The Vietnamese Newspaper in Canada

Trứng ngàn năm…

Trong đời sống, có những việc nhỏ đối với người này nhưng lại khiến cho người khác nhớ rất lâu. Như hồi bốn tuổi, là trẻ con miền sông nước nên tôi đã biết bơi chó, tức bơi như con chó. Hồi đó chưa dám qua sông một mình nhưng lội qua con rạch là chuyện nhỏ. Không ngờ lần đó phá phách buổi trưa, bị trượt chân trên tấm ván đòn bắc xuống ghe chở chuối, bị luôn cái thùng bằng ván mỏng đựng chuối úp lên đầu nên không bơi lội gì được. May sao có cô gái nhỏ là con của bà chủ ghe chuối đã thấy tôi sắp chết đuối, cô ấy bỏ qua việc tôi không được phép xuống ghe nhà cô nhưng đã cố tình lẻn xuống để phá phách. Cô bé đã ùm xuống nước để cứu tôi.
Có lẽ ở miền tây bây giờ có một bà già, đã quên chuyện hồi nhỏ bà đã từng cứu mạng một đứa bé trai nghịch ngợm, nhưng tôi thì nhớ ơn cứu mạng đến bây giờ, tới hết đời về con người không biết có còn hay đã mất, sống ra sao, có vui không? Chỉ mong trong đời sống cũng có những người nhớ về mình như mình đã nhớ mãi người cứu mạng khi nhỏ. Nói cách khác, ai từng thoát chết đều không hẹp hòi ra tay tương trợ người khác như một cách trả ơn những người đã cứu mạng mình vì trời đất bao la, dòng sống vô tận, mấy ai đủ may mắn được gặp lại ân nhân để đền đáp.
Nhưng chuyện gì cũng có thể xảy ra trong đời sống con người như chuyện tôi với ông David. Lý lịch trích ngang của ông cũng đơn giản, ông là một cựu quân nhân của quân đội Mỹ. Ông sống một mình sau khi giải ngũ và làm việc với tôi trong hãng. Tôi là ai mà dám ra mặt bênh vực ông trong hãng, nên chỉ nói với mấy người bạn Việt nam – đừng đì ông như người khác, (cũng chẳng dám nói là Mỹ đen hay Mễ gì đó). Tôi thương ông hiền, tôi kính nể tính kiên nhẫn của ông vì tôi là ông thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra với những ức ép, phân biệt đối xử. Tôi ức thay cho ông với người sếp Chúa đã chọn cho chúng tôi, nhưng ông lại khuyên ngược lại tôi là phải bình tĩnh và kiên nhẫn trong đời sống…
Cuối cùng là ông có cảm tình với đám Việt nam, và chúng tôi đều qúy mến ông với ba lý do: Lý do thứ nhất, ông là cựu quân nhân; lý do thứ hai, ông là ông già siêng năng, chịu khó, và rất hiền; lý do thứ ba khiến chúng tôi thương ông vì ông sống khá khó khăn nhưng không hề than vãn. Ông ở share phòng, đi làm bằng xe gắn máy cho bớt tiền xăng, tiền bảo hiểm xe. Theo ông nói, ông ở share phòng rẻ hơn những người cùng ở share phòng chung căn nhà vì ông không cần chỗ đậu xe nên chủ nhà bớt tiền cho ông. Ông cũng không bao giờ nấu nuớng gì ở căn nhà mà ông share phòng, nên chủ nhà bớt tiền cho ông thêm chút nữa, và lý do ông được bớt tiền nhiều nhất là ông là lính giải ngũ nên chủ nhà ưu đãi cho ông…
Tôi thấy một ông già ngày mưa tháng nắng, rong ruổi trên chiếc xe gắn máy đến chỗ làm. Những ngày cuối năm, gió mưa và lạnh, trời tối u u… ông vào hãng nhiều hôm ướt át tới tôi ái ngại cho sức khoẻ của ông. Nhiều hôm tôi rót cho ông ly trà nóng từ bình trà của tôi, tôi cảm nhận ông thưởng thức sự đối đãi nhiều hơn thưởng thức trà.
Khi vào hè, hãng thường tổ chức một buổi dã ngoại. Nói tóm gọn là vào một thứ sáu khoảng giữa hay cuối tháng năm, toàn hãng chỉ làm việc nửa ngày. Rồi kéo hết nhau ra cái công viên gần hãng để nướng thịt, ăn, chơi đủ thứ tới chiều, không phải trở lại hãng làm việc. Thường thì anh em Việt nam đem theo bia, (đúng ra không được phép, nhưng mỗi người chỉ uống một, hai lon thì không ai nói). Chúng tôi cũng thường đem theo khô mực hay mấy món nhậu dã chiến của Việt nam như giò chả, nem chua…. Mấy anh em Việt nam chia nhau, mấy người bạn Mỹ nhưng chơi thân với Việt nam cũng sáp vô với chúng tôi vì ăn thịt nướng kiểu Mỹ đã quá thường với người Mỹ và không hấp dẫn người Việt.
