thực sự chỉ còn lại việc chăm sóc thôi.”

“Rửa đít cho người già.”

“Louisa ạ, tôi e là cô không đủ tiêu chuẩn làm gì khác. Nếu cô muốn được học nghề, tôi sẽ rất vui lòng chỉ cho cô định hướng đúng. Có rất nhiều khóa học ở trung tâm giáo dục dành cho người lớn.”

“Nhưng chúng ta đã nói rõ chuyện này rồi mà, Syed. Nếu tôi làm thế, tôi sẽ mất tiền trợ cấp người tìm việc, phải không?”

“Đúng thế, vì cô không còn rảnh rang để sẵn sàng làm việc.”

Chúng tôi ngồi im lặng một lát. Tôi nhìn ra cửa, nơi có hai anh chàng bảo vệ lực lưỡng đang đứng. Tôi tự hỏi có phải họ tìm được công việc đó qua Trung tâm giới thiệu việc làm này.

“Tôi không giỏi chăm sóc người già đâu Syed. Ông tôi sống cùng nhà kể từ khi bị tai biến, tôi không xoay xở được với ông.” “A! Thế là cô đã có chút kinh nghiệm chăm sóc.” “Không hẳn. Mẹ tôi làm mọi thứ cho ông.”

“Mẹ cô có thích công việc đó không?” “Buồn cười.”

“Có gì buồn cười đâu.”

“Còn để tôi chăm sóc ông tôi ư? Không đâu, cảm ơn. Ông tôi sẽ bảo thế, mà phải nói là cả tôi cũng vậy. Anh có việc gì ở quán cà-phê không?”

“Tôi không nghĩ là còn đủ quán cà-phê để đảm bảo việc làm cho cô, Louisa. Chúng ta có thể thử làm ở quán gà rán Kentucky. Ở đó cô kiếm được tốt hơn đấy.”

“Bởi vì phục vụ gà rán thì tôi sẽ nhận được nhiều hơn phục vụ bánh đùi gà hay sao? Tôi không nghĩ thế đâu.”

“À, thế thì có lẽ chúng ta sẽ phải tìm việc ra xa xa.”

“Chỉ có bốn chuyến xe buýt lên xuống từ thị trấn nhà tôi. Anh biết rồi đấy. Và tôi biết anh đã bảo tôi nên xem xét tới xe buýt du lịch, nhưng tôi đã gọi cho nhà ga thì biết năm giờ chiều là hết chuyến rồi. Vả lại giá vé đắt gấp đôi xe buýt bình thường.”

Syed ngả lưng ra ghế. “Thế thì thế này, Louisa ạ, tôi thực sự phải nói rõ rằng với tư cách một người phù hợp và được phép nhận tiền trợ cấp, để tiếp tục đủ tiêu chuẩn nhận khoản tiền đó, cô cần…”

“… thể thiện rằng tôi đang nỗ lực tìm việc. Tôi biết chứ.”

Làm sao tôi giải thích được với người đàn ông này tôi muốn làm việc tới mức nào? Anh ta có láng máng hiểu dù chỉ một chút xíu tôi nhớ công việc cũ ra sao hay không? Thất nghiệp với tôi vốn chỉ là một khái niệm, một thứ được nhắc đến bai bải trên bản tin về các xưởng đóng tàu và nhà máy sản xuất ô-tô. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng con người ta có thể nhớ công việc như nhớ chân tay mình – một thứ gắn bó máu thịt như thân thể. Tôi đã không nghĩ rằng mất việc không chỉ mang lại nỗi lo sợ hiện hữu về tiền bạc và tương lai, mà còn khiến ta thấy bản thân thiếu khả năng, hơi vô dụng. Ta sẽ cảm thấy khó thức dậy mỗi sáng hơn cả khi bị đồng hồ báo thức đánh thức một cách phũ phàng. Ta sẽ nhớ những người từng làm việc cùng mình, bất kể ta với họ có ít điểm chung ra sao. Hoặc thậm chí có khi ta còn phát hiện ra mình đang tìm kiếm những gương mặt thân quen trong khi cuốc bộ trên phố đông. Lần đầu tiên nhìn thấy Quý bà Bồ công anh thẩn thơ đi qua quán cũ, trông cụ ngơ ngác như chính cảm giác trong lòng tôi lúc đó, tôi phải cố lắm mới kiềm chế được thôi thúc bước tới ôm cụ một cái.

Giọng Syed phá tan khoảnh khắc mơ màng của tôi. “Aha. Việc này có khi phù hợp đây.”

Tôi cố soi mắt vào màn hình.

“Nhìn kỹ xem nào. Mục này nhỏ lắm. Vị trí chăm sóc.” “Tôi đã bảo anh là tôi không giỏi chăm sóc…”

“Đây không phải người già. Đây là một… vị trí riêng. Giúp việc trong nhà người ta, địa chỉ cách nhà cô khoảng ba cây số. Chăm sóc và đồng hành với một người đàn ông khuyết tật. Cô biết lái xe không?”

“Có. Nhưng tôi có phải chùi…”

“Không yêu cầu chùi đít, theo tôi thấy thì thế.” Anh ta lướt khắp màn hình. “Anh ta bị… bị liệt tứ chi. Anh ta cần một người cho ăn và giúp việc ban ngày. Thường thì với những việc như thế này, người làm cần có mặt khi họ muốn đi đâu đó ra ngoài, giúp đỡ những việc căn bản mà họ không thể tự làm. Oa. Nhiều tiền đấy. Nhiều hơn lương tối thiểu nhiều.”

“Có lẽ là vì công việc đòi hỏi phải chùi đít.”

“Tôi sẽ gọi cho họ để đảm bảo không có vụ chùi đít. Nhưng nếu đó là yêu cầu bắt buộc, cô vẫn sẽ tới phỏng vấn chứ?”

Anh nói câu đó như đặt câu hỏi.

Nhưng cả hai chúng tôi đều biết câu trả lời.

Tôi thở dài, rồi cầm túi lên chuẩn bị lên đường về nhà.

“Chúa ơi,” bố tôi thốt lên. “Các người có tưởng tượng nổi không? Nếu kết cục cuộc đời phải ngồi trên một chiếc xe lăn kềnh càng chưa phải là một hình phạt đủ nặng, thì các người sẽ có Lou nhà tôi tới làm bạn với các người đây.”

“Bernard!” mẹ tôi gắt.

Sau lưng tôi, ông ngoại cười khùng khục bên tách trà trên tay.

Chương 2

Tôi không ngu độn. Tôi chỉ muốn thoát khỏi ý nghĩ mình là đứa ngu độn. Nhưng thật khó mà không cảm thấy mình hơi thiếu tế bào não khi lớn lên bên một cô em gái không chỉ nhảy cóc một bậc vào lớp của tôi, mà rồi sau đó còn vượt lên học trước một lớp.

Tất cả những gì đòi hỏi sự nhạy cảm hoặc trí thông minh, Katrina đều làm trước, dù con bé thua tôi mười tám tháng tuổi. Tất cả sách tôi từng đọc nó đều đọc trước, mọi chuyện tôi kể lể bên bàn ăn tối nó đều biết tỏng cả rồi. Nó là người duy nhất trên đời mà tôi biết thực sự thích làm bài kiểm tra. Đôi khi tôi nghĩ tôi chọn cách ăn mặc hiện nay là vì thứ duy nhất Treena không thể làm là kết hợp quần áo. Nó là kiểu con gái chuyên quần jeans, áo thun. Sáng kiến của nó là ủi quần jeans trước.

Bố tôi bảo tôi là “cá biệt,” vì tôi thường nghĩ tới đâu nói tới đó. Ông hay bảo tôi giống cô Lily, một người tôi chưa từng biết. Kể cũng hơi lạ lùng khi cứ bị so sánh với một người mình chưa gặp bao giờ. Nếu tôi đi đôi bốt tím xuống gác, bố sẽ hất đầu với mẹ rồi nói, “Em có nhớ cô Lily với đôi bốt tím của cô ấy không hả?”, mẹ sẽ khùng khục trong cổ họng rồi cười phá lên như thể có trò đùa gì bí mật lắm. Mẹ bảo tôi là “cá tính”, một cách lịch sự cho biết bà chẳng hiểu nổi cách ăn mặc của tôi.

Nhưng ngoại trừ một giai đoạn ngắn thời tuổi teen, tôi không bao giờ muốn giống Treena, hay bất cứ bạn gái nào ở trường; tới năm mười bốn tuổi tôi vẫn thích quần áo con trai hơn, còn giờ tôi thường chiều ý mình – tùy theo tâm trạng ngày hôm ấy của tôi ra sao. Tôi không bận tâm tới chuyện phải cố khoác lên mình dáng dấp truyền thống. Tôi mi nhon, tóc đen, và theo bố tôi thì tôi có khuôn mặt tiểu yêu. Không phải giống như trong “nữ yêu xinh đẹp”. Tôi ưa nhìn, nhưng tôi không nghĩ có ai lại bảo tôi là xinh đẹp. Tôi không có vẻ duyên dáng yêu kiều. Patrick khen tôi tuyệt đẹp mỗi khi anh muốn làm tình, nhưng anh là kiểu người khá dễ hiểu như thế. Chúng tôi quen nhau đã gần bảy năm.

Tôi hai mươi sáu tuổi, tôi không thực sự hiểu rõ về cuộc đời mình. Tôi nghĩ rồi đây mình sẽ cưới Patrick, sinh ra mấy đứa con, sống cách nơi tôi ở suốt từ nhỏ tới giờ chỉ vài con phố. Ngoài chuyện ăn mặc hơi kỳ lạ và có chiều cao hơi khiêm tốn, không có gì nhiều phân biệt tôi với bất kỳ cô gái nào lướt qua trên phố. Có lẽ chẳng ai ngoái lại nhìn tôi lần nữa. Một cô gái bình thường, sống một cuộc sống bình thường. Điều đó thực sự rất phù hợp với tôi.

“Đi phỏng vấn thì con phải mặc vest chứ,” mẹ tôi khăng khăng. “Bây giờ ai cũng ăn mặc thoải mái quá thể.”

“Bởi vì mặc đồ sọc tăm sẽ hết sức cần thiết nếu con phải bón cơm cho một cụ già.”

“Đừng có tinh tướng.”

“Con không đủ tiền mua vest. Nếu con không nhận được việc đó thì sao?” “Con có thể mặc đồ của mẹ, mẹ sẽ ủi cái áo choàng dễ coi cho con, và ít nhất một lần này thôi, đừng có buộc tóc bằng những thứ kiểu…” bà chỉ nên mái tóc tôi, nó thường được buộc hai bên bằng hai cái nơ sẫm màu “… Công chúa Leia như thế. Thử cố trông như người bình thường một chút đi.”

Tôi biết tốt nhất là không nên tranh luận với mẹ. Và tôi biết chắc bố đã được phím trước là không được bình luận gì về quần áo của tôi khi tôi bước ra khỏi nhà, về dáng đi kỳ cục của tôi trong chiếc váy quá chật.

“Tạm biệt con yêu,” ông nói, khóe miệng cau lại. “Chúc may mắn nhé. Trông con rất có dáng… công sở.”

Điều gây khó xử không phải là chuyện tôi đang mặc bộ vest của mẹ, cũng không phải vì nó là mốt sau cùng của cuối thập niên 1980, mà là nó thực sự quá bé so với tôi. Tôi cảm thấy thắt lưng chiếc váy siết chặt lấy cơ hoành của mình, thế nên tôi kéo chiếc áo khoác đúp ngực sát vào người. Như bố tôi thường nói với mẹ, chỉ béo hơn có cái kẹp tăm.

Tôi ngồi suốt chặng xe buýt ngắn, cảm thấy hơi mệt mỏi. Tôi chưa bao giờ đi phỏng vấn xin việc đúng nghĩa. Tôi vào làm ở quán Bánh Bơ sau khi nghe Treena đánh cá là tôi không thể tìm được việc trong vòng một ngày. Tôi đi vào quán và hỏi thẳng Frank xem ông có cần một đôi tay còn rảnh rang không. Đó là ngày đầu tiên ông mở quán nên ông biết ơn chẳng để đâu cho hết.

Giờ nghĩ lại, tôi thậm chí không nhớ nổi mình có thảo luận về tiền bạc với ông hay không. Ông đề nghị trả lương theo tuần, tôi đồng ý, và mỗi năm một lần, ông bảo tôi là ông đã tăng ít lương cho tôi, thường là nhiều hơn một chút so với mức tôi định yêu cầu.

Tóm lại thì người ta hỏi gì khi phỏng vấn nhỉ? Và nếu họ yêu cầu tôi làm một việc gì đó thực tế với ông già này, kiểu như cho ông ta ăn hoặc tắm cho ông ta thì sao? Syed đã nói là có một người đàn ông chăm sóc đảm nhiệm “những yêu cầu tế nhị” (tôi để trong ngoặc kép). Anh ta bảo công việc của người chăm sóc thứ hai là “ở đây mô tả hơi mù mờ”. Tôi tưởng tượng ra cảnh mình chùi nước dãi khỏi miệng ông già, có thể còn hỏi thật to, “ÔNG TA CÓ MUỐN UỐNG TRÀ KHÔNG?”

Khi ông ngoại lần đầu hơi hồi tỉnh sau khi bị tai biến, ông không thể tự mình làm được việc gì. Mẹ tôi làm tất tật. “Mẹ con là một vị thánh,” bố nói, điều đó với tôi có nghĩa là bà chùi đít cho ông ngoại mà không phải lao ra khỏi nhà vừa chạy vừa la. Tôi khá chắc là sẽ không bao giờ có ai mô tả về tôi như thế. Tôi có thể cắt nhỏ đồ ăn và pha trà cho ông, nhưng còn tất cả những việc khác tôi không chắc mình có thể làm cho ra hồn.

Dinh thự Granta nằm phía bên kia lâu đài Stortfold, gần những bức tường thành xây từ thời trung đại, trên đoạn đường dài không lát đá chỉ mọc lên bốn ngôi nhà và cửa hàng National Trust, nằm ngay giữa khu du lịch. Tôi đã đi qua ngôi nhà này cả triệu lần mà chưa từng nhìn kỹ nó. Lúc này đây, khi bước ngang qua bãi đỗ xe và đường ray nhỏ, cả hai đều vắng bóng người và đều hoang lương như một nét quyến rũ của mùa hè xuất hiện giữa tháng Hai, tôi thấy nó lớn hơn hình dung, gạch đỏ với hai chái, kiểu nhà ta thường thấy trong những số cũ của tạp chí Country Life trong khi chờ đợi ở phòng khám.

Tôi bước trên con ngõ dài, cố không nghĩ xem liệu có ai đang quan sát mình từ cửa sổ hay không. Bước trên con ngõ dài hay đẩy người ta vào thế kẹt; tự nhiên nó khiến người ta cảm thấy mình thấp kém thế nào. Tôi đang tập trung nghĩ xem có nên vén tóc mái lên không thì cánh cửa bật mở khiến tôi giật nảy người.

Một phụ nữ, không lớn hơn tôi là bao, bước ra thềm. Cô mặc quần đen, áo thụng trông giống áo bác sĩ, dưới nách cặp một cái áo khoác và một xấp giấy tờ. Khi bước qua tôi, cô mỉm cười lịch sự.

“Và cảm ơn rất nhiều vì đã tới,” một giọng nói từ trong vẳng ra. “Chúng tôi sẽ liên lạc lại. A, chào.” Một phụ nữ xuất hiện, gương mặt đã tuổi trung niên nhưng còn rất đẹp ẩn dưới mái tóc cắt tỉa khéo léo xa xỉ. Bà mặc một bộ đồ tây mà tôi đoán là có giá cao hơn số tiền bố tôi kiếm được trong một tháng.

“Chắc cô là cô Clark.”

“Louisa ạ.” Tôi đưa tay ra, đúng như mẹ tôi đã ép tôi phải làm. Giới trẻ thời nay chẳng bao giờ đưa tay ra bắt nữa, bố mẹ tôi cùng có ý kiến đó. Thời xưa thì đừng có mơ có người dám nói “chào!”, hoặc tệ hơn là hôn phớt. Người phụ nữ này có vẻ không phải là kiểu người chào đón một cái hôn phớt.

“Phải. Đúng rồi. Cô vào đi.” Bà rút bàn tay khỏi tay tôi nhanh nhất trong chừng mực của phép giao tế, nhưng tôi cảm thấy ánh mắt bà còn nấn ná nhìn, như thể bà đang đánh giá tôi.

“Mời cô vào trong này. Chúng ta sẽ nói chuyện ở phòng khách. Tôi là Camilla Traynor.” Trông bà có vẻ chán nản, như thể ngày hôm nay bà đã thốt ra cùng những từ đó nhiều lần lắm rồi.

Tôi theo bà vào một căn phòng rộng bát ngát với những khung cửa sổ kiểu Pháp kéo từ trần xuống sàn nhà. Những tấm rèm nặng trịch trang nhã rủ xuống từ những thanh treo rèm to tướng bằng gỗ gụ, còn sàn nhà trải thảm Ba Tư trang trí cầu kỳ. Căn phòng mang mùi sáp ong và đồ nội thất cổ. Khắp phòng là những chiếc bàn nhỏ sang trọng, bề mặt bóng loáng của chúng đặt đầy những chiếc hộp trang trí. Trong một thoáng tôi tự hỏi chẳng biết nhà Traynor còn đặt tách trà vào đâu được.

“Cô tới đây thông qua tư vấn của Trung tâm giới thiệu việc làm phải không?

Cô ngồi đi.”

Trong khi bà lật tập hồ sơ, tôi lén nhìn quanh phòng. Lúc trước tôi cứ nghĩ có lẽ ngôi nhà mình sắp tới sẽ hơi giống viện dưỡng lão, với hàng loạt máy cẩu và mọi bề mặt đều trống trơn. Nhưng ngôi nhà này trông giống một trong những khách sạn đắt đỏ kinh hoàng, tắm trong tiền của giới đại gia lâu đời, với những thứ đồ tuyệt diệu thoạt trông đã biết rất giá trị. Có nhiều khung ảnh bằng bạc trên tủ ly, nhưng tôi ngồi quá xa để có thể nhìn rõ mặt người trong ảnh. Trong khi bà chủ lướt qua từng trang hồ sơ, tôi cựa người trên ghế, cố tạo dáng ưa nhìn hơn.

Đúng lúc đó tôi nghe thấy nó – âm thanh không lẫn vào đâu được của tiếng toạc chỉ. Tôi liếc xuống thì thấy hai vạt váy bên phải đã nứt toác ra, những mảnh xơ vải lụa xù lên lởm chởm ở một bên mép vải. Tôi thấy mặt mình đỏ bừng bừng.

“Thế. Cô Clark… cô có kinh nghiệm chăm sóc người bị liệt không?”

Tôi quay sang nhìn bà Traynor, nhoài người để chiếc áo khoác che được chiếc váy càng nhiều càng tốt.

“Không.”

“Cô làm công việc chăm sóc được lâu chưa?”

“À… Thực ra tôi chưa bao giờ làm việc đó,” tôi đáp, rồi nói tiếp, như thể đang nghe thấy tiếng Syed văng vẳng bên tai, “nhưng tôi chắc tôi có thể học.”

“Cô có biết một người bị liệt là thế nào không?”

Tôi nao núng. “Là khi… người đó ngồi rịt trên xe lăn phải không ạ?”

“Tôi nghĩ đó cũng là một cách định nghĩa. Có nhiều cấp độ khác nhau, nhưng trong trường hợp này chúng ta đang nói về tình trạng hoàn toàn mất khả năng điều khiển chân, và chỉ còn rất ít khả năng điều khiển bàn tay và cánh tay. Chuyện đó có gây phiền cho cô không?”

“Chắc chắn là không bằng nó gây phiền cho ông ấy.” Tôi cố mỉm cười, nhưng gương mặt của bà Traynor vô cảm. “Xin lỗi… tôi không có ý…”

“Cô biết lái xe không, cô Clark?” “Có.”

“Bằng lái sạch chưa phạm luật chứ?” Tôi gật đầu.

Camilla Traynor đánh dấu gì đó vào tờ danh sách.

Khoảng rách mỗi lúc một lớn. Tôi có thể thấy nó lấn lên đùi một cách không thể cưỡng lại. Cứ thế này thì tới lúc đứng lên tôi sẽ chẳng khác gì một cô nàng múa phụ họa ở Vegas.

“Cô ổn chứ?” Bà Traynor nhìn tôi chằm chằm.

“Tôi chỉ thấy hơi ấm. Tôi cởi áo khoác ra có được không ạ?” Bà chưa kịp nói gì, tôi đã kéo tuột áo khoác ra rồi buộc quanh hông, che giấu vết rách trên váy. “Nóng thật đấy,” tôi nói, mỉm cười với bà, “đi từ ngoài trời vào mà. Bà biết đấy.”

