Tháng 6 tưởng nhớ Quân lực Việt Nam Cộng hòa…

Sau Hiệp ước Elysée 8 tháng 3 năm 1949, Quốc gia Việt Nam được thành lập, có quân đội và chính phủ riêng về mặt ngoại giao với quốc tế. Quân đội Việt Nam được thành lập theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, lấy tên là Vệ Binh Quốc gia. Bao gồm Vệ binh Nam Việt, Việt Binh Đoàn, Bảo chính đoàn và Vệ binh sơn cước. Vệ Binh Quốc gia ban đầu thuộc quyền chỉ huy của người Pháp. Khi Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập trong tháng 5 năm 1952, lực lượng này được đặt dưới quyền điếu động của Bộ Tổng tham mưu.
Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người. Đến tháng 5 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh 43 ngày 23 tháng 5 năm 1952 thành lập Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 5 năm 1952 (với vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên là Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, đặt trụ sở tại số 1 đường Galiéni (sau năm 1955 là đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chính thức ra đời cuối năm 1954, sau hiệp định Genève (20 tháng 7 năm 1954) được ký kết giữa Pháp và CSVN. Mỗi Quân binh chủng lần lượt nhận lại quyền chỉ huy từ tay người Pháp. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955 các Quân binh chủng đã được chỉ huy bởi các sĩ quan Việt Nam, đồng thời các cơ sở hành chánh, cảnh sát, các cơ quan tư pháp cũng được người Pháp trao trả lại chủ quyền cho người Việt Nam nên ngày 26 tháng 10 năm 1955 được coi là ngày người Việt Nam giành lại chủ quyền từ tay người Pháp. Nền Đệ Nhất Cộng Hoà chọn ngày này là ngày Quốc Khánh, ngày Độc lập của người Việt Quốc gia hay ngày Quân Lực. Từ đó, Bộ Tham mưu hỗn hợp Việt-Pháp được hợp thành Bộ Tổng tham mưu Quân Lực VNCH, các Bộ Tư Lệnh Quân khu được nâng lên thành Bộ Tư lệnh Quân đoàn vào đầu năm 1956. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trở thành đội quân tinh nhuệ hàng thứ năm trên thế giới. Đến năm 1960, một số tướng lãnh trong quân đội đã tham chính, dẫn đến cuộc đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963. Chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Chính phủ của Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng thống thời Tổng thống Ngô Đình Diệm ra đời, bị nhóm sĩ quan Đại Việt âm mưu lật đổ nhưng không thành công vì Trung tướng Trần Thiện Khiêm tư lệnh Quân đoàn III phối hợp cùng Trung tướng Nguyễn Khánh tư lệnh Quân đoàn I, Đại tá Nguyễn Chánh Thi tư lệnh phó Quân đoàn I, dùng quân đội dập tắt. Trong phiên họp ngày 12 tháng 12 năm 1963 tại Sài Gòn, ra quyết định ngày 31 tháng 1năm 1964 lật đổ chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, bắt giam các Tướng lãnh chủ mưu trong cuộc đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhưng Đại tướng Dương Văn Minh (người cầm đầu cuộc đảo chánh Tổng thống Diệm) ở lại làm Tổng thống?!
Ngày 13 tháng 9 năm 1964 Đảng Đại Việt đảo chánh. Tướng Nguyễn văn Thiệu lúc đó đang làm Tham mưu trưởng liên quân tại Bộ Tổng tham mưu, cùng với Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh về Sài Gòn để phản công. Tướng Thi kết hợp với tư lệnh Nhảy Dù, tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến và tư lệnh Không Quân để chỉ huy phản công nên ông thành công dễ dàng.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965 Thiếu tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo lại đảo chánh, nhưng bị Trung tướng Nguyễn Chánh Thi tư lệnh Quân đoàn I phối hợp cùng Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tư lệnh Không Quân dẹp tan. Tướng Nguyễn Chánh Thi với danh nghĩa là tư lệnh Quân đoàn giải phóng Thủ đô đã yêu cầu Quốc trưởng Phan Khắc Sửu giải nhiệm Tướng Nguyễn Khánh, chức vụ Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH được giao cho Trung tướng Trần Văn Minh và ép buộc tướng Nguyễn Khánh xuất ngoại.
Ngày 25 tháng 2 năm 1965 Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong. Thủ tướng Phan Huy Quát thành lập chánh phủ, nhưng bị Công giáo biểu tình chống đối nên chánh phủ Phan Huy Quát phải giải tán sau gần bốn tháng cầm quyền đầy rối loạn. Thủ tướng Phan Huy Quát cùng Quốc trưởng Phan khắc Sửu không có thực quyền nên đã trao quyền điều khiển Quốc gia lại cho Quân đội. Phía dân sự lúc đó cũng không ai có thể điều khiển Quốc gia sau những biến cố chính trị và quân đội đang thắng thế. Dân-Quân đi đến thỏa thuận ngày 19 tháng 6 năm 1965. Sau ngày 6 tháng 6 năm 1965, Hội đồng Quân lực được nhóm họp để bầu ra cơ cấu sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm điều khiển Quốc gia với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu là Tham mưu trưởng Liên quân làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Quốc Trưởng) Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là tư lệnh Không quân làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Thủ Tướng). Đồng thời các Tỉnh trưởng, Quận trưởng được lần lượt thay thế bằng các quân nhân, lấy tên là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Tỉnh hay Quận. Vì những lý do này chính quyền trung ương lấy ngày 19 tháng 6 làm ngày Quân Lực VNCH.