Lần cuối cả hãng đi picnic hôm trước dịch. Tôi ngẫu hứng làm món trứng bắc thảo với củ kiệu ngâm chua, tôm khô; làm hơi cầu kỳ cho hấp dẫn hơn để mấy anh em Việt nam uống bia. Với cái khay nhôm trắng, lót của hành trắng xắt cọng như trộn gỏi, trộn chung với cọng của cần tàu chẻ nhỏ. Tôi lợp trứng bắc thảo xắt múi cam nhiều vòng cho kín cái khay. Đổ hai hũ củ kiệu vào giữa khay như hòn non bộ trắng, có vành đai lửa là tôm khô ngâm nước giấm chua của củ kiệu. Lớp mặt là lá rau cần tàu xanh rờn, điểm ớt trái xắt lát, rắc hành phi… Màu sắc rất vào hè với trứng đen, ớt đỏ, rau xanh, hành trắng, của kiệu trắng, tôm khô màu đỏ cam, hành phi màu cánh gián… cứ như mùa hè rực rỡ đã về.
Những anh em Việt nam cười tôi màu mè hoa lá cành nhưng đẹp mắt, vì củ kiệu tôm khô với trứng bắc thảo thì người Việt đâu có lạ, nhưng không cầu kỳ như tôi làm. Nhưng là món thấy lần đầu với người Mỹ, những tay Mỹ thuộc loại bậm trợn cũng chỉ dám thử củ kiệu. Họ thích lắm nhưng chỉ ăn với rau cần tàu, củ hành trắng; họ không thích tôm khô. Còn trứng bắc thảo thì không người Mỹ nào dám thử vì họ hỏi tôi quy trình chế biến từ cái trứng vịt màu trắng ra trứng bắc thảo đen thui. Tôi nói cho họ đừng ăn thì anh em Việt nam của tôi mới còn mồi để nhậu nên tôi nói là “trứng ngàn năm – egg thousand year”. Trứng này không có bán vì ai có đâu mà bán, chỉ những người may mắn, đi đồng đi ruộng, đi rừng đi suối… may mắn gặp được ổ trứng vịt – thay vì hoá thạch thì nó trở nên sâm cải lão hoàn đồng sau hàng ngàn năm nhờ ngẫu nhiên thích hợp với điều kiện khí hậu và môi trường nơi ổ trứng bị vịt mẹ bỏ quên…
Những anh em Việt nam đều gật đầu xác nhận là tôi nói đúng cho mấy tay Mỹ đừng ăn. Riêng ông David lại đóng kịch tài tình, mới biết tài của ông. Ông ăn thử miếng trứng trong sự ngăn cản của những người Mỹ, nhưng ông nói ông là lính, không sợ gì hết! Ông ăn thử và nhăn nhó, làm thấy ghê như ăn phải thuốc độc. Làm mấy tay Mỹ bỏ đi hết, ông từ từ hưởng phước với anh em Việt nam trong sự đắc ý của một ông già lém lỉnh. Ông nói từ nhỏ đến giờ tôi mới được ăn một loại cheese ngon nhất là black cheese của Việt nam.
Sau dịch không thấy ông trở lại hãng làm việc vì ông làm tạm thời chứ không phải chính thức như chúng tôi, hãng giảm nhân sự thì ông mất việc. Thỉnh thoảng anh em Việt nam cũng nhắc tới ông ấy trong tình thương mến thương một ông già dễ thương, một người lính có tính cách, tư cách, tư chất và sức chịu đựng hơn hẳn dân thường. Và cũng không ai gặp lại ông sau dịch, nhưng hãng lại tổ chức picnic vào cuối tháng năm. Chúng tôi lại nhớ và nhắc đến ông khi anh em Việt nam yêu cầu tôi làm món trứng ngàn năm để uống bia. Ông già lính cũ người Việt không dưng đưa tiền cho tôi, nhờ tôi làm giúp ông, ngoài phần tôi làm cho anh em ăn, ông nhờ tôi làm thêm một phần mang về để ông tặng ông David (nếu ông ấy còn sống – sau dịch). Ông anh Mũ đỏ sẽ gọi ông David đến dự buổi picnic với hãng cũ, với anh em Việt nam – những người không quên ông, đặc biệt là ông David với món trứng ngàn năm mà ông yêu thích…
Lâu rồi mới thấy hứng thú khi đi chợ vì niềm vui trong lòng với ông David còn sống, trong đầu cứ nghĩ tới ông David, sự lém lỉnh dễ thương của ông, sự thương mến ông của anh em Việt nam vì ai cũng chậm đũa, người gác đũa luôn để nhường cho ông khi thấy ông ăn ngon lành như trẻ nhỏ ăn kem, ăn kẹo. Hy vọng chút tình cảm của người Việt dành cho người lính Mỹ sẽ làm cho ông bớt quạnh hiu tuổi già và sự cô độc đến mủi lòng những người quen biết ông.
Ngày Chiến sĩ trận vong năm nay được gặp lại ông David, được làm cho ông ăn, được nhìn ông ăn trứng ngàn năm như món quà mọn tặng người chiến sĩ vô danh. Tạ ơn trên người vẫn thương người trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp, lòng người ngày càng khó hiểu bởi cao siêu và khoa học kỹ thuật ngày càng can thiệp sâu hơn vào đời sống, tình cảm con người…
Phan

Tin liên quan