Sau chỉ một thoáng ngập ngừng, bà Traynor nhìn lại tập hồ sơ. “Cô bao nhiêu tuổi?”

“Tôi hai mươi sáu.”

“Và cô đã làm công việc cũ trong sáu năm.”

“Vâng. Bà có bản photo thư giới thiệu của tôi đấy ạ.”

“Ừm…” Bà Traynor giơ nó lên rồi nheo mắt. “Người chủ trước của cô bảo rằng cô ấm áp, nhanh miệng và làm đẹp cho cuộc sống.”

“Vâng, tôi đã trả tiền để ông ấy ghi thế.” Lại cái khuôn mặt lạnh như tiền đó.

Ôi trời ơi, tôi thầm kêu lên trong lòng.

Cứ như thể tôi đang bị dò xét ấy. Không hẳn là theo nghĩa tích cực. Chiếc sơ-mi của mẹ tôi đột nhiên trở nên thật rẻ tiền, sợi vải tổng hợp lóe lên trong ánh sáng lờ mờ. Thà tôi mặc bất cứ thứ gì còn hơn là bộ đồ này.

“Thế tại sao cô lại bỏ công việc đó, nơi mà rõ ràng là cô được đánh giá rất cao.”

“Ông chủ Frank đã bán quán cà-phê. Cái quán đang ở dưới chân tòa lâu đài đấy ạ. Quán Bánh Bơ. Đã,” tôi tự sửa lại. “Nếu còn được làm ở đó thì tôi mừng lắm.”

Bà Traynor gật đầu, hoặc vì bà cảm thấy chẳng cần nói thêm gì nữa về chuyện này, hoặc vì bà cũng thấy thật mừng cho tôi nếu tôi còn được làm ở đó.

“Thế chính xác thì cô muốn làm gì với cuộc đời mình?” “Gì cơ ạ?”

“Cô có khao khát làm công việc nào không? Đây có phải là bước đệm cho

một việc gì khác? Có giấc mơ sự nghiệp nào mà cô ao ước theo đuổi không?” Tôi nhìn bà vẻ mặt ngơ ngác.

Đây có phải là một dạng câu hỏi đánh đố không?

“Tôi… tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ xa tới thế. Kể từ khi tôi bị mất việc. Tôi chỉ…” Tôi nuốt khan. “Tôi chỉ muốn lại được làm việc.”

Nghe thật lãng nhách. Kiểu người gì đi phỏng vấn mà thậm chí còn chẳng biết mình muốn làm gì? Vẻ mặt của bà Traynor cho thấy bà cũng nghĩ thế.

Bà đặt cây viết xuống. “Thế, cô Clark, tại sao tôi lại nên thuê cô mà không thuê người khác, ví như người xin việc liền trước cô với năm năm kinh nghiệm chăm sóc người bị liệt?”

Tôi nhìn bà. “Ừm… thật lòng ạ? Tôi không biết nữa.” Sau câu nói đó là một sự im lặng, thế nên tôi nói thêm, “Tôi nghĩ đó bà quyền của bà.”

“Cô không thể đưa ra lấy một lý do tại sao tôi nên thuê cô ư?”

Gương mặt mẹ tôi đột nhiên hiện ra trước mắt. Ý nghĩ trở về nhà với bộ váy rách và một cuộc phỏng vấn nữa thất bại thật quá sức chịu đựng của tôi. Mà công việc này được trả tới hơn 9 bảng một giờ.

Tôi hơi thẳng người lên. “À… Tôi học rất nhanh, tôi không ốm bao giờ, tôi sống ngay bên kia lâu đài, tôi khỏe mạnh hơn vẻ bề ngoài… có thể đủ khỏe để hỗ trợ đẩy chồng bà đi vòng vòng…”

“Chồng tôi? Cô sẽ không làm việc với chồng tôi. Đó là con trai tôi.”

“Con trai bà?” tôi chớp mắt. “Ừm… Tôi không sợ làm việc nặng. Tôi giỏi làm việc với mọi kiểu người và tôi pha trà ngon.” Tôi bắt đầu nói lảm nhảm lung tung. Ý nghĩ đó là con trai bà khiến tôi rối bời. “Ý tôi là, bố tôi thì nghĩ đó không phải chuyện gì vĩ đại mà phải kể ra. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì trên đời này không có nhiều thứ không thể thu xếp được bằng một tách trà ngon…”

Cách bà Traynor nhìn tôi có vẻ gì đó hơi lạ.

“Xin lỗi,” tôi lắp bắp khi nhận ra điều mình vừa nói. “Tôi không định nói tới thứ đó… bệnh liệt hai chân… liệt tứ chi… với… con trai bà… có thể giải quyết bằng một tách trà.”

“Tôi phải nói thế này, cô Clark, đây không phải một hợp đồng lâu dài. Lâu nhất cũng chỉ sáu tháng thôi. Vì thế nên mới có mức lương… cạnh tranh. Chúng tôi muốn thu hút người phù hợp.”

“Hãy tin tôi, khi đã làm mấy ca ở lò giết mổ gà, thì phải làm việc ở vịnh Guantánamo sáu tháng liền nghe vẫn hấp dẫn.” Ôi, im ngay, Louisa. Tôi cắn môi.

Nhưng bà Traynor dường như không để ý. Bà đóng hồ sơ lại. “Con trai tôi – Will – bị thương trong một tai nạn giao thông xảy ra gần hai năm trước. Nó cần được chăm sóc hai tư trên hai tư, phần lớn những công việc đó đã được một y tá có nghề thực hiện. Tôi mới đi làm trở lại, thế nên yêu cầu đối với người chăm sóc là ở đây suốt ngày để cận kề nó, giúp nó ăn uống, nói chung là thêm chân thêm tay, và đảm bảo nó không gặp nguy hiểm gì.” Camilla Traynor nhìn xuống lòng. “Điều quan trọng nhất là Will có một người ở bên cạnh hiểu rõ nhiệm vụ đó.”

Mọi điều bà nói, thậm chí cả cách bà nhấn mạnh từng từ, dường như bóng gió ám chỉ tới bản tính có phần ngờ nghệch của tôi.

“Tôi hiểu rồi ạ.” Tôi bắt đầu cầm túi lên. “Thế cô có muốn làm công việc này không?”

Câu nói đó quá bất ngờ tới nỗi thoạt tiên tôi nghĩ mình đã nghe nhầm. “Sao cơ ạ?”

“Chúng tôi cần cô bắt đầu càng sớm càng tốt. Lương trả theo tuần.”

Trong một thoáng tôi chẳng nói thành lời. “Bà muốn nhận tôi thay vì…” tôi mở miệng.

“Thời gian làm việc khá dài – tám giờ sáng tới năm giờ chiều, thỉnh thoảng muộn hơn. Không có nghỉ trưa, tuy nhiên vào giờ ăn trưa khi Nathan, y tá thường trực của nó tới chăm sóc cho nó, thì sẽ có nửa tiếng rảnh rang.”

“Bà không cần thứ gì liên quan tới… y tế?”

“Will có mọi chăm sóc y tế mà chúng tôi có thể dành cho nó rồi. Điều chúng tôi cần cho nó là một người khỏe mạnh… và vui vẻ. Cuộc sống của nó quá… khó khăn, thế nên điều quan trọng là nó được khích lệ để…” Bà bỏ dở câu, ánh mắt chăm chú vào đâu đó bên ngoài những ô cửa sổ kiểu Pháp. Cuối cùng, bà quay lại nhìn tôi. “Thôi, nói đơn giản là với chúng tôi sức khỏe tinh thần của nó cũng quan trọng không kém gì sức khỏe thể chất. Cô hiểu chứ?”

“Tôi hiểu rồi. Tôi có phải… mặc đồng phục không?”

“Không. Tuyệt đối không mặc đồng phục.” Bà liếc xuống chân tôi. “Tuy nhiên có lẽ cô nên mặc gì đó… bớt lộ hơn.”

Tôi liếc xuống chỗ chiếc áo khoác của tôi chệch ra, để lộ một mảng lớn đùi trần. “Nó… Tôi xin lỗi. Nó bị rách. Thật ra nó không phải của tôi.”

Nhưng có vẻ như bà Traynor không nghe nữa rồi. “Tôi sẽ giải thích những việc cần làm khi cô bắt đầu. Lúc này Will không phải người dễ tính nhất để ở bên cạnh đâu, cô Clark. Công việc này đòi hỏi thái độ tinh thần không thua gì bất kể… kỹ năng nghiệp vụ nào mà có thể cô có đâu. Thế nên. Ngày mai chúng tôi sẽ gặp cô chứ?”

“Ngày mai ư? Bà không muốn… bà không muốn tôi gặp anh ta sao?”

“Hôm nay tâm trạng Will không tốt. Tôi nghĩ tốt nhất chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu sau.”

Tôi đứng lên, nhận ra bà Traynor đã chờ thấy tôi đi về.

“Vâng,” tôi nói, giật cái áo khoác của mẹ ôm quanh người. “Ừm. Cảm ơn bà.

Tôi sẽ gặp bà vào tám giờ sáng ngày mai.”

***

Mẹ đang múc khoai tây vào vào đĩa của bố. Bà múc hai muỗng, ông gạt ra, múc muỗng thứ ba và thứ tư từ đĩa lớn. Mẹ chặn bố lại, xúc hai muỗng đó trở lại đĩa lớn, cuối cùng dùng muỗng gõ vào khớp tay bố khi ông đòi múc lại. quanh chiếc bàn nhỏ là bố mẹ tôi, em gái tôi và Thomas, ông ngoại tôi, và Patrick – tối thứ Tư nào anh cũng qua ăn.

“Bố ơi,” mẹ nói với ông ngoại. “Để ai đó cắt nhỏ thức ăn cho bố nhé?

Treena, con cắt nhỏ thức ăn cho ông được không?”

Treena vươn người tới bắt đầu cắt thức ăn trên đĩa của ông bằng những

đường dao khéo léo. Sau đó nó cũng làm y như thế cho Thomas. “Tình hình của anh chàng đó tệ tới mức nào hả Lou?”

“Chẳng thể kỳ vọng gì nhiều một khi người ta vui lòng để cho con gái chúng ta giải tỏa tinh thần cho cậu ta,” Bernard bình luận. Sau lưng tôi, ti-vi bật để bố và Patrick xem bóng đá. Thỉnh thoảng họ lại dừng, nhìn ló qua tôi, miệng ngừng nhai khi xem những pha qua người hoặc suýt vào.

“Em nghĩ đây là một cơ hội lớn. Con bé sẽ làm việc trong một dinh thự. Một gia đình tốt. Họ có quyền quý không con yêu?”

Trong phố chúng tôi, “quyền quý” thường dùng để chỉ một người không có người thân trong gia đình có chân trong hội Chống đối xã hội.

“Con nghĩ là có.”

“Hy vọng là con đã tập cúi đầu chào.” Bố tôi cười nhăn nhở.

“Thật ra chị đã gặp anh ta chưa?” Treena vươn người kéo ly nước ép của Thomas vào kẻo nó huých đổ xuống sàn. “Anh chàng bị tàn tật ấy? Trông anh ta thế nào?”

“Nhưng cũng kỳ cục nhỉ. Ngày nào con cũng ở bên cậu ta suốt cả ngày. Chín tiếng đồng hồ. Con sẽ gặp cậu ta nhiều hơn gặp Patrick.”

“Có gì ghê gớm đâu,” tôi nói.

Dù ngồi đối diện tôi qua bàn, Patrick vờ như chẳng nghe thấy tôi nói gì. “Nhưng con sẽ không phải lo lắng về trò quấy rối tình dục cũ mèm ấy, nhỉ?” bố tôi nói.

“Bernard!” mẹ tôi gắt.

“Anh chỉ nói lên điều ai cũng nghĩ thôi. Có lẽ là ông chủ tốt nhất cậu có thể tìm cho bạn gái, nhỉ, Patrick?”

Bên kia bàn, Patrick mỉm cười. Anh đang bận từ chối món khoai tây, dù mẹ ra sức mời. Tháng này anh không ăn món gì có các-bon để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc thi marathon vào đầu tháng Ba.

“Con biết không, mẹ đang nghĩ, con có phải học ngôn ngữ ám hiệu không nhỉ? Ý mẹ là, nếu cậu ta không thể giao tiếp, làm sao con biết được cậu ta muốn gì?”

“Bà ấy không bảo anh ta không nói được, mẹ ạ.” Tôi chẳng nhớ rõ những gì bà Traynor đã nói. Tôi hơi choáng váng vì thật sự được nhận vào làm.

“Có thể anh ta nói qua một trong mấy cái thiết bị đó. Giống như ông nhà khoa học nọ ấy mà. Ông xuất hiện trong phim hoạt hình Gia đình nhà Simson ấy.

“Chết tiệt,” Thomas lên tiếng. “Không phải,” bố tôi đáp.

“Stephen Hawking,” Patrick nói.

“Cháu nói đúng đấy, chính là ông ta,” mẹ tôi nói, hết nhìn Thomas lại nhìn bố tôi bằng ánh mắt trách móc. Bà có thể cắt bít-tết bằng cái nhìn đó. “Dạy thằng bé những từ xằng bậy.”

“Đâu có. Anh không biết thằng bé lượm từ đó từ đâu.” “Chết tiệt,” Thomas nói, nhìn thẳng vào ông ngoại nó.

Treena cau mặt. “Em nghĩ em sẽ chết khiếp nếu anh ta nói qua một trong những loại thiết bị phát tiếng nói đó. Chị tưởng tượng nổi không? Lấy-cho-tôi- ly-nước,” Treena giả giọng.

Thông minh – nhưng không đủ thông minh để giúp mình khỏi bị lừa, bố tôi thỉnh thoảng vẫn lầm bầm như thế về Treena. Nó là thành viên đầu tiên trong nhà đi học đại học, thế rồi Thomas ra đời khiến nó phải bỏ giữa chừng khi đang học năm cuối. Bố mẹ vẫn ôm mộng một ngày nào đó nó sẽ làm rạng danh gia đình. Có thể làm việc ở một nơi có bàn tiếp tân không có màn hình an ninh ở bên cạnh. Hoặc có.

“Tại sao ngồi trên xe lăn lại đồng nghĩa với việc anh ta phải nói chuyện như một quái vật ngoài hành tinh?” tôi đáp.

“Nhưng chị sẽ phải tiếp xúc gần gũi và thân mật với anh ta. Ít nhất chị sẽ phải lau miệng cho anh ta, đưa nước và các thứ.”

“Thế thì sao? Thế đâu có phải là ngành khoa học nghiên cứu phản lực.” “Có ai đã từng thay bỉm cho Thomas mà kêu lên như thế còn gì.”

“Chỉ có mỗi một lần thôi.”

“Hai lần. Mà chị mới thay cho thằng bé có ba lần cả thảy.” Tôi múc ít đỗ xanh, cố tỏ ra lạc quan hơn cảm giác trong lòng.

Nhưng ngay từ khi ngồi trên chuyến xe buýt về nhà, những ý nghĩ tương tự cũng đã bắt đầu náo loạn trong đầu tôi. Chúng tôi sẽ nói gì đây? Sẽ ra sao nếu suốt ngày anh ta cứ nghẹo đầu nhìn tôi chăm chăm? Tôi có hoảng sợ không? Nếu tôi không hiểu nổi anh ta muốn gì thì sao? Tôi đặc biệt kém trong khoản chăm sóc mọi thứ; ở nhà chúng tôi chẳng còn cây cối hay vật nuôi gì nữa sau thảm họa hamster, bọ que và cá vàng. Và bà mẹ băng giá của anh ta có thường xuyên lượn lờ qua lại không? Tôi không thích cái ý nghĩ suốt ngày bị giám sát. Bà Traynor trông có vẻ là kiểu phụ nữ sẵn sàng nhúng tay vào mọi chuyện.

“Patrick, tóm lại thì cậu nghĩ gì về tất cả chuyện này?”

Patrick uống một hơi nước thật dài, rồi nhún vai. Bên ngoài, mưa đập trên ô cửa sổ, nghe rõ hơn cả tiếng thìa nĩa và chén đĩa.

“Công việc đó được trả nhiều tiền, chú Bernard. Dù sao thế còn tốt hơn làm ca đêm ở lò giết mổ gà.”

Mọi người quanh bàn đều lầm bầm đồng tình.

“À, thật buồn cười khi điều hay ho duy nhất anh có thể nói về công việc mới của em là nó tốt hơn việc vận chuyển lũ gà đã làm thịt lòng vòng trong cái lò giết mổ rộng như kho chứa máy bay,” tôi nói.

“Ồ, con có thể vừa làm vừa tập thể dục luôn rồi tới làm mấy việc huấn luyện thể hình với Patrick đây này.”

“Tập thể dục. Cảm ơn, bố.” Tôi đã đưa tay ra định xúc thêm một thìa khoai tây, nhưng giờ lại đổi ý.

“Ồ, sao lại không nhỉ?” Mẹ trông như định ngồi xuống – mọi người ngừng lại một chốc, nhưng không, mẹ lại thẳng người lên, múc cho ông ngoại một ít nước xốt. “Chuyện đó cũng đáng suy nghĩ cho tương lai đấy. Con có khiếu nói chuyện mà.”

“Nó có khiếu tích mỡ thì có,” bố tôi đập lại.

“Con đã có cho mình một công việc,” tôi nói. “Được trả nhiều hơn việc cũ, thưa bố.”

“Nhưng đó chỉ là tạm thời thôi,” Patrick xen vào. “Bố em nói đúng đấy. Có khi em sẽ muốn bắt đầu có cơ thể thon gọn trong khi em làm việc đó. Em có thể trở thành một huấn luyện viên thể hình giỏi, nếu em chịu khó một chút.”

“Em không muốn trở thành huấn luyện viên thể hình. Em không có hứng… tất cả những trò đó… nhảy tưng tưng.” Tôi lầm bầm xúc phạm Patrick, anh chỉ cười khì khì.

“Điều Lou muốn là một công việc để chị ấy có thể thư giãn, được xem ti-vi buổi ngày trong khi cho ông tướng đó ăn uống qua ống hút,” Treena nói.

“Đúng đấy. Bởi vì cắm lại mấy bông thược dược ẻo lả vào xô nước đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của tinh thần và thể chất mà, phải không Treen?”

“Mọi người đang trêu con mà con yêu.” Bố nâng cốc trà lên. “Con có việc là tuyệt rồi. Mọi người rất tự hào về con. Và bố cá với con là một khi con đã đặt được chân vào dinh thự đó thì các vị đại gia ấy sẽ không muốn loại bỏ con đâu.”

“Chết tiệt,” Thomas bi bô.

“Không phải anh,” bố vừa nói vừa nhai, trước khi mẹ kịp nói gì.

Chương 3

“Đây là khu nhà phụ. Trước kia nó vốn là nhà kho, nhưng chúng tôi nhận thấy nó phù hợp với Will hơn nhà chính vì toàn bộ mặt bằng của nó nằm ở tầng trệt. Đây là phòng thừa để Nathan có thể ngủ lại nếu cần. Chúng tôi khá thường xuyên cần có người ở đây từ sáng sớm.”

Bà Traynor bước nhanh xuống hành lang, chỉ hết cánh cửa này sang cánh cửa khác, chẳng buồn ngoái nhìn, đôi giày cao gót của bà gõ lách cách trên sàn đá. Dường như bà kỳ vọng là tôi có thể theo kịp.

“Chìa khóa xe đây. Tôi đã để tên cô trên sổ bảo hiểm. Tôi tin những chi tiết cô cung cấp là đúng. Nathan có thể chỉ cô cách hoạt động của đường dẫn xe lăn lên ô-tô. Tất cả những gì cô phải làm là giúp Will vào đúng vị trí, phần còn lại là việc của chiếc xe. Nhưng mà… dạo này nó cũng chẳng thích đi đâu cho lắm.”

“Ngoài trời hơi lạnh,” tôi nói.

Bà Traynor có vẻ chẳng nghe thấy tôi nói gì.

“Cô có thể pha trà và cà-phê trong bếp để uống. Tôi để cả trong tủ ly. Phòng tắm đi lối này…”

Bà mở cánh cửa, tôi nhìn chăm chăm vào cái máy cẩu bọc nhựa và kim loại trắng chúc cần xuống chỗ tắm. Có một vùng ướt nước ở dưới vòi sen, bên cạnh đó là một chiếc xe lăn xếp gọn. Trong góc có một cái tủ, mặt kính cho thấy nó chứa hàng dãy hộp bọc giấy bạc xếp gọn gàng. Từ chỗ này, tôi không biết chúng là gì, nhưng tất cả tỏa ra mùi khử trùng thoang thoảng.

Bà Traynor đóng cửa lại, hơi quay mặt sang tôi. “Tôi cần phải nhắc lại, điều rất quan trọng là Will luôn có người ở bên cạnh. Người chăm sóc trước đã ra ngoài mấy tiếng để đi sửa xe, và khi cô ta vắng mặt Will đã… tự làm mình bị thương.” Bà nuốt khan, như thể vẫn còn đau lòng trước ký ức đó.

“Tôi sẽ không đi đâu cả.”

“Tất nhiên là cô sẽ cần… nghỉ ngơi giải tỏa. Tôi chỉ muốn làm rõ là cô không được để Will một mình trong những khoảng thời gian dài hơn mười tới mười lăm phút. Nếu có việc bất khả kháng thì phải gọi điện thoại nội bộ, nếu chồng tôi, Steven, ở nhà, hoặc gọi điện thoại di động cho tôi. Nếu cô cần nghỉ bữa nào, tôi phải được thông báo càng sớm càng tốt. Tìm người trông giúp không phải lúc nào cũng dễ.”

“Vâng.”

Bà Traynor mở tủ búp-phê ở sảnh. Bà nói giọng chẳng khác gì người ta đọc thuộc một bài phát biểu đã tập luyện kỹ càng.

Tôi thoáng tự hỏi đã bao nhiêu người chăm sóc từng làm việc ở đây trước tôi.

“Nếu Will bận, sẽ rất có ích nếu cô biết làm một số việc nhà cơ bản. Giặt khăn trải giường, hút bụi, đại loại thế. Dụng cụ lau dọn để phía dưới bồn rửa. Có lẽ nó sẽ không muốn cô ở bên cạnh cả ngày đâu. Cô và nó sẽ phải xác định mức độ hợp tác cho hai người.”

Bà Traynor nhìn quần áo của tôi, như thể lần đầu mới gặp. Tôi mặc một chiếc áo ghi-lê se sua, bố thường bảo cái áo này khiến tôi trông như một con đà điểu. Tôi cố mỉm cười. Có vẻ như phải nỗ lực nhiều lắm.

“Tất nhiên là tôi hy vọng hai người có thể… hòa hợp với nhau. Sẽ rất tốt nếu

Will xem cô là bạn chứ không phải người giúp việc được trả công.” “Đúng thế. Anh ấy… ưm… thích làm gì ạ?”

“Nó xem phim. Thỉnh thoảng lại nghe đài, hoặc nghe nhạc. Nó có một vật dụng kỹ thuật số. Nếu cô để thứ đó gần bàn tay nó, thường thường nó tự điều khiển được. Ngón tay nó có thể nhúc nhích được một chút, tuy nhiên nó khó cầm nắm.”

Tôi thấy mình phấn chấn hẳn lên. Nếu anh ta thích âm nhạc và phim ảnh, chắc chắn chúng tôi có thể tìm thấy chuyện gì đó chung phải không? Đột nhiên trước mắt tôi hiện ra hình ảnh tôi và người đàn ông này cùng nhau cười ngặt nghẽo khi xem một bộ phim hài Hollywood, tôi kéo máy hút bụi vòng vòng còn anh ta thì nghe nhạc. Có lẽ chuyện này sẽ ổn cả thôi. Có lẽ cuối cùng chúng tôi sẽ thành bạn. Trước đây tôi chưa bao giờ có bạn bị tàn tật – tôi chỉ biết một người bị điếc là David, bạn của Treen, nhưng còn phải tranh luận dài dài nếu có ai cho rằng bị điếc là tàn tật.

“Cô có hỏi gì không?” “Không ạ.”

“Thế thì chúng ta đi giới thiệu cô thôi.” Bà liếc đồng hồ. “Chắc lúc này Nathan cũng mặc xong đồ cho Will rồi.”

Chúng tôi ngần ngừ ngoài cửa một lát rồi bà Traynor gõ cửa. “Con có đó không? Mẹ đưa cô Clark tới gặp con đây, Will.”

Chẳng có tiếng trả lời. “Will? Nathan?”

Một giọng nói đặc sệt ngữ âm New Zealand cất lên. “Cậu ấy xong xuôi rồi, bà T.”

Bà đẩy cửa mở. Phòng khách của khu nhà phụ rộng kinh khủng, có một bức tường hoàn toàn bằng kính nhìn ra khung cảnh bao la của vùng nông thôn. Một ngọn lửa củi cháy bập bùng trong góc, một chiếc sofa thấp màu be đối diện với cái ti-vi màn hình phẳng siêu lớn, chỗ ngồi trên ghế được phủ khăn len. Không khí gian phòng thật trang nhã và thanh bình – một không gian đậm chất Scandinavia.

Ở giữa phòng là một chiếc xe lăn màu đen, chỗ ngồi và lưng dựa bọc lông cừu. Một người đàn ông vạm vỡ khỏe mạnh mặc áo bờ-lu không cổ màu trắng đang cúi xuống, đặt chân của một thanh niên vào đúng bàn để chân trên xe lăn. Khi chúng tôi bước vào phòng, anh chàng trên xe lăn ngước nhìn lên từ dưới mái tóc rối tinh rối bù. Ánh mắt anh ta gặp ánh mắt tôi, dừng lại một thoáng, anh ta gừ lên một tiếng kinh hoàng. Rồi miệng anh ta cau lại, và anh ta hét lên một tiếng ghê sợ nữa.

Tôi thấy mẹ anh ta cứng đờ người. “Will, thôi đi!”

Anh ta thậm chí không thèm liếc nhìn bà. Một tiếng kêu thời tiền sử khác lại phát ra từ đâu đó cạnh lồng ngực của anh ta. Đó là một tiếng động rùng rợn, gai người. Tôi cố chống lại cơn rùng mình. Người đàn ông đang cau mặt, đầu anh ta nghiêng nghiêng rụt vào giữa hai vai khi anh ta nhìn tôi chằm chằm bằng khuôn mặt vẹo vọ. Trông anh ta thật khiếp khủng, và có vẻ như đang giận dữ. Tôi nhận thấy ở chỗ tôi cầm túi xách, các khớp tay đã trắng bợt cả ra.

“Will! Làm ơn.” Có một thoáng kích động trong giọng nói của mẹ anh ta. “Làm ơn, đừng làm như thế.”

Ôi trời đất ơi, tôi thầm rên lên. Tôi không chuẩn bị tinh thần cho chuyện này. Tôi nuốt khan khó nhọc. Người đàn ông vẫn nhìn tôi trân trân. Dường như anh ta đang chờ tôi hành động.

“Tôi… tôi là Lou.” Giọng tôi run bần bật, phá tan khoảng yên lặng. Trong một giây tôi băn khoăn không biết có nên đưa tay ra, rồi sực nhớ anh ta không thể bắt tay, nên thay vì vậy tôi khẽ vẫy tay. “Nói tắt của Lousia.”

Thế rồi trước sự kinh ngạc của tôi, gương mặt anh ta giãn ra, đầu thẳng thớm trên hai vai.

Will Traynor vẫn nhìn tôi không dứt, những nụ cười mờ nhạt nhất lướt qua mặt anh ta. “Xin chào cô Clark,” anh ta nói. “Tôi nghe bảo cô là người trông chừng mới nhất của tôi.”

Nathan đã xong việc điều chỉnh bàn để chân. Ông vừa đứng dậy vừa lắc lắc đầu. “Cậu là anh chàng hư hỏng, cậu T. Hư lắm.” Ông cười tươi rói, chìa bàn tay to bản ra, tôi nắm lấy một cách yếu ớt. Ở Nathan toát ra một vẻ điềm tĩnh. “Tôi e là cô vừa thấy cái vẻ đặc sệt chất Christy Brown của Will. Cô sẽ quen với cậu ấy thôi. Cậu ấy chỉ quát tháo thế thôi chứ tâm địa không có gì.”

Bà Traynor đang nắm chặt cây thánh giá ở cổ bằng những ngón tay trắng xanh gầy guộc. Bà kéo nó tới lui trên sợi dây chuyền mỏng tang, một thói quen khi căng thẳng. Gương mặt bà khắc khổ. “Tôi sẽ để mọi người lại bàn bạc công việc với nhau. Nếu cần giúp đỡ gì cô cứ gọi qua điện thoại nội bộ. Nathan sẽ nói qua cho cô về sinh hoạt hằng ngày của Will, và trang thiết bị của nó.”

“Con ở đây mà mẹ. Mẹ không cần phải nói thay con đâu. Não con đâu có liệt. Vẫn chưa.”

“Ừ, được rồi, nếu con định gây chuyện, Will, mẹ nghĩ tốt nhất cô Clark nên nói chuyện trực tiếp với Nathan.” Tôi để ý thấy bà không nhìn vào mắt anh ta khi nói. “Hôm nay tôi sẽ làm việc tại nhà. Thế nên tới giờ ăn trưa tôi sẽ ghé qua, cô Clark.”

“Được ạ,” giọng tôi thoát ra the thé.

Bà Traynor biến mất. Chúng tôi yên lặng lắng nghe tiếng bước chân rõ mồn một của bà xa dần xuống sảnh về phía nhà chính.

Rồi Nathan phá tan khoảng im lặng. “Cậu có phiền không nếu tôi đi chỉ cho cô Clark về thuốc thang của cậu, Will? Cậu muốn xem phim không? Hay nghe nhạc?”

“Radio 4 nhé, Nathan.” “Hẳn rồi.”

Chúng tôi đi xuống bếp, “Bà T nói cô không có nhiều kinh nghiệm với người bị liệt lắm?” “Vâng.”

“Được rồi. Hôm nay tôi sẽ để mọi chuyện đơn giản thôi. Có một tập tài liệu ở đây nói cho cô gần như mọi điều cô cần biết về sinh hoạt của Will, và tất cả các số khẩn cấp của cậu ấy. Tôi khuyên cô nên đọc nó, nếu cô có thời gian rảnh. Tôi nghĩ là cô sẽ có thôi.”

Nathan lấy chiếc chìa khóa ở thắt lưng ra mở một cái tủ đang khóa, trong đó chất đầy hộp và lọ nhựa nhỏ đựng thuốc. “Rồi. Đây chủ yếu là công việc của tôi, nhưng cô cần biết thứ nào ở đâu phòng khi khẩn cấp. Có thời gian biểu trên tường kia để cô biết lịch sinh hoạt hằng ngày của cậu ấy. Nếu có đưa thêm bất cứ thứ gì cho cậu ấy thì cô phải đánh dấu vào đó…” ông chỉ “… nhưng tốt nhất là cô đừng làm gì mà bà T không bảo, ít nhất là trong giai đoạn này.”

“Tôi không biết là tôi sẽ phải để ý chuyện thuốc thang cơ đấy.”

“Không khó khăn gì đâu. Cậu ấy hầu như biết hết mình cần gì. Nhưng có lẽ cậu ấy cần giúp đỡ một chút để lấy thuốc xuống. Chúng tôi thường dùng cái cốc bê-se này đây. Hoặc cô có thể nghiền thuốc bằng bộ chày cối này rồi hòa tan vào một ly nước.”

Tôi cầm một chiếc nhãn lên. Tôi không chắc mình đã bao giờ nhìn thấy nhiều thuốc tới thế ở bên ngoài hiệu thuốc chưa.

“Thế này nhé. Cậu ấy có hai loại thuốc huyết áp, loại này là để hạ huyết áp khi đi ngủ, loại này là để tăng huyết áp khi thức dậy. Nhưng loại này cậu ấy cần khá thường xuyên để kiểm soát cơn co cơ – cô cần phải đưa cho cậu ấy một viên vào giữa buổi sáng, và một viên nữa vào giữa buổi chiều. Cậu ấy không thấy khó nuốt mấy viên đó quá đâu, vì chúng nhỏ mà lại được bọc đường. Những loại này dành cho chứng co thắt bàng quang, còn mấy loại đây là để điều trị trào ngược a-xit. Thỉnh thoảng cậu ấy cần chúng sau khi ăn nếu thấy không dễ chịu. Đây là thuốc kháng histamine cho cậu ấy vào buổi sáng, còn đây là mấy loại thuốc nhỏ mũi, nhưng tôi luôn làm mấy việc đó cuối cùng trước khi ra về, nên cô không phải lo lắng gì đâu. Cậu ấy có thể phải uống paracetamol nếu thấy đau, và cậu ấy cũng phải uống thuốc ngủ, nhưng những loại thuốc này khiến cậu ấy dễ cáu kỉnh hơn vào ban ngày nên chúng tôi cố hạn chế chúng.

“Những thứ này…” ông giơ một chai nữa lên “… là thuốc kháng sinh cậu ấy dùng hai tuần một lần khi thay ống thông tiểu. Nếu không đi đâu thì tôi sẽ làm việc này, nếu đi vắng thì tôi sẽ để lại hướng dẫn cụ thể. Thuốc này khá mạnh. Có hộp đựng găng tay cao su kia, nếu có khi nào đó cô cần rửa cho cậu ấy. Nếu đau thì cậu ấy kêu la, nhưng cậu ấy cũng thấy không tới nỗi nào, vì chúng ta có nệm hơi.”

Khi tôi đứng đó, ông thò tay vào túi lấy ra một chiếc chìa khóa nữa đưa cho tôi. “Đây là khóa dự phòng,” ông nói. “Không được đưa cho bất kỳ ai khác kể cả Will, được chứ? Bảo vệ nó như mạng sống nhé.”

“Quá nhiều thứ để nhớ.” Tôi nuốt khan.

“Mọi điều đã được ghi lại. Tất cả những gì cô cần nhớ hôm nay là các loại thuốc chống co giật của cậu ấy. Những loại kia kìa. Có số điện thoại của tôi đấy, cần gì cô cứ gọi. Khi không ở đây thì tôi nghiên cứu, nên tốt nhất là đừng gọi thường xuyên quá, nhưng chừng nào cô còn chưa tự tin thì cứ gọi thoải mái.”

Tôi nhìn chăm chú vào tập giấy tờ trước mặt tôi. “Phải làm sao nếu… anh ta cần đi tiểu?” Tôi nghĩ tới chiếc cần cẩu. “Tôi không chắc mình có thể, ông biết đấy, nhấc anh ta lên.” Tôi cố diễn vẻ mặt khác hẳn nỗi sợ hãi trong lòng.

Nathan lắc đầu. “Cô không cần phải làm mấy việc đó đâu. Ống thông tiểu sẽ làm. Tới giờ trưa tôi sẽ đến thay nó. Cô ở đây không phải để làm những việc liên quan tới thể chất.”

“Thế công việc của tôi ở đây là gì?”

Nathan nhìn chăm chăm xuống sàn nhà mãi rồi mới ngước nhìn tôi. “Cố làm cậu ấy vui lên một chút chăng? Cậu ấy… cậu ấy hơi cáu bẳn. Dễ hiểu thôi, vì… hoàn cảnh như thế. Nhưng cô sẽ phải chai mặt vào. Trò chọc quậy sáng nay là cách cậu ấy làm cô mất bình tĩnh đấy.”

“Có phải vì thế mà thù lao mới cao tới vậy?”

“Ồ phải. Không có bữa trưa nào là miễn phí đâu nhỉ?” Nathan vỗ lên vai tôi. Tôi thấy người mình nảy lên vì cái vỗ đó. “À, cậu ấy không sao đâu. Cô không phải đi rón ra rón rén bên cạnh cậu ấy.” Ông trù trừ một chút. “Tôi mến cậu ấy.”

Ông nói câu đó như thể ông là người duy nhất mến nổi anh ta.

Tôi theo ông trở lại phòng khách. Xe lăn của Will đã dịch chuyển tới cửa sổ, anh ta quay lưng lại chúng tôi, nhìn chăm chú ra ngoài trời, nghe gì đó trên đài.

“Tôi xong việc rồi Will. Cậu có muốn gì trước khi tôi đi không?” “Không đâu. Cảm ơn Nathan.”

“Thế tôi sẽ để cậu lại với đôi tay giỏi giang của cô Clark nhé. Gặp lại vào giờ ăn trưa, anh bạn.”

Lòng tôi chợt trào lên nỗi hoảng sợ khi quan sát ông giúp việc ân cần khoác áo vào.

“Vui vẻ nhé, hai bạn.” Nathan nháy mắt với tôi, rồi đi mất.

Tôi đứng giữa phòng, tay thọc sâu trong túi áo, không chắc phải làm gì. Will Traynor tiếp tục nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ như thể tôi không ở đó.

“Anh muốn tôi pha cho anh một tách trà không?” cuối cùng tôi lên tiếng, khi sự im lặng trở nên không chịu nổi nữa.

“À. Phải rồi. Cô gái pha trà để kiếm sống. Tôi đã tự hỏi mất bao lâu thì cô sẽ muốn phô diễn kỹ năng của mình. Không. Không đâu, cảm ơn.”

“Thế cà-phê nhé?”

“Đồ uống nóng không dành cho tôi, ngay lúc này, cô Clark ạ.” “Anh có thể gọi tôi là Lou.”

“Thế thì ích gì?”

Tôi chớp mắt, miệng tôi mở ra một chốc. Tôi ngậm lại. Bố luôn nói làm thế trông tôi còn ngớ ngẩn hơn vốn dĩ. “À… tôi có thể mang gì cho anh?”

Anh ta quay lại nhìn tôi. Cằm anh ta lởm chởm vì mấy tuần liền không cạo, mắt anh ta thật khó dò. Anh ta quay đi.

“Tôi sẽ…” tôi nhìn quanh phòng. “Thế tôi sẽ xem có thứ gì cần giặt giũ không.”

Tôi đi ra khỏi phòng, tim đập thình thịch. Từ góc an toàn trong bếp, tôi lôi điện thoại ra bấm tin nhắn gửi cho em gái.

Kỳ quái quá. Anh ta ghét chị.

Mấy giây sau tin nhắn trả lời xuất hiện.

Chị mới ở đó có một giờ đồng hồ thôi mà, chị gái yếu đuối! B & M rất lo lắng về tiền bạc. Hãy kiềm chế và nghĩ về thù lao hàng giờ. X.

Tôi đóng nắp điện thoại lại, lòng rối bời. Tôi xới tung giỏ đựng đồ giặt trong phòng tắm, xoay xở nâng được mức đồ giặt trong máy lên được một phần tư ít ỏi, dành mấy phút để kiểm tra hướng dẫn sử dụng máy. Tôi không muốn máy giặt tắc tị giữa chừng, cũng không muốn mình làm gì đó có thể khiến Will hoặc bà Traynor nhìn tôi như thể tôi là con hâm lần nữa. Tôi khởi động máy giặt rồi đứng đó, cố nghĩ xem còn việc gì khác mình được phép làm. Tôi lôi chiếc máy hút bụi từ tủ nhỏ bên tường ra rồi kéo nó tới lui dọc hành lang và trong hai phòng ngủ, vừa làm vừa nghĩ rằng nếu thấy tôi lúc này thể nào bố mẹ cũng sẽ khăng khăng đòi chụp hình kỷ niệm. Phòng ngủ phụ hầu như trống trơn, giống phòng trong khách sạn. Tôi cho là Nathan không hay ngủ lại. Tôi nghĩ tôi chẳng thể trách ông được.

Tôi chần chừ bên ngoài phòng ngủ của Will Traynor, rồi biện hộ rằng nó cũng cần được hút bụi như mọi chỗ khác. Có một cái giá âm tường ở một bên, trên đó là chừng hai mươi khung ảnh.

Khi hút bụi quanh giường, tôi cho phép mình nhìn chúng một cái thật nhanh. Kia là hình một thanh niên đang nhảy bungee từ một mỏm đá, hai cánh tay anh ta dang ra như tượng Chúa. Kia là hình một thanh niên – có lẽ là Will trước đây – đang ở nơi nào trông như rừng nguyên sinh, rồi lại có bức hình của anh ta giữa đám bạn say xỉn. Anh nào anh nấy đều thắt nơ bướm và mặc áo vét-tông dự tiệc, tay người này choàng vai người kia.

Kia là hình anh ta đi trượt tuyết, bên cạnh là một cô gái đeo kính đen có mái tóc dài vàng óng. Tôi dừng lại, để nhìn rõ hơn bức hình anh ta đeo kính bảo hộ trượt tuyết. Trong ảnh đó, anh ta cạo râu nhẵn nhụi, và dù dưới ánh sáng chói lóa, khuôn mặt anh ta vẫn toát lên cái vẻ rạng rỡ xa hoa của những tay lắm tiền nhiều của đi du lịch một năm ba bận. Anh ta có đôi vai rộng lực lưỡng nổi rõ qua cả lần áo khoác trượt tuyết. Tôi cẩn thận đặt bức ảnh lại trên bàn và tiếp tục hút bụi quanh giường. Cuối cùng, tôi tắt máy hút bụi rồi bắt đầu cuộn dây lại. Khi tôi cúi xuống gỡ dây ra khỏi máy, qua khóe mắt tôi để ý thấy có chuyển động, tôi giật nảy mình khẽ ré lên. Will Traynor đang ở trên ngưỡng cửa, quan sát tôi.

“Khu trượt tuyết Courchevel. Hai năm rưỡi về trước.”

Mặt tôi đỏ bừng. “Tôi xin lỗi. Tôi chỉ…”

“Cô chỉ xem ảnh của tôi. Tự nghĩ hẳn phải kỳ quặc lắm khi đang sống như thế bỗng dưng lại thành một thằng què.” “Không đâu.” Tôi càng đỏ mặt dữ hơn.

“Nếu cô thấy mình lại tò mò không chịu nổi thì số ảnh còn lại của tôi nằm trong ngăn kéo cuối cùng đấy,” anh ta nói.

Rồi với chiếc xe lách cách rẽ sang phải, anh ta biến mất.

Buổi sáng hôm ấy chùng chình và quyết định kéo dài thêm dăm năm nữa. Tôi không nhớ lần gần đó nhất từng phút từng giờ kéo dài thê lương tới vậy là khi nào. Tôi cố tìm càng nhiều việc để giết thời gian càng tốt, ít khi vào phòng khách hết mức có thể, biết rằng mình đang nhát như thỏ đế, nhưng chẳng thực sự bận lòng.

Tới mười một giờ, tôi mang cho Will Traynor một cốc bê-se đựng nước và thuốc chống co giật, như Nathan đã yêu cầu. Tôi đặt thuốc vào lưỡi anh ta rồi đưa cái cốc bê-se ra, như Nathan đã chỉ dẫn. Cái ly đó bằng nhựa đục nhờ nhờ, giống cái ly Thomas hay dùng, chỉ khác là không có hình chàng Bob Thợ xây ở bên. Anh ta nỗ lực nuốt vào, rồi ra hiệu rằng tôi nên để anh ta một mình.

Tôi phủi bụi mấy cái giá không cần phủi bụi cho lắm, rồi suy tính lau mấy ô cửa sổ. Xung quanh tôi, khu nhà phụ lặng như tờ, chỉ có tiếng ti-vi rì rầm nho nhỏ trong phòng khách nơi anh ta ngồi. Tôi không thấy đủ tự tin để bật nhạc trong phòng bếp. Tôi có cảm giác anh ta sẽ có những câu cay nghiệt để nói về lựa chọn âm nhạc của tôi.

Tới mười hai giờ ba mươi, Nathan đến, mang theo giá lạnh ngoài trời và một cái nhướng mày. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” ông hỏi.

Tôi hiếm khi mừng khi gặp được ai tới vậy trong đời. “Ổn ạ.”

“Tốt. Giờ cô có thể nghỉ nửa tiếng. Tôi và cậu T có một số việc phải làm vào giờ này trong ngày.”

Tôi gần như bổ nhào tới lấy áo khoác. Tôi không định ra ngoài ăn trưa, nhưng lúc này được ra khỏi cái nhà đó khiến tôi sung sướng suýt ngất vì nhẹ nợ. Tôi dựng cổ áo lên, khoác túi lên vai, rồi bước vội xuống ngõ, như thể tôi đang nóng ruột muốn tới chỗ nào không bằng. Thực sự thì tôi chỉ đi lòng vòng trên mấy con đường xung quanh trong suốt nửa tiếng, thở những hơi ấm như làn khói vào tấm khăn quàng quấn chặt.

Đầu này thị trấn không có quán cà-phê, khi mà giờ đây quán Bánh Bơ đã đóng cửa. Tòa lâu đài hoang vắng. Tụ điểm ăn uống gần nhất là một quán rượu, một nơi mà tôi ngờ mình chẳng đủ tiền mua lấy một món uống, nói gì tới một bữa trưa ăn nhanh. Tất cả xe trong bãi đỗ đều to đùng và đắt giá, với biển số còn mới tinh.

Tôi đứng trong bãi đỗ xe của lâu đài, biết chắc mình đã thoát khỏi tầm nhìn của dinh thự Granta, và bấm số của em gái. “Này.”

“Chị biết em không thể nói chuyện trong giờ làm mà. Không phải chị đang đi ra ngoài đấy chứ?”

“Không. Chỉ là chị cần nghe một giọng nói thân thiện thôi.” “Anh ta có tệ tới thế không đấy?”

“Treen, anh ta ghét chị. Anh ta nhìn chị như thể chị là thứ mèo tha vào nhà ấy. Anh ta thậm chí còn không uống trà. Chị đang biến khỏi mắt anh ta.” “Em không tin nổi mình đang nghe thấy điều này đấy.”

“Điều gì?”

“Cứ nói chuyện với anh ta xem nào, gào lên. Tất nhiên anh ta phải thấy khổ sở rồi. Anh ta chết gí trên cái xe lăn chết toi đó. Và có lẽ chị không giúp gì được. Nói chuyện với anh ta đi. Tìm hiểu anh ta. Trên đời này còn chuyện gì tồi tệ hơn có thể xảy ra nữa?”

“Chị không biết… Chị không biết chị có thể bám trụ nổi không.”

“Em sẽ không nói với mẹ là chị bỏ việc sau nửa ngày đâu. Họ sẽ không cho chị một xu nào cả, Lou. Chị không thể làm thế được. Cả nhà không cho chị làm thế đâu.”

Em gái tôi nói đúng. Tôi nhận ra mình ghét nó.

Một khoảng im lặng ngắn trôi qua. Treen chuyển giọng hòa giải quen thuộc. Giọng nói này có vẻ thật sự lo âu. Điều đó có nghĩa là nó biết quả tình tôi đang có công việc tệ hại nhất trên đời. “Nghe này,” nó nói. “Công việc đó chỉ kéo dài sáu tháng. Làm sáu tháng thôi, có chút gì hữu ích trên CV của chị, rồi chị sẽ tìm được công việc chị thật sự thích. Mà này – hãy nhìn nó theo hướng này đi, ít nhất nó không phải làm ca đêm trong lò giết mổ gà, phải không?”

“Làm đêm trong lò giết mổ gà chẳng khác gì đi chơi hội nếu đem so với…” “Em cúp máy đây Lou. Em sẽ gặp chị sau.”

“Thế chiều nay anh có muốn đi đâu đó không? Chúng ta có thể lái xe tới chỗ nào đấy nếu anh thích.”

Nathan đã đi được gần nửa giờ. Tôi đã kéo dài việc rửa tách trà lâu nhất mà con người có thể làm, và tôi nghĩ nếu ở thêm một giờ nữa trong ngôi nhà câm lặng này thì đầu tôi sẽ nổ tung mất.

Anh ta quay đầu về phía tôi. “Cô đang nghĩ tới chỗ nào?”

“Tôi không biết. Cứ lái xe trong vùng nông thôn thôi được không?” Tôi đang làm cái việc mà thỉnh thoảng tôi vẫn làm là giả vờ mình là Treena. Nó là một người tuyệt đối bình tĩnh và giỏi giang, thế nên chưa bao giờ có ai gây bối rối được cho nó. Giọng tôi, với lỗ tai tôi, nghe rất sành điệu và vui vẻ.

“Nông thôn,” anh ta nói, ra chiều ngẫm nghĩ. “Chúng ta sẽ thấy gì nhỉ. Ít cây? Chút trời?”

“Tôi không biết nữa. Bình thường anh hay làm gì?”

“Tôi chả làm gì cả, cô Clark. Tôi chả làm gì được nữa. Tôi ngồi. Tôi chỉ tồn tại thôi.”

“À,” tôi nói. “Tôi nghe bảo anh có một cái xe có thể sử dụng xe lăn?” “Và cô lo là nó sẽ hỏng mất nếu không được sử dụng hằng ngày?” “Không, nhưng tôi…”

“Cô đang bảo tôi nên ra ngoài đấy à?” “Tôi chỉ nghĩ…”

“Cô nghĩ đi dạo lòng vòng một tí sẽ tốt cho tôi? Hít thở không khí trong lành?”

“Tôi chỉ cố để…”

“Cô Clark ạ, đời tôi sẽ chẳng tiến bộ gì đáng kể khi lái xe quanh mấy con đường làng của Stortfold đâu.” Anh ta quay mặt đi.

Đầu anh ta vùi giữa hai vai và tôi tự hỏi anh ta có thấy thoải mái không. Giờ chưa phải là lúc hỏi anh ta. Chúng tôi ngồi trong im lặng.

“Anh có muốn tôi mang máy tính tới không?”

“Sao nào, cô đang nghĩ tới một nhóm hỗ trợ người bị liệt tử tế mà tôi có thể gia nhập hả? Qu R Us? The Tin Wheel Club?”

Tôi hít vào một hơi thật sâu, cố nói giọng thật tự tin. “Được rồi… ừm… vì chúng ta sẽ dành toàn bộ thời gian này ở cạnh nhau nên có lẽ chúng ta nên biết đôi chút về nhau…”

Thái độ trên gương mặt anh ta khiến tôi nản chí. Anh ta đang nhìn chăm chăm vào bức tường, cằm anh ta giật giật.

“Chỉ là… ở bên cạnh một người chừng ấy thời gian là khá dài. Cả ngày cơ mà,” tôi tiếp tục. “Có lẽ nếu anh nói cho tôi một chút xem anh muốn làm gì, anh thích cái gì, thì tôi có thể… đảm bảo mọi thứ diễn ra đúng như anh muốn, phải không?”

Lần này sự im lặng thật nhức nhối. Tôi nghe giọng mình chầm chậm chìm nghỉm vào sự nín thinh đó, tôi chẳng nghĩ ra mình phải làm gì với đôi tay. Treena và điệu bộ hiểu biết của nó đã bốc hơi rồi.

Cuối cùng, chiếc xe lăn kêu rì rầm và anh ta từ từ quay mặt nhìn tôi.

“Đây là điều tôi biết về cô, cô Clark. Mẹ tôi bảo cô hay nói.” Anh ta nói như thể đó là đại họa. “Chúng ta thỏa thuận được không? Làm sao để cô không hay nói ở cạnh tôi được đây?”

Tôi nuốt khan, cảm thấy mặt mình nóng ran.

“Không sao,” tôi cất tiếng, khi có thể mở miệng trở lại. “Tôi sẽ ở trong bếp. Cần gì anh cứ gọi tôi.”

***

“Chị không thể bỏ cuộc ngay như thế.”

Tôi nằm nghiêng trên giường, chân gác lên tường, giống như tôi vẫn làm thời còn tuổi teen. Tôi đã ở trên này từ khi ăn tối xong, một chuyện không bình thường chút nào. Từ khi Thomas được sinh ra, nó và Treena chuyển vào phòng lớn hơn, còn tôi ở trong phòng ở tầng lửng, một căn phòng đủ nhỏ để khiến người ta thấy sợ không gian kín nếu ngồi trong đó lâu hơn nửa giờ đồng hồ liên tục.

Nhưng tôi không muốn ngồi dưới lầu với mẹ và ông ngoại vì mẹ cứ nhìn tôi lo âu rồi nói những câu kiểu như “Rồi sẽ tốt lên thôi, con yêu” hay “Có việc nào tốt đẹp ngay từ ngày đầu đâu” – như thể bà từng có một công việc ra hồn trong hai mươi năm qua. Chuyện đó khiến tôi cảm thấy có lỗi. Tôi thậm chí chẳng làm xong được việc gì.

“Chị đâu có nói chị đang bỏ cuộc.”

Treena lao vào phòng mà không buồn gõ cửa, như nó vẫn làm hằng ngày, dù tôi lúc nào cũng phải gõ cửa phòng nó nhè nhẹ, chẳng may Thomas đang ngủ.

“Mà biết đâu chị đang khỏa thân. Ít nhất em cũng phải đánh tiếng trước chứ.”

“Em còn thấy những cảnh tệ hơn rồi mà. Mẹ nghĩ chị sẽ gửi đơn thôi việc.”

Tôi hạ chân xuống khỏi tường, dựng người ngồi dậy.

“Ôi Chúa ơi, Treen. Nó tệ hơn chị nghĩ. Anh ta quá khốn khổ.” “Anh ta không đi lại được. Tất nhiên phải khốn khổ rồi.”

“Không, nhưng mà vì chuyện đó anh ta trở nên mai mỉa và thô lỗ. Lần nào chị nói gì hay đề nghị gì anh ta cũng nhìn chị như thể chị là con điên, hoặc nói những câu khiến chị thấy mình như đứa lên hai.”

“Có khi chị nói cái gì ngớ ngẩn thật thì sao. Chỉ cần hai người quen tính nhau là được.”

“Thật sự chị không nói gì sai. Chị đã rất cẩn thận. Chị chẳng nói gì ngoài

Anh có muốn lái xe ra ngoài không? hay Anh có muốn uống trà không?.”

“À có thể ban đầu với ai anh ấy cũng như vậy, cho tới khi biết chị có gắn bó ở đó hay không. Em cá là họ đã thay đổi hàng loạt người giúp việc.”

“Anh ta thậm chí không muốn chị ở trong cùng một phòng với anh ta. Chị không nghĩ chị gắn bó được với nó đâu, Katrina. Chị thực lòng không nghĩ thế. Thật tình – nếu ở đó em sẽ hiểu.”

Tới đó Treena không nói gì, chỉ nhìn tôi chăm chăm một lát. Nó đứng dậy và liếc nhìn ra cửa, như thể đang kiểm tra xem có ai ở chiếu nghỉ không.

“Em đang tính quay trở lại trường đại học,” cuối cùng nó lên tiếng. Mất mấy giây não tôi mới tiếp nhận nổi sự thay đổi chiến lược này. “Ôi trời ơi,” tôi thốt lên. “Nhưng…”

“Em sẽ đi vay để trả học phí. Nhưng em có thể cũng được nhận một khoản trợ cấp đặc biệt nào đó, vì em có Thomas, và nhà trường đang đề nghị giảm học phí cho em vì họ…” Nó nhún vai, tỏ vẻ hơi xấu hổ. “Họ nói họ nghĩ em có thể đạt thành tích nổi bật. Có người bị bật khỏi khóa học ngành thương mại, thế nên họ có thể nhận em vào đầu học kỳ tới.”

“Thomas thì sao?”

“Ở ký túc xá có nhà trẻ. Bọn em có thể sống trong một căn apartment ở đó vào những ngày trong tuần, và về đây hầu hết các kỳ cuối tuần.” “Ôi.”

Tôi cảm thấy nó đang quan sát tôi. Tôi không biết phải làm gì với mặt mình.

“Em thực sự khao khát sử dụng lại bộ não của mình. Làm hoa đang khiến đầu em phát rồ. Em muốn học. Em muốn mình tiến bộ. Và em phát ốm khi bàn tay luôn chết cóng vì ngâm trong nước.”

Hai chúng tôi cùng nhìn vào đôi bàn tay nó, ửng đỏ dù trong nhà ấm áp như ở vùng nhiệt đới.

“Nhưng…”

“Phải. Em sẽ không thể làm việc, Lou. Em sẽ không thể đưa gì cho mẹ. Có thể em… có thể em còn cần họ giúp đỡ một chút.” Lần này thì trông nó thực sự không thoải mái. Vẻ mặt nó, khi nó liếc nhìn tôi, gần như xin lỗi.

Dưới lầu, mẹ đang cười với chuyện gì đó trên ti-vi. Chúng tôi có thể nghe mẹ đang nói chuyện với ông ngoại. Mẹ thường giải thích diễn biến bộ phim cho ông, dù chúng tôi luôn bảo mẹ là không cần phải làm thế. Lúc này tôi chẳng nói được nên lời. Sức nặng từng từ em gái tôi nói thấm từ từ mà không sao cưỡng lại được. Tôi cảm thấy mình như nạn nhân của Mafia, chống mắt nhìn gông cùm chầm chậm siết lấy mắt cá.

“Em thực sự cần phải làm thế, Lou. Em muốn nhiều hơn cho Thomas, nhiều hơn cho mẹ con em. Cách duy nhất giúp em tới được đâu đó là trở lại giảng đường. Em không có một Patrick. Em không chắc có bao giờ em có được một Patrick hay không, vì từ khi em có Thomas thì chẳng ai bén mảng tới cả. Em cần làm việc tốt nhất bản thân em có thể làm.”

Khi tôi chẳng nói gì, nó nói thêm, “Cho em và Thomas.”

Tôi gật đầu.

“Lou à? Làm ơn nhé?”

Trước đây tôi chưa bao giờ thấy em gái tôi như thế. Điều đó khiến tôi thực sự không thoải mái. Tôi ngẩng đầu lên, trưng một nụ cười. Giọng tôi, khi thoát ra, nghe thậm chí chẳng giống giọng tôi chút nào.

“Ừm, như em nói đó. Vấn đề chỉ là quen tính quen nết anh ta thôi. Cùng lắm cũng khó khăn trong mấy ngày đầu thôi, phải không?”

Chương 4

Hai tuần trôi qua và xuất hiện cùng đó là một chuỗi công việc hằng ngày đều đặn. Mỗi buổi sáng tôi đến dinh thự Granta lúc tám giờ, gọi báo mình đã đến, rồi sau đó, khi Nathan giúp Will thay đồ xong, tôi cẩn thận lắng nghe ông nói những điều cần biết về thuốc thang của Will – hoặc, quan trọng hơn, về tâm trạng của anh ta.

Khi Nathan đi rồi tôi sẽ chọn chương trình radio hoặc ti-vi cho Will, lấy thuốc cho anh ta, đôi khi nghiền thuốc bằng bộ chày cối nhỏ bằng đá cẩm thạch. Thường thường, sau khoảng chừng mươi phút anh ta sẽ nói thẳng rằng đã chán ngấy với sự có mặt của tôi. Tới lúc đó tôi sẽ bôi ra vài việc nhà lặt vặt để làm, giặt khăn mù-soa chưa bẩn, hoặc dùng cái đầu hút bất kỳ để làm sạch những đoạn viền chân tường bé tí hay gờ cửa sổ, cứ đều đặn mười lăm phút lại ngó đầu vào cửa như lời bà Traynor dặn. Lần nào nhìn vào tôi cũng thấy anh ta đang ngồi trên xe lăn nhìn ra ngoài khu vườn trống trải.

Sau đó có thể tôi sẽ mang cho anh ta nước lọc, hoặc một ly nước dinh dưỡng lờ nhờ như hồ dán giấy dán tường được cho là giúp anh ta tăng cân, hoặc mang thức ăn cho anh ta. Anh ta có thể nhúc nhích bàn tay một chút, nhưng cánh tay thì không, vì vậy tôi phải đút cho anh ta từng thìa. Đây là phần tệ hại nhất trong ngày; chẳng hiểu sao chuyện đút ăn cho một thanh niên dường như thật phi lý, và sự bối rối khiến tôi trở nên lúng túng vụng về. Will căm ghét chuyện này đến nỗi anh ta thậm chí không nhìn mắt tôi khi tôi đút cho anh ta ăn.

Thế rồi trước một giờ trưa một chút, Nathan sẽ đến và tôi sẽ chộp lấy áo khoác rồi biến ra ngoài đường, thi thoảng ăn trưa ở bến xe buýt bên ngoài lâu đài. Trời rất lạnh và chắc trông tôi rất thảm hại khi ngồi ở đó ăn sandwich nhưng tôi chẳng quan tâm. Tôi không thể ở cả ngày trong cái nhà đó được.

Vào buổi chiều tôi sẽ mở một bộ phim – Will là hội viên của một câu lạc bộ DVD nên hằng ngày đĩa phim mới được gửi tới qua đường bưu điện – nhưng anh ta chẳng bao giờ rủ tôi xem cùng, vậy nên tôi thường ra ngồi ở bếp hoặc trong phòng dành cho khách. Tôi cầm lên một cuốn sách hoặc tạp chí, nhưng tôi có cảm giác có lỗi kỳ quặc khi không thực sự làm việc nên tôi chẳng bao giờ tập trung hoàn toàn vào con chữ được. Đôi khi vào cuối ngày, bà Traynor sẽ tạt về – tuy nhiên bà chẳng bao giờ nói gì nhiều với tôi ngoài câu hỏi “Mọi việc ổn chứ?” mà câu trả lời duy nhất có thể chấp nhận được dường như là “Vâng ạ”.

Bà sẽ hỏi Will xem anh ta có cần gì không, thỉnh thoảng đề xuất một việc gì đó mà biết đâu anh ta muốn làm vào ngày hôm sau – đi đâu đó ra ngoài, hoặc gặp người bạn nào đó từng hỏi thăm sức khỏe anh ta – và anh ta luôn trả lời với giọng cộc cằn thô lỗ, nếu không thì cũng thờ ơ lạnh nhạt. Khi đó trông bà rất đau đớn, cứ mân mê sợi dây chuyền rồi lại biến mất.

Bố anh ta, một người đàn ông phương phi, trông lịch thiệp, thường tới lúc tôi sắp đi. Ông ấy thuộc típ người mà ta có thể thấy đội mũ Panama xem cricket, hình như ông coi sóc việc quản lý tòa lâu đài kể từ khi bỏ công việc được trả lương hậu hĩnh trên thành phố. Tôi nghĩ ông cũng chỉ làm cho có việc mà thôi. Ông kết thúc mỗi ngày vào đúng năm giờ chiều rồi ngồi xem ti-vi cùng Will. Thi thoảng khi ra khỏi phòng, tôi nghe thấy ông ta bình luận về chuyện gì đó trên mục tin tức.

Trong hai tuần đầu tiên này tôi đã nhìn Will Traynor kỹ hơn. Tôi thấy dường như anh ta quyết tâm khiến mình trông khác hẳn con người trước đây; anh ta để mái tóc nâu nhạt dài ra thành một mớ lộn xộn, râu ria lởm chởm bò quanh quai hàm. Đôi mắt xám của anh ta đầy nếp nhăn vì mệt mỏi, hoặc tác động của việc thiếu thoải mái triền miên (Nathan nói rằng anh ta hiếm khi được thoải mái). Chúng mang cái nhìn vô hồn của một kẻ đã trượt vài bước khỏi thế giới quanh mình. Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng đó là một cơ chế phòng vệ, khi mà cách duy nhất để anh ta đối phó với cuộc đời là giả vờ mình không phải là người phải hứng chịu những gì đang xảy ra.

Tôi muốn thấy thương cảm cho anh ta. Tôi thật sự rất thương cảm. Tôi nghĩ anh ta là người đáng buồn nhất mà tôi từng gặp, trong những khoảnh khắc ấy khi tôi thoáng thấy anh ta nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ. Rồi khi ngày nối ngày trôi qua, khi nhận ra rằng tình trạng của anh ta không chỉ là chuyện bị mắc kẹt trong cái xe đó và cơ thể mất tự do mà còn là một chuỗi không bao giờ dứt của những tổn thương và vấn đề sức khỏe, của nguy hiểm và bất tiện, tôi nghĩ rằng nếu là Will, chắc tôi cũng sẽ cảm thấy hết sức khốn khổ như vậy.

Nhưng ôi Chúa ơi, anh ta rất khó chịu với tôi. Mọi điều tôi nói, anh ta đều trả lời rất gay gắt. Khi tôi hỏi xem anh ta đã đủ ấm chưa, anh ta sẽ vặn lại rằng anh ta thừa khả năng để báo cho tôi biết nếu anh ta cần thêm khăn choàng. Khi tôi hỏi anh ta liệu tiếng máy hút bụi có quá ồn với anh ta không – tôi không muốn làm gián đoạn bộ phim của anh ta – anh ta sẽ hỏi tôi sao cơ, tôi đã nghĩ ra cách nào đó khiến máy chạy im phắc à? Khi tôi đút thức ăn, anh ta sẽ kêu ca thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, hoặc tôi đã đút thìa tiếp theo vào miệng anh ta trước khi anh ta ăn xong thìa trước. Anh ta có khả năng bóp méo hầu hết mọi điều tôi nói hoặc làm ra vẻ như tôi rất ngớ ngẩn.

Trong suốt hai tuần đầu đó, tôi khá giỏi giữ nét mặt hoàn toàn vô cảm trước anh ta, xong việc là tôi quay người biến vào một căn phòng khác và kiệm lời với anh ta hết mức. Tôi bắt đầu ghét anh ta và tôi chắc là anh ta biết điều đó.

Tôi đã không nhận ra mình có thể nhớ công việc cũ nhiều hơn mình từng nhớ. Tôi nhớ Frank cùng vẻ vui mừng ra mặt của ông lúc nhìn thấy tôi khi tôi đến vào buổi sáng. Tôi nhớ khách hàng, sự bầu bạn của họ, nhớ tiếng chuyện trò thoải mái khoan nhặt rì rầm quanh tôi như tiếng sóng biển vùng ôn đới. Còn ngôi nhà này, đẹp đẽ hào nhoáng là thế nhưng lại tịch mịch lặng tờ như nhà xác. Sáu tháng, tôi thầm nhắc lại khi cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Sáu tháng.

Rồi tới ngày thứ Năm ấy, đúng lúc đang pha ly nước dinh dưỡng làm bữa lửng sáng cho Will, tôi nghe thấy tiếng bà Traynor dưới sảnh. Ngoài ra lần này còn có những tiếng nói khác nữa. Tôi chờ đợi, chiếc dĩa nằm yên trên tay tôi. Tôi chỉ có thể nhận ra có tiếng một cô gái trẻ, giọng dễ nghe, và tiếng của một người đàn ông.

Bà Traynor xuất hiện ở lối cửa bếp, tôi cố tỏ ra bận rộn, khuấy mạnh vào chiếc cốc bê-se.

“Pha với tỷ lệ nước 60 sữa 40 đấy chứ?” bà hỏi, chằm chằm nhìn vào ly đồ uống.

“Vâng ạ. Một cốc dâu tây.”

“Bạn của Will đến thăm nó. Có lẽ sẽ tốt nhất nếu cô…”

“Tôi đang có rất nhiều việc phải làm ở đây,” tôi nói. Tôi thật sự cảm thấy rất dễ chịu khi được giải thoát khỏi anh ta trong khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi vặn nắp cốc bê-se lại. “Khách của bà muốn uống trà hay cà-phê ạ?”

Bà nhìn tôi gần như ngạc nhiên. “Phải rồi. Thế thì hay lắm. Cà-phê đi. Tôi nghĩ tôi sẽ…”

Bà dường như còn căng thẳng hơn cả ngày thường, hai mắt dán ra phía hành lang nơi chúng tôi có thể nghe những tiếng rì rầm khe khẽ. Tôi đoán là Will chỉ có vài vị khách.

“Tôi nghĩ… tôi sẽ để chúng ở với nhau thôi.” Bà nhìn chằm chằm ra ngoài hành lang, nhưng ý nghĩ của bà có lẽ đang ở rất xa. “Rupert. Đó là Rupert, đồng nghiệp cũ của nó,” bà đột nhiên quay về phía tôi nói.

Tôi có cảm giác thời điểm này rất cam go và bà cần phải chia sẻ với một ai, dù cho người đó chỉ là tôi.

“Và Alicia. Hai đứa đã… rất thân thiết… trong một thời gian. Trà sẽ tuyệt đấy. Cảm ơn cô, Clark.”

Tôi nán lại một chút trước khi mở cửa, tựa hông vào cửa để cân bằng khay nước trên tay.

“Bà Traynor bảo rằng có thể mọi người sẽ muốn uống một chút cà-phê,” tôi nói khi bước vào, đặt khay nước lên chiếc bàn thấp. Khi tôi đặt cốc nước của Will lên góc để cốc trên xe lăn, xoay ống hút để anh ta chỉ cần cúi đầu xuống là có thể với tới, tôi lén nhìn mấy vị khách của anh ta.

Tôi để ý đến cô gái trước tiên. Đôi chân dài và mái tóc vàng, cùng với làn da màu caramel nhạt, cô thuộc típ người khiến tôi băn khoăn không biết có phải mọi người trên đời đều cùng loài không. Cô ta trông như ngựa chứng. Có đôi lần tôi đã thấy những người phụ nữ kiểu này; họ thường nhún nhảy lên đồi đến lâu đài, lôi theo đám con mặc đồ hiệu Boden, rồi khi tới quán cà-phê thì tiếng họ sẽ vang to, trong như pha lê và đầy tự tin khi hói “Harry, anh yêu, anh muốn cà-phê chứ? Để em xem họ có thể làm cho anh một ly macchiato không nhé?” Đây chính xác là kiểu phụ nữ sành điệu như ly macchiato. Mọi thứ từ con người cô toát lên mùi tiền bạc, quyền lực và một cuộc đời như sống trong những trang giấy của một quyển tạp chí thời thượng.

Rồi tôi nhìn kỹ cô hơn và nhận ra một chuyện giật mình là a) cô là cô gái trong bức ảnh Will đi trượt tuyết và b) cô trông thật sự, thật sự không hề thoải mái.

Cô đã hôn lên má Will còn bây giờ thì đang lùi bước ra sau cười gượng gạo. Cô mặc chiếc áo ghi-lê lông cừu màu nâu, kiểu áo khiến tôi trông giống như con khỉ đột, choàng quanh cổ chiếc khăn cashmere màu xám nhạt mà cô luôn tay vân vê, như thể cô chẳng quyết định được có nên cởi ra hay không.

“Anh trông khá lắm,” cô nói với Will. “Thật đấy. Anh đã để tóc hơi dài ra một tí.”

Will không nói gì cả. Anh ta chỉ nhìn cô, vẻ mặt thật khó hiểu. Tôi thoáng có cảm giác biết ơn khi tôi không phải là người duy nhất anh ta nhìn như vậy.

“Xe mới hả?” Người đàn ông vỗ vào lưng ghế của Will, đặt tay lên cằm gật đầu tán thưởng như thể anh ta đang ngưỡng mộ một chiếc xe hơi thể thao đỉnh cao. “Trông… tuyệt lắm. Công nghệ… rất đỉnh.”

Tôi không biết phải làm gì cả. Tôi đứng đó thêm một lúc nữa, chuyển chân trụ liên hồi, cho đến khi tiếng Will cất lên phá vỡ không gian yên lặng.

“Louisa, cô cho thêm mấy thanh củi vào lò sưởi được không? Tôi nghĩ cần phải vun lên một chút.”

Đây là lần đầu tiên anh ta gọi tên khai sinh của tôi. “Được chứ,” tôi nói.

Tôi khiến mình tất bật với việc nhen củi, đốt lửa và xếp gọn những thanh củi trong giỏ.

“Kinh khủng, bên ngoài trời lạnh lắm,” cô gái nói. “Thật tốt khi có lửa ấm.” Tôi mở cửa lò sưởi, lấy que cời gạt những thanh củi đang cháy.

“Thời tiết ở đây lạnh hơn London mấy độ liền.”

“Ừ, đúng vậy,” người đàn ông tán thành.

“Em cũng đang tính đặt một lò sưởi ở nhà. Chắc chắn kiểu lò này sẽ ấm hơn kiểu lò mở nhiều.” Alicia hơi cúi người xuống để xem chiếc lò sưởi, như thể trước đây cô chưa lần nào nhìn thấy loại lò này.

“Đúng đấy, anh có nghe nói vậy,” người đàn ông nói.

“Em phải xem xét nó. Một trong những việc mà anh cần làm đấy rồi sau đó…” cô nói nhỏ dần. “Cà-phê ngon quá,” cô nói thêm sau một lát im lặng.

“Thế… cậu đã phải làm những gì, Will?” người đàn ông hỏi bằng giọng cố tỏ ra vui vẻ.

“Chẳng làm gì nhiều, khôi hài thay.”

“Thế còn vật lý trị liệu. Vẫn tiếp tục chứ? Có… tiến triển không?”

“Tớ không nghĩ là tớ sẽ sớm đi trượt tuyết được đâu, Rupert,” Will trả lời với giọng đầy mai mỉa.

Tôi gần như mỉm cười một mình. Đó đúng là Will mà tôi biết. Tôi gạt gạt tro trong lò sưởi. Cảm giác như tất cả mọi người đang nhìn mình. Sự im lặng thật nặng nề. Tôi chợt băn khoăn tự hỏi có phải mác áo của tôi đang ló ra và cảm thấy muốn kiểm tra ngay.

“Vậy…” cuối cùng Will lên tiếng. “Tôi phải nợ vinh hạnh này điều gì đây?

Đã… tám tháng rồi?”

“Ôi, em biết. Em xin lỗi. Là vì… em bận quá chừng trời. Em vừa có việc làm mới ở Chelsea. Quản lý hiệu đồ của Sasha Goldstein. Anh nhớ Sasha chứ? Em còn làm bao nhiêu việc vào cuối tuần nữa. Thứ Bảy thì bận vô cùng. Rất khó có thời gian nghỉ.” Giọng Alicia trở nên căng thẳng. “Em đã gọi cho anh đôi lần. Mẹ anh có nói lại không?”

“Công việc ở Lewins đợt rồi lộn xộn lắm. Cậu… cậu biết nó thế nào rồi đấy, Will. Chúng ta vừa có sếp mới. Một thằng cha từ New York tới. Bains. Dan Bains. Cậu gặp ông ta chưa nhỉ?”

“Chưa.”

“Gã chết tiệt luôn làm việc hai tư trên hai tư và muốn tất cả mọi người đều phải làm như thế.” Ai cũng có thể nghe thấy tiếng thở phào rõ rệt của anh ta khi tìm ra một chủ đề khiến anh ta được thoải mái. “Cậu biết nguyên tắc làm việc của mấy gã Yankee già rồi đấy – không ăn trưa lâu lắc, không chuyện phiếm huyên thuyên – Will, tớ bảo cậu, không khí ở công ty bọn mình đã thay đổi hết rồi.”

“Hẳn vậy.”

“Chúa ơi, thật mà. Làm trâu bò lắm. Đôi khi tớ cảm giác như không dám nhấc mông khỏi ghế luôn.”

Toàn bộ không khí dường như đã rút sạch khỏi căn phòng trong thoáng chốc. Ai đó ho hắng.

Tôi đứng lên chùi tay vào quần jean. “Tôi sẽ… tôi chỉ đi lấy thêm ít củi,” tôi lẩm bẩm về phía Will.

Rồi tôi xách chiếc giỏ biến ngay ra ngoài.

Trời bên ngoài rét căm căm nhưng tôi vẫn nán lại, giết thời gian trong lúc lựa những mẩu gỗ. Tôi đang thử tính xem đứng đây đến chết rét có tốt hơn quay trở lại căn phòng đó không. Nhưng trời quá lạnh, cái ngón trỏ để khâu vá của tôi xanh xám lại và cuối cùng tôi đành phải đầu hàng.

Tôi xếp gỗ thật chậm, đi vào cửa sau rồi từ từ quay trở lại hành lang. Khi đi đến phòng khách tôi nghe tiếng cô gái bay ra từ cánh cửa mở hờ.

“Thật ra, Will ạ, có một lý do nữa mà bọn em tới đây,” cô nói. “Bọn em… có vài tin muốn báo.”

Tôi dừng lại gần cửa, hai tay nệ nên xách giỏ củi.

“Em nghĩ – ừm, bọn em nghĩ – sẽ là đúng đắn khi báo cho anh biết… nhưng, ừm, có một chuyện. Rupert và em sắp làm đám cưới.”

Tôi đứng im thít, tính xem liệu tôi có thể quay đi mà không ai biết không.

Cô gái tiếp tục nói đứt quãng. “Hãy nghe em, em biết điều này có thể hơi sốc đối với anh. Thật sự thì cả em cũng rất ngạc nhiên. Bọn em – chuyện đó – phải, chuyện đó thực sự chỉ bắt đầu một thời gian rất dài sau khi…”

Hai cánh tay tôi bắt đầu đau. Tôi nhìn chằm chằm xuống chiếc giỏ, cố nghĩ xem phải làm gì.

“Anh biết anh và em… chúng ta…” Lại một sự im lặng nặng nề. “Will, hãy nói gì đi.”

“Chúc mừng,” cuối cùng anh nói.

“Em hiểu điều anh đang nghĩ. Nhưng chẳng ai trong hai bọn em cố tình làm ra chuyện này. Thật lòng đấy. Trong suốt một thời gian rất dài bọn em chỉ là bạn bè. Những người bạn cùng quan tâm đến anh. Chỉ là Rupert giúp đỡ em rất nhiều sau tai nạn của anh…”

“Cậu ấy thật vĩ đại.”

“Đừng có như vậy chứ. Thế này thật khủng khiếp. Em đã vô cùng sợ hãi khi phải nói với anh. Cả hai bọn em.”

“Rõ rồi,” Will nói thẳng thừng.

Giọng Rupert chen vào. “Cậu nghe tớ, bọn tớ nói với cậu chỉ bởi vì cả hai bọn tớ đều quan tâm đến cậu. Bọn tớ không muốn cậu phải nghe chuyện này từ một ai đó khác. Nhưng mà, cậu biết đấy, cuộc đời vẫn tiếp tục. Cậu phải hiểu điều đó. Rốt cuộc cũng đã hai năm rồi.”

Lại một khoảng im lặng. Tôi thấy chẳng muốn nghe thêm nữa nên bắt đầu nhẹ nhàng rời khỏi lối cửa vào, khẽ làu bàu vì bưng nặng. Nhưng khi Rupert nói tiếp, anh ta nói lớn hơn nên tôi vẫn nghe thấy được.

“Thôi mà, anh bạn. Tớ biết sẽ vô cùng khó khăn… tất cả những điều này. Nhưng nếu cậu vẫn còn quan tâm tới Lissa chút nào, cậu phải mong mỏi cho cô ấy một cuộc đời hạnh phúc chứ.”

“Nói gì đi, Will. Hãy nói đi.”

Tôi có thể hình dung ra gương mặt anh ta. Tôi có thể thấy ánh nhìn đó của anh ta, luôn tỏ ra vừa khó đoán định vừa khinh thường xa cách.

“Xin chúc mừng,” cuối cùng anh ta nói. “Tôi chắc là cả hai sẽ rất hạnh phúc.”

Khi đó Alicia bắt đầu phản đối – mấy câu gì đó nghe không rõ – nhưng rồi Rupert ngắt lời. “Thôi nào, Lissa. Anh nghĩ chúng ta nên về thôi. Will này, không phải bọn tớ đến để chờ đợi lời chúc mừng của cậu đâu. Đó là phép lịch sự. Lissa nghĩ – phải, cả hai bọn tớ chỉ nghĩ rằng – cậu nên biết. Xin lỗi, bạn cũ. Tớ… tớ thật sự hy vọng rằng cậu sẽ tiến triển tốt và tớ hy vọng cậu vẫn giữ liên lạc khi mọi thứ… cậu biết đấy… khi mọi thứ ổn định đôi chút.”

Tôi nghe thấy tiếng bước chân nên xách ngay giỏ củi lên như thể tôi vừa mới bước vào. Tôi nghe thấy tiếng họ ở hành lang rồi Alicia xuất hiện trước mặt tôi. Đôi mắt cô ngấn đỏ như sắp khóc.

“Tôi dùng nhà tắm được chứ?” cô hỏi giọng u ám nghẹn ngào. Tôi từ từ giơ một ngón tay lên lặng lẽ chỉ về hướng nhà tắm.

Rồi cô nhìn tôi rất nặng nề khiến tôi nhận ra có lẽ những gì tôi nghĩ đang hiển hiện trên gương mặt tôi. Tôi chưa bao giờ là người giỏi che giấu cảm xúc.

“Tôi hiểu điều cô đang nghĩ,” cô nói sau một thoáng im lặng. “Nhưng tôi đã cố gắng. Tôi thật sự đã cố gắng. Suốt nhiều tháng. Nhưng anh ấy chỉ đẩy tôi ra xa.” Hàm răng cô cứng lại, nét mặt vô cùng giận dữ. “Thực sự là anh ấy đã không muốn tôi ở đây. Anh ấy đã nói rõ như thế.”

Dường như cô chờ tôi nói điều gì đó.

“Đó hoàn toàn không phải việc của tôi,” sau cùng tôi đáp. Hai chúng tôi đứng nhìn nhau.

“Cô biết đấy, người ta chỉ có thể thật sự giúp đỡ người nào cần được giúp đỡ thôi,” cô ta nói. Rồi bỏ đi.

Tôi chờ thêm đôi phút, lắng nghe tiếng xe hơi của họ chạy xuống đường, rồi tôi đi vào nhà bếp. Tôi đứng trong đó nấu một ấm nước mặc dù tôi không muốn uống trà. Tôi lướt qua một cuốn tạp chí đã đọc rồi. Cuối cùng tôi trở lại hành lang, hự một tiếng rồi xách giỏ củi lên bưng vào phòng khách, thúc nhẹ cánh cửa trước khi bước vào để Will biết tôi đang tới.

“Tôi băn khoăn không biết anh có cần tôi làm…” tôi lên tiếng. Nhưng chẳng có ai ở đó cả.

Căn phòng trống không.

Đúng lúc đó tôi nghe tiếng đổ vỡ. Tôi vừa chạy ra đến hành lang thì nghe thấy một tiếng nữa, cùng với tiếng thủy tinh vỡ. Âm thanh phát ra từ phòng ngủ của Will. Ôi Chúa ơi, xin đừng để anh ấy tự làm tổn thương mình. Tôi hoảng hốt – lời dặn của bà Traynor như găm vào óc tôi. Tôi đã bỏ mặc anh ta trong hơn mười lăm phút rồi.

Tôi chạy ra hành lang, lao tới trước cửa phòng rồi dừng lại, cả hai tay nắm chặt vào cánh cửa. Will đang ở giữa căn phòng, ngồi thẳng trên ghế, một cây gậy đặt nằm ngang trên tay ghế, nó chĩa ra phía bên trái của anh ta chừng bốn mươi phân – một cây thương đồ chơi. Chẳng còn tấm hình nào trên cả cái giá dài; những khung ảnh đắt tiền nằm vỡ vụn khắp sàn, thảm phủ đầy những mảnh thủy tinh lấp lánh. Trên vạt áo anh ta vương đầy mảnh thủy tinh và vụn khung gỗ. Tôi nhìn khắp khung cảnh đổ nát, cảm thấy nhịp tim mình chậm lại khi biết rằng anh ta không bị thương. Will đang thở dốc như thể những việc vừa làm đã lấy đi quá nhiều sức lực.

Chiếc xe lăn xoay lại, nghiến khẽ lên thủy tinh. Mắt anh ta chạm vào mắt tôi.

Đôi mắt ấy vô cùng tuyệt vọng. Nó thách tôi dám tỏ lòng thương cảm.

Tôi nhìn xuống vạt áo của anh ta rồi nhìn khắp sàn nhà xung quanh. Tôi chỉ có thể nhìn thấy tấm hình anh chụp cùng Alicia nằm giữa những thứ rách nát khác, gương mặt cô lúc này khuất dưới một khung ảnh bằng bạc đã gãy.

Tôi nuốt khan, chằm chằm nhìn vào tấm hình rồi từ từ ngước mắt lên nhìn anh ta. Mấy giây đó là khoảng thời gian dài nhất trong đời tôi từ trước tới giờ.

“Cái này có thể bị thủng không vậy?” cuối cùng tôi hất đầu về phía chiếc xe lăn của anh ta rồi hỏi. “Bởi vì tôi không biết cái bơm bỏ ở đâu.”

Mắt anh ta mở to. Trong một thoáng, tôi nghĩ tôi đã làm mọi chuyện thêm tồi tệ. Nhưng một khóe cười rất nhẹ lướt ngang gương mặt anh ta.

“Nghe này, đừng di chuyển,” tôi nói. “Tôi sẽ đi lấy máy hút bụi.” Tôi nghe thấy tiếng cây gậy rơi xuống sàn. Khi ra khỏi phòng, tôi nghĩ có thể tôi đã nghe thấy anh ta nói xin lỗi.

Quán Kings Head đêm thứ Năm nào cũng đông nghịt, trong góc căn phòng ấm áp người còn đông hơn nữa. Tôi ngồi trét giữa Patrick và một người đàn ông có tên là Rutter, chăm chú nhìn qua nhìn lại giữa những chiếc huy hiệu gắn hình ngựa đính trên xà nhà bằng gỗ sồi phía trên đầu tôi và những tấm hình chụp lâu đài làm điểm nhấn cho những thanh rầm, cố tỏ ra lơ đãng với câu chuyện đang bàn tán quanh mình mà chủ đề chính dường như là về tỉ lệ mỡ trong cơ thể và khẩu phần ăn nhiều carbohydrate.

Bấy nay tôi luôn nghĩ rằng cuộc họp mặt hai tuần một lần của nhóm Hailsbury Triathlon Terrors chắc chắn là ác mộng khủng khiếp nhất của chủ quán. Tôi là người duy nhất uống rượu và chỉ duy nhất gói khoai tây chiên của tôi hết nhẵn nằm nhăn nhúm trên bàn. Tất cả những người khác đều uống nước khoáng hoặc kiểm tra trước tỷ lệ chất làm ngọt trong lon Diet Coke của họ. Khi rốt cuộc cũng gọi đồ ăn, salad họ gọi sẽ chẳng bao giờ có lấy một cọng rau phủ nước xốt nhiều chất béo hay thịt gà còn một mẩu để nguyên da. Tôi thường gọi khoai tây chiên, chỉ để được nhìn tất cả bọn họ giả vờ rằng họ chẳng muốn ăn tẹo nào.

“Phil chạy kịch được cỡ bốn mươi dặm. Anh ta bảo khi đó anh ta thấy đầu óc ong ong. Chân nặng như chì. Mặt mũi như người cõi âm, các cậu hiểu không?”

“Tôi thì sắm mấy đôi giày Nhật. Giảm được mười lăm phút trên chặng chạy mười dặm đấy nhé.”

“Đừng mang túi đựng xe đạp loại mềm nhé. Nigel mang nó theo khi tham gia hội trại ba môn phối hợp, trông như một cái mắc áo dở hơi ấy.”

Tôi không thể nói là tôi thích những vụ hội họp của nhóm Triathlon Terrors, nhưng với những giờ làm thêm của tôi và thời gian biểu tập luyện của Patrick thì đó là một trong số những lúc hiếm hoi tôi có thể chắc chắn gặp được anh. Anh ngồi bên cạnh tôi, mặc quần soóc đến bắp đùi mặc cho thời tiết bên ngoài cực rét. Mặc ít quần áo hết mức là một biểu trưng cho niềm tự hào của các thành viên trong câu lạc bộ này. Đám đàn ông trông rất rắn chắc, mặc những bộ đồ thể thao tối màu đắt tiền khoe cơ thể siêu chuẩn và trọng lượng nhẹ hơn cả không khí. Họ gọi nhau là Scud hoặc Trig và cong các bắp cơ nhằm khoe ra những vết trầy xước và những chỗ thịt đang lên da non. Các cô gái không trang điểm, ai nấy có làn da hồng hào của những người chẳng sợ gì việc đi bộ hàng dặm dài giữa trời băng tuyết. Họ nhìn tôi hơi khó chịu – hoặc thậm chí có thể là không hiểu nổi – chắc chắn họ đang tính tỉ lệ mỡ so với cơ thịt của tôi và nhận ra nó không đạt tiêu chuẩn.

“Thật là khủng khiếp,” tôi nói với Patrick rồi băn khoăn tự hỏi liệu mình có thể gọi món bánh kem mà không bị tất cả bọn họ ném cho những cái nhìn sét đánh không. “Người yêu và bạn thân nhất của anh ta.”

“Em chẳng trách cô ấy được,” anh nói. “Không phải thật lòng em đang muốn nói em sẽ ở bên cạnh anh nếu anh bị liệt từ cổ xuống đấy chứ?”

“Dĩ nhiên là em sẽ ở bên anh rồi.”

“Không, em sẽ không làm thế đâu. Và anh cũng không chờ đợi em làm như vậy.”

“Có đấy, em sẽ ở bên anh thật.”

“Nhưng anh sẽ không muốn em ở đó. Anh sẽ chẳng muốn ai ở bên mình chỉ vì lòng thương hại.”

“Ai nói đó là lòng thương hại? Trong tâm hồn anh vẫn là con người cũ thôi mà.”

“Không đâu. Anh sẽ chẳng còn gì giống con người cũ.” Anh nhăn mũi. “Anh sẽ không muốn sống nữa. Dựa dẫm vào những người khác từng giây từng phút. Để những người lạ chùi đít cho…”

Một anh chàng trọc lóc ngó đầu vào giữa hai chúng tôi. “Pat,” anh ta nói, “cậu đã uống thử loại nước ép mới đó chưa? Tuần trước có một lon nước tăng lực trong ba-lô của tớ. Chưa từng thấy cái gì như vậy.”

“Tớ chưa uống, Trig. Mỗi ngày cho tớ một trái chuối và một chai Lucozade là được rồi.”

“Dazzer đã uống một lon Diet Coke khi đang lướt trực thăng Norseman. Nôn sạch khi lên đến độ cao một ngàn mét. Chúa ơi, bọn tớ cười đau cả bụng.”

Tôi nở một nụ cười yếu ớt.

Cái đầu trọc biến mất và Patrick quay lại nhìn tôi, rõ ràng vẫn đang băn khoăn về số phận của Will. “Chúa ơi. Hãy nghĩ đến tất cả những thứ mình không thể làm được…” Anh lắc đầu. “Không thể chạy, không đạp xe đạp được nữa.” Anh nhìn tôi như thể điều đó vừa xảy ra với anh. “Không thể làm tình được nữa.”

“Dĩ nhiên là người ta có thể làm tình chứ. Chỉ có điều là người phụ nữ phải nằm trên.”

“Rồi sau đó chúng ta sẽ nhèo một đống.” “Nực cười.”

“Rồi nữa, nếu bị liệt từ cổ xuống thì anh đoán nhé cái… ừm… cái xe lăn không thể hoạt động được như ý muốn đâu.”

Tôi nghĩ đến Alicia. Tôi đã cố gắng, cô nói. Tôi thật sự đã cố gắng. Trong nhiều tháng.

“Em chắc nó có thể hoạt động ổn thỏa với một số người chứ. Dù sao vẫn phải có một cách nào đó cho những chuyện này chứ nếu như anh… tưởng tượng.”

“Haha.” Patrick uống một ngụm nước. “Ngày mai em sẽ phải hỏi anh ta thôi. Xem nào, em bảo là anh ta rất kinh khủng. Biết đâu anh ta đã rất kinh khủng từ trước khi bị tai nạn rồi. Biết đâu đó mới là lý do thực sự vì sao cô ấy rời bỏ anh ta thì sao. Em đã bao giờ nghĩ thế chưa?”

“Em không biết nữa…” Tôi nghĩ về những tấm hình. “Trông họ có vẻ như đã là một đôi rất hạnh phúc.” Nhưng mà, một tấm hình thì chứng minh được điều gì chứ? Tôi có một khung ảnh đặt ở nhà, trong bức hình tôi đang cười tươi roi rói với Patrick như thể anh vừa lôi tôi ra khỏi một tòa nhà cháy dở, vậy mà trong thực tế lúc đó tôi vừa mới gọi anh là “gã thúi” còn anh hét trả, “Ôi, khốn kiếp!”

Patrick không còn hứng thú nữa. “Này, Jim… Jim, cậu đã xem qua loại xe đạp siêu nhẹ mới chưa? Thấy ngon không?”

Tôi để anh chuyển chủ đề, rồi ngồi nghĩ về những điều Alicia đã nói. Tôi có thể tưởng tượng ra rõ ràng chuyện Will đẩy cô ấy ra xa. Nhưng chẳng phải khi yêu ai đó thì nhiệm vụ của chúng ta là phải gắn bó với họ sao? Để giúp họ vượt qua đau khổ? Khi đau ốm cũng như khi khỏe mạnh, đại loại thế?

“Em uống thêm gì không?”

“Vodka tonic. Loại tonic giảm béo ấy,” tôi nói khi anh nhướng lông mày lên nhìn.

Patrick nhún vai rồi đi về phía quầy bar.

Tôi bắt đầu cảm thấy hơi có lỗi về cách chúng tôi bàn luận về ông chủ của tôi. Nhất là khi tôi nhận ra rằng có lẽ anh ta luôn phải chịu đựng điều đó. Hầu như không thể nào không suy luận về các khía cạnh riêng tư trong cuộc sống của anh ta. Tôi dừng lại. Đang có cuộc nói chuyện về một khóa tập luyện cuối tuần ở Tây Ban Nha. Tôi chỉ nghe câu được câu chăng, cho đến khi Patrick xuất hiện trở lại bên cạnh tôi và huých vào khuỷu tay tôi.

“Thích nó không?” “Cái gì cơ?”

“Cuối tuần ở Tây Ban Nha. Thay cho kỳ nghỉ ở Hy Lạp. Em có thể nằm nghỉ bên hồ bơi nếu em không khoái vụ đạp xe bốn mươi dặm. Chúng ta có thể đặt vé máy bay giá rẻ. Đặt trước sáu tuần. Bây giờ mình đang bàn về chuyện đó…”

Tôi nghĩ đến bà Traynor. “Em không biết nữa… Em không chắc họ có đồng tình cho em nghỉ phép quá sớm như vậy không.”

“Thế em thấy sao nếu anh đi? Anh thật sự rất thích tham dự các cuộc tập luyện ở những vùng cao so với mặt nước biển. Anh đang nghĩ đến việc làm một vụ lớn đây.”

“Vụ lớn thế nào cơ?”

“Một cuộc thi thể thao ba môn kết hợp. Xtreme Viking. Sáu mươi dặm đạp xe, ba mươi dặm đi bộ và bơi một đoạn thật dài trên vùng biển Bắc Âu có nhiệt độ âm.”

 

Người ta luôn nói tới người Viking bằng giọng sùng kính, những người đã nỗ lực chịu đựng thương tích giống như những tay lính kỳ cựu của một cuộc chiến tranh đặc biệt tàn khốc nào đó thuở xưa. Anh chép môi chờ đợi. Tôi nhìn bạn trai và băn khoăn tự hỏi phải chăng thật tình anh là người ngoài hành tinh. Tôi thoáng nghĩ rằng tôi thích anh hơn khi anh còn là người bán hàng qua điện thoại và không thể đi qua một trạm bán xăng mà không mua cất dành mấy thanh sô-cô-la Mars.

“Anh sẽ tham gia thật đấy hả?”

“Sao không chứ? Anh chưa bao giờ khỏe mạnh hơn giờ.”

Tôi suy nghĩ về tất cả những cuộc tập luyện đặc biệt đó – những câu chuyện không bao giờ dứt về cân nặng và độ dài đường đua, sự cân đối và sức dẻo dai. Giờ đây thật quá khó để có được sự quan tâm của Patrick dù với bất cứ chuyện gì.

“Em có thể tham gia cùng anh mà,” anh nói mặc dù cả hai chúng tôi đều biết rằng anh không tin như vậy.

“Em sẽ để mặc anh với trò ấy thôi,” tôi nói. “Đúng thế đấy. Anh cứ tham gia đi.” Tôi nói. Rồi sau đó tôi gọi bánh kem.

Nếu tôi nghĩ những sự kiện xảy ra ngày hôm qua có thể làm tan băng giá tại dinh thự Granta thì tôi đã nhầm.

Tôi chào Will với một nụ cười tươi rói và tiếng chào vui vẻ còn anh ta thậm chí chẳng buồn rời mắt khỏi khung cửa sổ.

“Không phải là một ngày tốt lành rồi,” Nathan lẩm bẩm, khi ông choàng chiếc áo khoác lên vai.

Đó là một buổi sáng u ám, trời đầy mây đen tối sầm, mưa tạt không ngừng vào những khung cửa sổ và thật khó tưởng tượng mặt trời còn có thể ló ra được nữa.

Đến cả tôi cũng thấy buồn bã trong một ngày như thế này. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Will cảm thấy tồi tệ hơn. Tôi bắt đầu công việc với những việc lặt vặt vào buổi sáng, nhắc nhở bản thân từng giây phút rằng đó chẳng phải vấn đề gì đáng kể. Dù sao ta đâu cần phải thích ông chủ, đúng không? Rất rất nhiều người không thích ông chủ của họ. Tôi nghĩ đến bà chủ của Treena, một phụ nữ ly dị nhiều lần có khuôn mặt cứng đờ, bà ta luôn theo dõi xem em gái tôi vào nhà vệ sinh bao nhiêu lần và luôn đưa ra những lời bình luận gai góc khi thấy bọng đái của nó hoạt động quá số lần thông thường. Hơn nữa, tôi đã làm việc ở đây được hai tuần. Điều đó có nghĩa chỉ còn năm tháng mười ba ngày làm việc nữa là được ra đi.

Những tấm hình vẫn nằm gọn gàng trong ngăn cuối của tủ ngăn kéo, nơi ngày hôm qua tôi đã đặt chúng, lúc này đây tôi cúi xuống sàn nhà bắt đầu lôi chúng ra để phân loại, nhận định xem những chiếc khung nào còn sửa được. Tôi sửa đồ khá giỏi. Ngoài ra, tôi nghĩ đó có thể là một cách hữu ích để giết thời gian.

Tôi loay hoay với việc này được mươi phút thì tiếng rì rì khe khẽ của chiếc xe lăn gắn động cơ báo cho tôi biết sự có mặt của Will.

Anh ta ngồi đó ngay cửa ra vào, nhìn thẳng vào tôi. Mắt anh ta thâm quầng. Thỉnh thoảng Nathan vẫn nói với tôi anh ta hầu như không ngủ được. Tôi không muốn nghĩ xem cảm giác đó sẽ như thế nào, nằm bẹp trên giường không dậy được cùng với những ý nghĩ tăm tối triền miên trong não suốt mấy giờ đồng hồ.

“Tôi nghĩ tôi nên xem coi có sửa được cái khung nào không,” tôi nói, giơ một cái khung lên. Trong khung là bức ảnh chụp anh ta đang thực hiện một cú nhảy bungee. Tôi cố tỏ ra vui tươi. Anh ấy cần một ai đó lạc quan, một ai đó vui vẻ.

“Tại sao?”

Tôi chớp mắt. “À… tôi nghĩ vài cái khung vẫn còn sửa được. Tôi mang theo keo dán gỗ đây rồi, nếu anh vui lòng để tôi thử dán chúng. Hoặc nếu anh muốn thay mới, giờ nghỉ trưa tôi có thể vào thị trấn để tìm mua vài chiếc. Hoặc hai chúng ta cùng đi, nếu anh muốn đi ra ngoài một chút…”

“Ai mượn cô sửa khung ảnh cơ chứ?” Anh ta nhìn chòng chọc không chớp mắt.

Ôi ôi, tôi nghĩ. “Tôi… tôi chỉ muốn giúp thôi.”

“Cô muốn sửa chữa lại những gì tôi đã làm ngày hôm qua.” “Tôi…”

“Cô có hiểu cái gì không, Louisa? Sẽ tốt hơn – dù chỉ một lần duy nhất thôi – nếu có ai đó quan tâm đến điều tôi muốn. Việc tôi đập tan đống ảnh đó không phải là một tai nạn. Đó chẳng phải là một nỗ lực thay đổi thiết kế nội thất theo hướng hiện đại. Đó là bởi vì tôi thật sự không muốn nhìn thấy chúng.”

Tôi đứng dậy. “Tôi xin lỗi. Tôi không nghĩ là…”

“Cô nghĩ là cô biết hết mọi điều. Tất cả mọi người đều nghĩ họ biết tôi cần gì. Hãy để những tấm hình phải gió này vào chỗ cũ. Cho gã tàn phế đáng thương kia cái gì đó để ngắm. Tôi không muốn những tấm hình chết tiệt đó chĩa vào tôi bất cứ khi nào tôi bẹp gí trên giường cho đến khi nào một kẻ chết tiệt nào đó đến lôi tôi ra khỏi giường. Được chứ? Cô có nghĩ là cái đầu cô hiểu được chuyện đó không?”

Tôi nuốt khan. “Tôi sẽ không lắp những tấm hình có Alicia – tôi không ngốc đến vậy… tôi chỉ nghĩ là trong một chốc anh có thể cảm thấy…”

“Ôi Chúa ơi…” Anh ta quay đi, giọng điệu rất gay gắt. “Tha cho tôi những liệu pháp tâm lý đó đi. Hãy đi đọc mấy quyển tạp chí nhảm nhí chết tiệt hoặc làm bất cứ việc gì những khi cô không phải pha trà.”

Hai má tôi đỏ chín. Tôi nhìn anh ta di chuyển trong hành lang chật hẹp, tiếng nói của tôi phát ra trước khi tôi kịp hiểu tôi đang làm gì.

“Anh không cần phải cư xử khốn kiếp như vậy đâu.” Từng từ vang lên trong không gian im ắng.

Chiếc xe lăn dừng lại. Một khoảng tĩnh lặng kéo dài rồi sau đó anh ta đảo xe và từ từ quay lại, nhìn thẳng vào tôi, bàn tay anh ta đặt trên chiếc cần điều khiển nhỏ.

“Gì cơ?”

Tôi nhìn anh ta, tim đập thình thịch. “Những người bạn của anh đã bị anh coi không ra gì. Rồi. Có lẽ họ đáng bị đối xử như vậy. Nhưng tôi đến đây ngày này qua ngày khác chỉ để cố gắng làm tốt nhất những việc tôi có thể. Vì thế tôi thật sự sẽ đánh giá cao nếu anh không khiến cuộc sống của tôi đáng chán giống như anh hành động với cuộc sống của tất cả những người khác.”

Hai mắt Will mở to. Anh ta ngập ngừng một chút rồi cất tiếng. “Thế nếu tôi nói với cô tôi không muốn cô ở đây thì sao?”

“Tôi không làm việc cho anh. Tôi làm việc cho mẹ anh. Và trừ phi bà ấy bảo với tôi là bà ấy không cần tôi ở đây nữa chứ không thì tôi vẫn sẽ làm việc. Không phải bởi vì tôi đặc biệt quan tâm tới anh hay yêu thích cái công việc ngớ ngẩn này hay muốn thay đổi cuộc đời anh theo cách này hay cách khác, mà là bởi vì tôi cần tiền. Được chứ? Tôi thật sự rất cần tiền.”

Vẻ mặt Will Traynor bề ngoài không thay đổi nhiều nhưng tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy một thoáng ngạc nhiên như thể anh ta không quen với việc bị người ta bật lại.

Quỷ tha ma bắt, tôi nghĩ, khi hiện thực về những điều tôi vừa làm bắt đầu hiển hiện. Lần này mình làm hỏng bét mọi chuyện rồi.

Nhưng Will chỉ nhìn tôi chằm chằm trong giây lát, rồi khi tôi chưa quay đi, anh ta thở ra khe khẽ như đang muốn nói một điều gì buồn bã.

“Hiểu rồi,” anh ta nói rồi quay xe đi. “Cô cứ bỏ tất cả vào ngăn cuối tủ kéo, được chứ? Tất cả.”

Rồi cùng với tiếng xe lăn rì rì, anh ta biến mất. 

Chương 5

Vấn đề của việc bị ném mạnh vào một cuộc đời hoàn toàn mới – hay ít nhất cũng là bị xô cật lực vào cuộc đời của người khác mà ở đó bạn phải cùng gí mặt vào ô cửa sổ nhà họ – nằm ở chỗ nó bắt bạn phải nghĩ lại về ý niệm bạn là ai. Hoặc trong mắt kẻ khác bạn là người như thế nào.

Với bố mẹ, tất cả những gì tôi mang lại trong bốn tuần ngắn ngủi là thêm đôi ba chút thú vị. Giờ đây tôi là cầu nối tới một thế giới khác. Đặc biệt là mẹ tôi, ngày nào mẹ cũng hỏi đủ thứ về dinh thự Granta và những thói quen trong gia đình đó theo cái cách mà một nhà động vật học say mê nghiên cứu một sinh vật mới lạ lùng và môi trường sống của nó. Mẹ hay hói “Bữa ăn nào bà Traynor cũng dùng khăn ăn bằng vải lanh à?” hoặc, “Họ làm gì với khoai tây?”

Sáng nào tiễn tôi đi làm mẹ cũng nghiêm khắc chỉ đạo tôi tìm hiểu xem họ dùng giấy vệ sinh của hãng nào, liệu có phải ga nhà họ đều là vải poly-cotton không. Tôi hầu như chẳng nhớ được lần nào, điều đó khiến mẹ vô cùng thất vọng. Mẹ tôi thầm tin rằng người quyền quý sống giống loài lợn – kể từ năm tôi lên sáu, khi tôi kể cho mẹ nghe về một bạn con nhà giàu cùng lớp, mẹ bạn ấy không cho chúng tôi chơi ở gian sảnh “vì chúng tôi sẽ quấy rối bụi bặm.”

Khi tôi về nhà tường thuật lại rằng, phải, tất nhiên là chó được phép ăn trong phòng bếp, hoặc là, không, không phải ngày nào nhà Traynor cũng lau chùi bậc tam cấp như mẹ, mẹ sẽ bĩu môi, liếc sang bố và khẽ gật đầu thỏa mãn, như thể tôi vừa thừa nhận mọi điều bà vốn đã nghi ngờ về tình trạng ăn ở lôi thôi luộm thuộm của giới thượng lưu.

Sự phụ thuộc của bố mẹ vào thu nhập của tôi, hay có lẽ là chuyện họ biết tôi thật sự không ưa công việc này, đồng nghĩa với việc tôi cũng nhận được thêm một chút tôn trọng trong nhà. Thật ra điều này cũng không có ý nghĩa gì nhiều – trong trường hợp của bố tôi, nó có nghĩa là bố thôi gọi tôi là “nàng mập”, còn với mẹ tôi, nó có nghĩa là thường có một tách trà đợi sẵn khi tôi về nhà.

Với Patrick, và với em gái tôi, tôi chẳng khác trước chút nào – vẫn là trung tâm của chọc ngoáy, vẫn là nơi nhận những cái ôm hôn, những giận hờn. Trong tôi cũng không thấy có gì thay đổi. Trông tôi vẫn như cũ, vẫn ăn mặc – theo lời Treen – giống như tôi đã có một trận đấu vật trong cửa hàng từ thiện.

Tôi không hay biết hầu hết mọi người trong dinh thự Granta nghĩ gì về tôi. Will thì khó dò. Với Nathan, tôi nghĩ tôi chỉ là người mới nhất trong chuỗi dài những người chăm sóc được thuê. Ông khá thân tình, nhưng hơi tư lự. Tôi có cảm giác ông không tin tôi sẽ trụ ở đây lâu. Ông Traynor thường lịch sự gật đầu chào mỗi khi chúng tôi đi qua nhau trong sảnh, thỉnh thoảng hỏi tôi giao thông hôm đó thế nào, hoặc tôi đã ổn mọi việc ở đó chưa. Tôi không chắc ông có thể nhận ra tôi không nếu ông được giới thiệu về tôi trong một hoàn cảnh khác.

Còn với bà Traynor – ôi trời ơi – với bà Traynor, tôi rõ ràng là người ngớ ngẩn vô tích sự nhất hành tinh.

Điều đó khơi nguồn từ chuyện khung ảnh. Chẳng có điều gì trong ngôi nhà đó lọt khỏi tầm mắt của bà Traynor, và lẽ ra tôi phải biết trước rằng chuyện vỡ khung ảnh to tát chẳng kém gì một vụ động đất. Bà vặn vẹo tôi xem chính xác thì tôi đã bỏ Will một mình trong bao lâu, điều gì đã khiến tôi làm thế, tôi dọn dẹp đống hỗn độn nhanh chậm thế nào. Thật tình bà không chỉ trích tôi – bà quá quý phái nên không thể dù chỉ cao giọng – nhưng cái cách bà chầm chậm chớp mắt trước những câu trả lời của tôi, tiếng hư-hử khe khẽ của bà khi tôi nói, bảo với tôi mọi điều tôi cần biết. Tôi chẳng ngạc nhiên khi Nathan nói với tôi rằng bà là quan tòa.

Bà nghĩ sẽ là một ý hay nếu lần tới tôi không bỏ mặc Will lâu như vậy, dù tình huống có khó xử tới mức nào, hử? Bà nghĩ có lẽ lần lau dọn tiếp theo, tôi nên đảm bảo rằng mọi thứ không quá gần mép để tránh trường hợp chẳng may chúng rơi xuống sàn, hử? (Dường như bà thích tin rằng đó là một tai nạn thì hơn.) Bà khiến tôi cảm thấy mình giống một con ngốc thượng hạng khi ở cạnh bà. Bà luôn xuất hiện ngay khi tôi đánh rơi thứ gì đó xuống sàn, hoặc đang đánh vật với nút vặn bếp lò, hoặc bà sẽ đứng ngay giữa lối đi nhìn với vẻ hơi bực bội lúc tôi bước vào nhà sau khi đi lấy củi bên ngoài, như thể tôi đã đi lâu hơn rất nhiều so với mức cần thiết.

Lạ lùng là thái độ của bà khiến tôi thấy sợ hơn sự thô lỗ của Will. Đôi lần tôi rất muốn hỏi thẳng bà xem có gì sai quấy không. Tôi muốn nói, Bà đã bảo bà mướn tôi vì thái độ của tôi chứ không phải kỹ năng nghiệp vụ cơ mà. Ồ, thì tôi đây, cứ tươi vui dù ngày nào cũng thật nghiệt ngã. Rất mạnh khỏe, đúng như bà mong muốn. Thế thì vấn đề của bà là gì đây?

Nhưng Camilla Traynor không phải kiểu phụ nữ mà ta có thể nói ra điều đó. Vả chăng, tôi có cảm giác là trong nhà đó chưa từng có ai nói thẳng điều gì với ai.

“Lily, cô giúp việc gần đây của chúng tôi, có thói quen rất thông minh là sử dụng cái chảo đó cho hai loại rau cùng một lúc,” có nghĩa Cô làm ăn lộn xộn quá.

“Con có muốn uống trà không Will,” thực sự có nghĩa Mẹ chẳng biết phải nói gì với con cả.

“Mẹ nghĩ có mấy công việc giấy tờ mẹ cần sắp xếp,” có nghĩa Con thô lỗ quá, mẹ ra khỏi cái phòng này đây. Tất cả những lời ấy luôn thốt ra cùng nét mặt thoáng đau thương, và những ngón tay gầy rộc cứ kéo cây thập ác lên xuống trên sợi dây chuyền. Bà quá kín kẽ, quá dè chừng. Bà khiến tôi thấy mẹ mình chẳng khác gì Amy Winehouse. Tôi mỉm cười lịch sự, vờ như tôi chẳng để ý thấy điều gì, chỉ làm công việc mà tôi được trả công để làm.

Hoặc chí ít, tôi cố tỏ ra như thế.

“Sao cô cứ giấu cà-rốt vào đĩa của tôi thế?”

Tôi liếc nhìn xuống đĩa thức ăn. Tôi đang mải nhìn cô phát thanh viên trên ti- vi và tự nghĩ không biết tóc mình sẽ thế nào nếu nhuộm cùng màu đó.

“Gì ạ? Đâu có.”

“Rõ là có. Cô nấu cà-rốt cho nhừ rồi cố che giấu trong nước xốt. Tôi thấy rồi.”

Tôi đỏ mặt. Anh ta nói đúng. Tôi đang ngồi đút cho Will ăn, trong khi hai chúng tôi cùng lơ đãng xem bản tin trưa. Bữa ăn có bò nướng và khoai tây hầm. Mẹ anh ta bảo tôi bỏ ba loại rau củ vào đĩa, dù anh ta đã nói rõ ràng rằng hôm nay anh ta không muốn ăn rau. Tôi không nghĩ có bữa ăn nào mà tôi được chỉ dẫn chuẩn bị lại hoàn toàn thiếu cân bằng dinh dưỡng tới vậy.

“Sao cô cứ cố nhồi cà-rốt cho tôi?” “Đâu có.”

“Thế không có cà-rốt trong món đó hả?”

Tôi nhìn vào những mẩu nhỏ xíu màu cam. “Ừm… à…” Anh ta nhướng mày chờ đợi.

“Ờ… tôi cho là tôi đã nghĩ rau sẽ rất tốt cho anh, phải không ạ?”

Chuyện này một phần là vì vâng lời bà Traynor, một phần là vì thói quen. Tôi thường xuyên cho Thomas ăn, rau của nó phải xay nhuyễn và giấu dưới từng ụ khoai tây, hoặc che trong những mẩu mì ống. Qua mặt được nó mẩu rau nào là chúng tôi lại thấy như một thắng lợi nho nhỏ.

“Để tôi nói thẳng chuyện này nhé. Cô nghĩ một thìa cà-phê cà-rốt sẽ làm tăng chất lượng cuộc sống của tôi hả?”

Thật ngớ ngẩn khi anh ta đánh giá chuyện này như thế. Nhưng tôi đã học được rằng điều quan trọng là không được tỏ ra ngạc nhiên trước bất kỳ điều gì Will làm hoặc nói. “Tôi hiểu ý anh rồi,” tôi nói bình thản. “Tôi sẽ không làm thế nữa.”

Thế rồi bỗng dưng, Will Traynor cười khanh khách. Cơn cười bật ra khiến anh ta thở hổn hển, như thể đây là chuyện vô cùng bất ngờ.

“Vì Chúa,” anh ta lắc đầu. Tôi nhìn anh ta chằm chằm.

“Cô đã lén cho thứ chết tiệt gì nữa vào thức ăn của tôi vậy? Tiếp theo cô sẽ bảo tôi mở đường hầm để Ngài Tàu hỏa có thể giao gửi ít cải Brussel mềm cho nhà ga đỏ.”

Tôi suy nghĩ điều này trong một phút. “Không,” tôi nói, mặt nghiêm trang. “Tôi chỉ xoay xở với Ngài Dĩa thôi. Ngài Dĩa trông chẳng giống con tàu chút nào.”

Thomas đã bảo với tôi như vậy, rất đinh ninh, mấy tháng trước. “Mẹ tôi đã bảo cô làm thế này à?”

“Không. Nghe này, Will, tôi xin lỗi. Tôi chỉ… không nghĩ.” “Kiểu như thế là bất bình thường.”

“Được rồi, được rồi. Tôi sẽ bỏ món cà-rốt phải gió này ra, nếu nó thực sự khiến anh bực mình tới vậy.”

“Không phải món cà-rốt phải gió làm tôi bực mình. Mà là chuyện cà-rốt giấu trong thức ăn của tôi bởi một cô nàng dở hơi cứ gọi dao dĩa và Quý ngài và Quý bà Dĩa.”

“Chỉ đùa thôi mà. Nghe này, để tôi lấy cà-rốt đi và…”

Anh ta quay đi. “Tôi không muốn ăn gì nữa. Chỉ cần pha cho tôi một tách trà.” Anh ta gọi với theo khi tôi rời khỏi phòng, “Và đừng có cố nhét bầu đất chết giẫm vào trà đấy.”

Nathan bước vào khi tôi vừa rửa xong đĩa. “Tâm trạng cậu ấy đang tốt,” ông nói, khi tôi đưa ông một tách trà.

“Thật sao?” Tôi đang ăn sandwich trong phòng bếp. Ngoài trời lạnh thấu xương thấu phổi, và chẳng hiểu sao gần đây không khí trong nhà có cảm giác không còn căng thẳng như trước.

“Cậu ấy nói cô đang cố đầu độc cậu ấy. Nhưng cậu ấy nói chuyện đó – cô biết đấy – với giọng vui vẻ.”

Thông tin này khiến tôi thấy vui sướng một cách kỳ cục. “À… ừm…” Tôi nói, cố che giấu cảm xúc đó. “Cứ đợi đấy.”

“Cậu ấy còn nói đôi điều nữa. Có nhiều tuần cậu ấy chẳng nói một lời nào, nhưng rõ ràng là mấy ngày gần đây cậu ấy đã chịu nói chút ít.”

Tôi nghĩ tới lúc Will bảo tôi nếu tôi không thôi cái trò huýt sáo dở hơi đi thì anh ta sẽ buộc phải tống cổ tôi đi. “Tôi nghĩ định nghĩa của anh ta và của tôi về hay nói có phần khác nhau.”

“À, chúng tôi đã nói đôi điều về cricket. Và tôi phải nói với cô…” Nathan hạ giọng “… Khoảng một tuần trước bà T hỏi tôi nghĩ cô có làm được việc không. Tôi nói tôi nghĩ cô rất chuyên nghiệp, nhưng tôi biết rằng bà ấy không định hỏi chuyện đó. Thế nên hôm qua bà ấy vào bảo với tôi rằng bà ấy nghe thấy hai cô cậu đang cười.”

Tôi nhớ lại chập chiều hôm qua. “Anh ấy cười tôi,” tôi nói. Will thấy thật ngộ nghĩnh khi tôi không biết sốt pesto là gì. Tôi đã bảo với anh ta bữa tối là “mì ống trộn nước xốt xanh xanh.”

“À, bà ấy không quan tâm đâu. Đã quá lâu rồi cậu ấy chẳng cười trước điều gì.”

Quả thực là thế. Will và tôi dường như đã tìm được cách dễ dàng hơn để ở cạnh nhau. Nó chủ yếu xoay quanh cách anh ta thô lỗ với tôi, và đôi khi tôi cũng thô lỗ lại. Anh ta nói gì đó không êm tai với tôi, tôi bật lại rằng nếu chuyện ấy thực sự quan trọng với anh thì hãy hỏi tôi cho tử tế. Anh ta nhiếc tôi, hoặc gọi tôi là kẻ lắm điều rắc rối, thì tôi sẽ bảo anh ta cứ thử không có kẻ lắm điều rắc rối này coi anh ta chịu được bao lâu. Cách này cần nỗ lực đôi chút, nhưng dường như nó hiệu quả với cả hai chúng tôi. Đôi khi thậm chí dường như anh ta cảm thấy nhẹ nhõm khi có người chuẩn bị cư xử thô lỗ với anh ta, cãi vã hoặc nói anh ta là kẻ tồi tệ. Tôi có cảm giác là mọi người đều rón chân quanh anh ta kể từ sau vụ tai nạn – có lẽ chỉ trừ Nathan, dường như Will đối xử với sự tôn trọng tự nhiên, còn ông thì miễn nhiễm với những lời bình luận châm chích của anh ta. Nathan giống như cỗ xe tăng đội lốt người.

“Cô chỉ cần đảm bảo rằng cô vẫn sẽ là trung tâm trêu chọc của cậu ấy, được chứ?”

Tôi đặt cái tách vào bồn rửa. “Tôi nghĩ chuyện đó không thành vấn đề.”

Một thay đổi lớn nữa, ngoại trừ sự thay đổi không khí trong ngôi nhà, là Will không thường xuyên bảo tôi để anh ta một mình như trước nữa, và có đôi buổi chiều anh ta còn hỏi tôi có muốn ở lại xem phim với anh ta không. Tôi chẳng quá phiền khi đó là phim The Terminator (Kẻ hủy diệt) – dù tôi đã xem trọn các tập phim Kẻ hủy diệt – nhưng khi anh ta chiếu cho tôi bộ phim của Pháp có phụ đề thì tôi liếc nhanh lên bìa đĩa rồi nói tôi nghĩ có lẽ tôi không nên tham gia.

“Tại sao?”

Tôi nhún vai. “Tôi không thích xem phim với phụ đề.”

“Thế thì khác gì nói cô không thích xem phim có diễn viên nam. Đừng có ngớ ngẩn thế. Cô không thích gì ở nó chứ? Chuyện cô vừa phải đọc vừa phải xem à?”

“Chỉ là tôi không thích phim nước ngoài.”

“Mọi phim sau phim Local Bloody Hero (Nhiệt huyết anh hùng) đều là phim nước ngoài cả. Cô nghĩ Hollywood là ngoại ô Birmingham chắc?”

“Buồn cười thật.”

Anh ta không tin nổi khi tôi thừa nhận thực sự tôi chưa bao giờ xem phim có phụ đề. Nhưng bố mẹ tôi thường chiếm quyền sở hữu cái điều khiển ti-vi vào buổi tối, còn Patrick thì thích xem phim nước ngoài cũng chẳng kém gì thích đề nghị chúng tôi tham gia lớp học thêu thùa buổi tối. Rạp chiếu phim ở thị trấn gần nhà chúng tôi nhất chỉ chiếu những bộ phim hành động hoặc phim hài lãng mạn mới nhất, cái rạp đó quá ồn ào với lũ trẻ mặc áo chui đầu la hò ầm ĩ mà đa phần người dân quanh thị trấn ấy hiếm khi để tâm.

“Cô phải xem phim này, Louisa. Nói thật nhé, tôi lệnh cho cô xem phim này.” Will lùi xe lại, hất đầu về chiếc ghế bành. “Kia. Cô ngồi kia. Phim chưa hết thì đừng có mà đi đâu. Chưa bao giờ xem phim nước ngoài. Chúa ơi,” anh ta lầm bầm.

Đó là một bộ phim cũ, kể về một anh gù được thừa kế một ngôi nhà ở miền quê nước Pháp, Will nói nó dựa trên một cuốn sách nổi tiếng, nhưng tôi nói tôi chưa từng nghe về tác phẩm ấy. Hai mươi phút đầu tôi cứ ngọ nguậy không yên, bực mình khi phải đọc phụ đề và tự hỏi Will có nổi giận không nếu tôi bảo là tôi cần đi tiểu.

Thế rồi có điều gì đó xảy ra. Tôi thôi nghĩ về chuyện thật quá khó khi phải vừa xem vừa nghe, quên luôn thời gian biểu dùng thuốc của Will, quên nỗi băn khoăn không biết bà Traynor có nghĩ tôi đang chây lười không, tôi bắt đầu lo lắng cho người đàn ông tội nghiệp và gia đình anh ta, đang bị đám hàng xóm độc ác gài bẫy. Khi Anh Gù chết, tôi khóc lặng lẽ, quệt nước mũi vào ống tay áo.

“Thế nào,” Will nói, xuất hiện bên cạnh tôi. Anh ta ranh mãnh liếc nhìn tôi. “Cô không thích xem phim đó chút nào hả.”

Tôi ngước lên, ngạc nhiên khi nhận ra bên ngoài trời đã tối sầm. “Giờ thì anh hả hê rồi phải không?” Tôi lầm bầm, với tay lấy hộp khăn giấy.

“Một chút. Tôi chỉ kinh ngạc khi cô đã tới độ tuổi trưởng thành là – bao nhiêu nhỉ?”

“Hai sáu.”

“Hai sáu, mà chưa từng xem bộ phim phụ đề nào.” Anh ta nhìn tôi lau mắt. Tôi liếc xuống khăn giấy thì nhận ra mình không còn chút mascara nào nữa.

“Tôi chẳng thấy chuyện đó là bắt buộc,” tôi gầm gừ.

“Được rồi. Thế cô làm gì với bản thân, Louisa Clark, nếu cô không xem phim?”

Tôi vo khăn giấy trong nắm tay. “Anh muốn biết tôi làm gì khi tôi không ở đây hả?”

“Cô là người muốn chúng ta biết về nhau mà. Thế thì nói đi nào, kể tôi nghe về cô.”

Anh ta có cái kiểu nói khiến người khác không bao giờ dám chắc anh ta không hề bỡn cợt họ. Tôi đang chờ anh ta tiếp tục trò bỡn cợt. “Tại sao?” tôi hỏi. “Tại sao tự nhiên anh lại muốn biết vậy?”

“Ôi, vì Chúa. Đó đâu phải bí mật quốc gia gì chứ, cuộc sống xã hội của cô ấy mà, phải không?” Anh ta bắt đầu tỏ ra bực bội.

“Tôi không biết…” tôi nói. “Tôi đi uống ở quán rượu. Thỉnh thoảng xem ti-vi. Tôi đi xem bạn trai chạy. Không thường xuyên lắm.” “Cô xem bạn trai chạy.”

“Phải.”

“Mà bản thân cô không chạy.”

“Không. Tôi không thực sự” – tôi liếc nhìn xuống ngực – “sinh ra để chạy.” Câu đó khiến anh ta mỉm cười.

“Còn gì khác nữa?”

“Còn gì khác ư, ý anh là sao?”

“Sở thích? Du lịch? Những nơi cô thích tới?”

Giọng anh ta đang bắt đầu nghe giống giọng ông thầy dạy nghề cũ của tôi.

Tôi cố nghĩ. “Tôi không thật sự có sở thích. Thỉnh thoảng tôi đọc. Tôi thích quần áo.”

“Xoàng,” anh ta nói cộc lốc.

“Anh hỏi mà. Thật sự tôi không phải người có nhiều sở thích.” Giọng tôi trở nên phòng vệ lạ thường. “Tôi không làm gì nhiều, được chưa? Tôi đi làm rồi về nhà thôi.”

“Cô sống ở đâu?”

“Phía bên kia tòa lâu dài. Đường Renfrew.”

Trông anh ta ngơ ngác không rõ. Tất nhiên là thế rồi. Có quá ít xe cộ qua lại giữa hai đầu lâu đài. “Nó ở cuối con đường hai làn. Gần quán McDonald.”

Anh ta gật đầu, nhưng tôi không chắc anh ta có thật sự biết nơi tôi đang nói tới không.

“Ngày nghỉ thì sao?”

“Tôi từng tới Tây Ban Nha, với Patrick. Bạn trai tôi,” tôi nói thêm. “Khi còn nhỏ, chúng tôi chỉ tới Dorset. Hoặc Tenby. Dì tôi sống ở Tenby.”

“Thế cô muốn gì?” “Tôi muốn gì là sao?”

“Từ cuộc sống của cô ấy mà?”

Tôi chớp mắt. “Như thế hơi sâu quá đấy nhỉ?”

“Chỉ chung chung thôi. Tôi đâu có đòi hỏi cô phân tích bản thân. Tôi chỉ hỏi, cô muốn gì? Kết hôn? Đẻ ra mấy nhóc? Công việc mơ ước? Du lịch thế giới?”

Tôi im lặng hồi lâu.

Tôi nghĩ trước khi nói ra những lời này tôi đã biết câu trả lời của mình sẽ khiến anh ta thất vọng. “Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều đó.”

Vào thứ Sáu, chúng tôi đi bệnh viện. Tôi mừng vì tôi không biết về cuộc hẹn của Will trước khi tôi tới làm sáng đó, vì nếu biết tôi sẽ nằm chong mắt suốt đêm lo lắng chuyện phải chở anh ta tới đó. Tôi biết lái xe, đúng. Nhưng tôi nói tôi biết lái xe đúng với cách tôi nói tôi biết nói tiếng Pháp. Phải, tôi đã tham gia kỳ sát hạch thích đáng và vượt qua. Nhưng từ khi có bằng tôi không sử dụng kỹ năng đặc biệt đó quá một lần mỗi năm. Ý nghĩ chất Will và chiếc xe lăn lên chiếc xe đa dụng rồi chở anh ta an toàn tới thị trấn bên cạnh rồi quay về khiến tôi tràn ngập nỗi sợ khủng khiếp.

Nhiều tuần liền, tôi đã hy vọng rằng ngày lao động của tôi có việc gì đó đòi hỏi phải ra ngoài. Nhưng giờ tôi sẵn sàng làm mọi thứ chỉ để được ở trong nhà. Tôi để tấm card bệnh viện của anh ta giữa đống giấy tờ liên quan tới sức khỏe của anh ta – một tập dày cộm chia thành các mục “vận chuyển”, “bảo hiểm”, “sống chung với tật nguyền,” và “lịch hẹn khám”. Tôi cầm tấm card lên và kiểm tra xem nó có ghi ngày hôm nay không. Trong tôi thoáng chút hy vọng rằng Will đã nhầm.

“Mẹ anh có tới không?”

“Không. Bà không tới các cuộc hẹn khám của tôi.”

Tôi không giấu được nỗi ngạc nhiên. Tôi đã nghĩ bà sẽ muốn giám sát mọi mặt công cuộc điều trị anh ta.

“Trước đây bà hay tới,” Will nói. “Giờ thì chúng tôi có một thỏa thuận.” “Nathan có tới không?”

Tôi đang quỳ trước mặt anh ta. Tôi quá căng thẳng tới nỗi đã đánh rơi ít thức ăn trưa xuống lòng anh ta và giờ đang nỗ lực tuyệt vọng lau nó đi, thế nên một mảng quần của anh ta bị ướt nhẹp. Will chẳng nói gì, chỉ bảo tôi làm ơn thôi xin lỗi đi, nhưng điều đó không giúp tôi hết cảm giác căng thẳng bao trùm.

“Để làm gì?”

“Không có gì.” Tôi không muốn anh ta biết tôi đang sợ thế nào. Tôi đã dành phần lớn buổi sáng hôm đó – thời gian tôi thường dành để lau chùi – để đọc đi đọc lại cuốn sách mỏng hướng dẫn sử dụng xe nâng nhưng giờ tôi vẫn cứ sợ chết khiếp khi nghĩ tới lúc tôi phải một mình thực hiện nhiệm vụ nhấc anh ta lên không trung bảy mươi phân.

“Thôi nào, Clark. Có chuyện gì thế?”

“Được rồi. Tôi chỉ… tôi chỉ nghĩ lần đầu này sẽ dễ dàng hơn nếu có ai đó khác biết về dây dợ.”

“Ai đó khác tôi hả,” anh ta nói. “Tôi không có ý đó.”

“Vì không thể kỳ vọng tôi biết chút gì về việc chăm sóc chính tôi hả?”

“Anh biết hoạt động bàn nâng xe lăn hả?” tôi nói không giấu giếm. “Anh có thể nói chính xác cho tôi biết phải làm gì đúng không?”

Anh ta quan sát tôi, cái nhìn của anh ta phẳng lặng. Nếu đang đấu tranh tư tưởng, thì dường như anh ta đã thay đổi ý định. “Được rồi. Đúng thế, ông ấy sẽ tới. Ông ấy sẽ phụ một tay. Vả lại tôi nghĩ nếu có ông ấy ở đây thì cô sẽ giúp mình bớt căng thẳng đi.”

“Tôi đâu có căng thẳng,” tôi phản đối.

“Rõ ràng còn gì.” Anh ta liếc nhìn xuống lòng mình, tôi vẫn đang dùng khăn lau chùi chỗ đó. Tôi đã đánh đổ sốt mì ống, nhưng ướt cả vào người anh ta. “Thế tôi sắp được tha chưa đây?”

“Tôi chưa xong,” tôi cắm máy sấy tóc vào ổ điện và chĩa thẳng ống sấy vào đũng quần anh ta.

Khi khí nóng lan tỏa lên quần, anh ta nhướng mày.

“À, ừm,” tôi nói. “Đó không hẳn là việc tôi nghĩ mình phải làm vào chiều thứ Sáu.”

“Cô rất căng thẳng phải không?”

Tôi biết rõ là anh ta đang quan sát tôi.

“Ôi, tươi tỉnh lên nào Clark. Tôi mới là người bị luồng khí nóng bỏng sấy thẳng vào hạ bộ cơ mà.”

Tôi không đáp. Tôi nghe giọng anh ta qua tiếng rào rào của máy sấy tóc. “Thôi nào, còn chuyện gì tệ hại hơn có thể xảy ra cơ chứ – rốt cuộc tôi đã ngồi xe lăn rồi còn gì?”

Nghe thì ngớ ngẩn, nhưng quả thực tôi không thể không phá lên cười. Đây là biểu hiện rõ ràng nhất Will thực sự đang cố làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn.

Nhìn bên ngoài chiếc xe trông giống một chiếc xe chở người bình thường, nhưng khi cửa sau chỗ ghế hành khách mở ra, một đường trượt hạ từ một bên hông xe xuống đất. Trước sự quan sát của Nathan, tôi đẩy chiếc xe đi ngoài trời của Will (anh ta có một chiếc dành riêng để du ngoạn) thẳng vào đường trượt, kiểm tra phanh khóa điện.

Nathan ngồi vào ghế khách còn lại, cài dây an toàn cho anh ta và chốt bảo vệ cho xe lăn. Cố ngăn đôi tay thôi run rẩy, tôi thả phanh tay rồi từ từ lái xe về phía bệnh viện.

Khi đi xa khỏi ngôi nhà, Will có vẻ hơi co người lại. Trời rét căm căm, Nathan và tôi đã bọc anh ta trong khăn choàng và áo khoác dày cộp, nhưng anh ta trở nên im lặng hơn, cằm đơ ra, trông nhỏ bé trước khung cảnh bao la hơn ở xung quanh. Mỗi lần tôi nhìn vào gương chiếu hậu (khá thường xuyên – vì dù Nathan ở đó tôi vẫn lo sợ bằng cách nào đó chiếc xe sẽ tuột khỏi dây chằng), tôi đều thấy anh ta đang nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ, vẻ mặt không đoán định nổi. Ngay cả dăm ba lần khi tôi giảm tốc hoặc phanh quá đột ngột, anh ta cũng chỉ hơi cau mặt và chờ đợi cho tôi trấn tĩnh lại.

Khi tới được bệnh viện, tôi đã toát đẫm mồ hôi. Tôi lái xe quanh bãi đỗ của bệnh viện ba lần, quá lo sợ không dám chạy lùi vào chỗ nào chưa phải chỗ rộng nhất trong bãi, cho tới khi nhận thấy hai người đàn ông bắt đầu mất bình tĩnh. Thế rồi cuối cùng, tôi hạ thấp đường trượt và Nathan giúp đẩy xe lăn của Will xuống đường nhựa.

“Tốt lắm,” Nathan nói, vỗ lưng tôi khi ông ra khỏi xe, nhưng tôi thấy khó tin đó là sự thật.

Có những thứ phải tới khi đồng hành với người ngồi xe lăn ta mới để ý thấy. Một trong số đó là hầu hết các vỉa hè đều đầy rác rến, lỗ rỗ bao nhiêu hố hốc chắp vá khủng khiếp, hoặc đơn giản là không bằng phẳng. Đi chầm chậm bên Will trong khi anh ta tự điều khiển xe đẩy dọc đường, tôi để ý thấy từng phiến đá nham nhở đều khiến anh ta bật nảy lên đau đớn, anh ta phải cẩn thận tránh vòng quanh những chỗ có khả năng gây dằn xóc. Nathan vờ như không để ý nhưng tôi thấy ông cũng đang quan sát. Will thì chỉ lộ vẻ đăm đăm và quyết tâm.

Một điều khác nữa là, hầu hết các tài xế đều hết sức vô tâm. Họ đỗ xe sát vỉa hè hoặc quá gần nhau tới nỗi chẳng có lối cho xe lăn qua đường. Tôi quá kinh ngạc, đôi lần thậm chí còn muốn để lại một tờ giấy nhắn thô lỗ trên cần gạt nước, nhưng Nathan và Will dường như đã quen rồi. Nathan chỉ ra một chỗ có thể qua đường, thế rồi chúng tôi mỗi người đi một bên Will, cuối cùng cũng qua được bên kia.

Từ khi rời nhà, Will không nói một lời.

Bản thân bệnh viện là một tòa nhà thấp tầng sáng choang, khu vực tiếp tân sạch bong trông giống một khách sạn hiện đại hơn là bệnh viện, có lẽ đây là biểu hiện của bảo hiểm tư nhân. Tôi đứng lùi phía sau khi Will xưng tên với cô tiếp tân, rồi theo anh ta và Nathan xuống một hành lang dài. Nathan mang một ba-lô to đùng chứa mọi thứ mà có thể Will sẽ cần trong cuộc hẹn ngắn ngủi này, từ cốc bê-se cho tới quần áo dự phòng. Sáng nay ông đã gói ghém đồ đạc trước mặt tôi, trình bày tỉ mỉ từng tình huống có thể xảy ra. “Tôi nghĩ sẽ rất tốt nếu chúng ta không phải làm việc này quá thường xuyên,” ông nói khi thấy vẻ mặt sợ hãi của tôi.

Tôi không theo Will vào cuộc hẹn. Nathan và tôi ngồi trên những chiếc ghế thoải mái bên ngoài phòng bác sĩ tư vấn. Ở đây không hề có mùi bệnh viện, chỉ có hương hoa tươi trong bình bên cửa sổ. Cũng không có cả những bông hoa cũ. Những thứ đồ ngoại lai to đùng mà tôi không biết gọi tên là gì được sắp xếp nghệ thuật thành những khối đơn giản.

“Họ đang làm gì trong đó?” tôi nói sau khi chúng tôi ngồi chờ được nửa tiếng.

Nathan ngước lên khỏi cuốn sách. “Chỉ là cuộc kiểm tra định kỳ sáu tháng thôi.”

“Sao, để xem anh ấy có tiến bộ tí nào không à?”

Nathan đặt sách xuống. “Cậu ấy sẽ không tốt lên chút nào cả. Đó là tổn thương tủy sống.”

“Nhưng ông vẫn trị liệu các thứ cho anh ấy.”

“Đó là để cố giữ cho thể trạng của cậu ấy ổn định – để ngăn cho cậu ấy không bị teo cơ, xương không bị khử khoáng, chân không bị tụ máu, đại loại thế.”

Khi cất tiếng trở lại, giọng ông nhẹ nhàng, như thể ông nghĩ có lẽ ông đã làm tôi thất vọng. “Cậu ấy sẽ không đi được nữa đâu, Louisa. Những chuyện đó chỉ xảy ra trên phim Hollywood. Tất cả những gì chúng ta đang làm là tránh cho cậu ấy đau đớn, và duy trì biến chuyển của cậu ấy dù ở mức độ nào đi nữa.”

“Có phải anh ấy làm những thứ này là vì ông không? Những thứ vật lý trị liệu ấy? Dường như anh ấy không muốn làm bất cứ thứ gì mà tôi đề nghị.”

Nathan nhăn mũi. “Cậu ấy làm việc đó, nhưng tôi nghĩ cậu ấy không tin tưởng. Hồi đầu tôi tới, cậu ấy khá quyết tâm. Cậu ấy đã rất chịu khó chữa trị, nhưng sau một năm không tiến triển gì, tôi nghĩ cậu ấy thấy khó giữ niềm tin chuyện chữa trị có ý nghĩa.”

“Ông có nghĩ anh ấy nên tiếp tục cố gắng không?”

Nathan nhìn chằm chằm xuống sàn nhà. “Nói thật nhé? Cậu ấy bị liệt tứ chi mức độ C5/6. Điều đó có nghĩa không có gì hoạt động từ phần này trở xuống…” ông đặt một bàn tay lên phần trên của ngực mình. “Người ta chưa tìm ra cách chữa trị tổn thương cột sống.”

Tôi nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, nghĩ về gương mặt của Will khi chúng tôi lái xe dọc con đường tràn nắng mùa đông, cái khuôn mặt tươi cười rạng rỡ của chàng thanh niên đi trượt tuyết trong kỳ nghỉ. “Nhưng có mọi loại dịch vụ y tế trên đời mà, phải không? Ý tôi là… ở chỗ nào đó như thế này… họ hẳn sẽ chữa trị những thứ bệnh trạng thế này mọi lúc.”

“Đây là một bệnh viện rất tốt,” ông nói bình thản. “Nơi còn sống, còn mọi thứ đó?”

Nathan nhìn tôi, rồi nhìn lại vào sách. “Phải,” ông nói.

Ba giờ kém mười lăm, tôi đi lấy một tách cà-phê, Nathan cũng muốn một tách. Ông nói rằng những cuộc hẹn khám thường kéo dài khá lâu, thế nên ông sẽ giữ chỗ cho tới khi tôi quay lại. Tôi giết thời gian một lát ở khu tiếp tân, lướt qua mấy cuốn tạp chí trên sạp báo, nấn ná bên những thanh sô-cô-la.

Có lẽ đúng như đoán trước, tôi bị lạc khi tìm đường trở lại hành lang cũ và phải hỏi mấy cô y tá xem tôi phải đi hướng nào, thậm chí hai người trong số họ cũng không biết. Khi tôi về lại chỗ đó, cà-phê đã lạnh trên tay, dãy hành lang trống trơn. Khi bước lại gần hơn, tôi thấy cửa phòng bác sĩ tư vấn hé mở. Tôi lưỡng lự bên ngoài, nhưng giờ đây lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng bà Traynor trong lỗ tai, chỉ trích tôi vì đã bỏ mặc anh ta. Tôi lại làm thế rồi.

“Thế thì chúng tôi sẽ gặp lại ngài sau ba tháng nữa, ngài Traynor,” một giọng đang nói. “Tôi vừa điều chỉnh thuốc chống co giật và tôi sẽ đảm bảo có người gọi cho ngài để báo kết quả xét nghiệm. Có lẽ là vào thứ Hai.”

Tôi nghe giọng Will. “Tôi lấy những viên này ở quầy thuốc dưới lầu được không?”

“Được. Đây. Có thể họ sẽ đưa cho ngài thêm một số viên kia nữa.” Một giọng phụ nữ. “Tôi lấy tập hồ sơ đó được chứ?”

Tôi nhận thấy chắc là họ sắp ra. Tôi gõ cửa, và có ai đó gọi mời tôi vào. Hai cặp mắt hướng về phía tôi.

“Xin lỗi,” bác sĩ tư vấn nói, đứng lên khỏi ghế. “Tôi tưởng cô là người chăm sóc y tế.”

“Tôi là… người giúp việc của Will,” tôi nói, đứng nán lại ở cửa. Will được giữ ngả người về phía trước trên ghế để Nathan kéo áo xuống cho anh. “Xin lỗi – tôi tưởng mọi người xong xuôi rồi.”

“Cho chúng tôi thêm một phút nữa thôi, được không, Louisa?” Giọng Will vang khắp căn phòng.

Tôi vừa lầm bầm xin lỗi vừa lui ra ngoài, mặt đỏ bừng. Không phải hình ảnh tấm thân trần trụi của Will khiến tôi kinh ngạc, gầy guộc và chằng chịt sẹo. Không phải cái nhìn hơi giận dữ của bác sĩ tư vấn, hệt như ánh mắt bà Traynor nhìn tôi ngày qua ngày – một cái nhìn khiến tôi thấy mình vẫn là con ngốc chuyên làm hỏng việc như cũ, dù thực tế tôi đã nhận được mức thù lao theo giờ cao hơn.

Không, mà đó là những đường đỏ bầm rạch trên cổ tay Will, những vết sẹo dài nham nhở không lẫn vào đâu được, dù Nathan có kéo ống tay áo của Will nhanh cỡ nào.

Tin tức khác...