Những biến động chính trị tại Sài Gòn nói riêng, miền Nam nói chung từ năm 1963-1965, làm cho quân đội không dốc sức chống cộng. Bắc bộ phủ đã cho các Sư đoàn Chính quy Nam tiến. Và Tổng thống Hoa Kỳ L. Johnson đã quyết định đổ bộ các đơn vị Hoa Kỳ vào Việt Nam để ngăn chặn làn sóng đỏ của Quốc tế Cộng sản. Quân lực VNCH lúc đó còn thô sơ với vũ khí của Đệ nhị Thế chiến để lại như Garant, carbine và đại liên 30. So với cộng quân được trang bị hiện đại hơn: AK 47, B40, B41 và hoả tiễn đối đất, đối không. Nhưng Quân lực VNCH cũng giữ vững được bờ cõi. Để đối phó với Cộng quân, Thiếu tướng Bùi Đình Đạm được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha động viên Bộ Quốc phòng, thi hành lệnh Tổng động viên trước tình thế cấp bách của đất nước.
Năm 1966 là năm đầu tiên lấy ngày 19 tháng 6 làm ngày Quân lực VNCH. Cuộc diễn binh đầu tiên trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, mang lại niềm tin cho dân chúng về quân đội miền Nam.
Từ đó, duyệt binh hàng năm đến ngày 19 tháng 6 năm 1974 là lần cuối. Sang năm 1975 chỉ còn trong tưởng nhớ của Quân Dân miền Nam vì nền Đệ Nhị Cộng Hoà của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cho đến nay, ngày Quân lực VNCH 19 tháng 6 hàng năm vẫn được các cựu quân nhân trong Quân lực VNCH tổ chức tưởng niệm tại hải ngoại.
Hai mươi năm Quân sử của Quân lực VNCH có thể tóm tắt như sau:
Năm 1955, sau khi Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa, và Quân đội Quốc gia Việt Nam từ đó lấy tên là Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cùng năm 1955, Bộ Tổng tham mưu không còn trực thuộc hệ thống chỉ huy Pháp.
Năm 1956 Hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ.
Năm 1957 thành lập binh chủng Lực lượng Đặc biệt, huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan tại Đồng Đế.
Năm 1959, Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, II, III, IV được thành lập với vùng trách nhiệm như sau:
1. Quân đoàn I gồm các tỉnh miền Trung: Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi v.v…
2. Quân đoàn II gồm các tỉnh Cao nguyên, nam Trung phần: Kontum, Gia Lai, Bình Định v.v…
3. Quân đoàn III gồm các tỉnh miền Đông Nam phần: Tây Ninh, Bình Long, Định Tường, v.v… và Đặc khu Sài Gòn
4. Quân đoàn IV gồm các tỉnh miền Tây Nam phần: Hậu Giang, Phong Dinh, An Giang v.v…
Cùng năm 1959, các Sư đoàn khinh binh và dã chiến được tổ chức lại thành 7 sư đoàn bộ binh, gồm: Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn 2 BB, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 21, Sư đoàn 22, Sư đoàn 23. Quân số mỗi sư đoàn là 10,500 quân. Sau đó, Sư đoàn 9, Sư đoàn 18 và Sư đoàn 25 được thành lập. Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến tách ra khỏi Hải quân và trở thành lực lượng tổng trừ bị.
Năm 1960 binh chủng Biệt động quân (BĐQ) được thành lập với 50 đại đội và bắt đầu hoạt động sâu vào những vùng kiểm soát của Việt cộng.
Năm 1962, Liên đoàn Nhảy dù gồm các tiểu đoàn nhảy dù thời Pháp được phát triển thành Lữ đoàn Nhảy dù gồm 7 tiểu đoàn dù 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 8. Liên đoàn 31 LLĐB được thành lập.
Cùng năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp không đoàn tại mỗi quân đoàn, với các không đoàn sau: Không đoàn 41 (Đà Nẵng). Không đoàn 62 (Pleiku). Không đoàn 23 (Biên Hòa). Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất). Không đoàn 74 (Cần Thơ)
Năm 1965 Lữ đoàn Nhảy dù phát triển thành Sư đoàn Nhảy dù.
Năm 1970, quân số của Quân lực VNCH đã lên đến 1 triệu quân, được trang bị M-16, đại liên M-60 và súng phóng lựu M-79 (grenade launcher), súng cối hạng nặng ( heavy mortar).
Quân lực VNCH đã đụng độ với Cộng quân những trận nảy lửa còn trong Quân sử như: Trận Ấp Bắc (1963), Bình Giã (1964-1965), Pleime (1965), Mậu Thân (1968), Kampuchea (1970), Lam Sơn 719 (1971), Quảng Trị (1972), An Lộc (1972), Tống Lê Chân (1973), Thượng Đức (1973), Hoàng Sa (1974), Xuân Lộc (1975), Sài Gòn (1975).
Trong quân sử 20 năm của Quân lực VNCH, có 159 vị được phong cấp tướng, 1 thống tướng (truy phong) và 5 đại tướng: Thống tướng Lê Văn Tỵ (1903-1964), truy phong năm 1964, Đại tướng Trần Thiện Khiêm (phong năm 1964), Đại tướng Dương Văn Minh (phong năm 1964), Đại tướng Nguyễn Khánh (phong năm 1964), Đại tướng Cao Văn Viên (phong năm 1967)Đại tướng Đỗ Cao Trí (truy phong năm 1971).
Lực lượng tan hàng sau cùng của Quân lực VNCH là Liên đoàn 81 Biệt cách dù, dưới sự chỉ huy của chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách dù, Đại tá Phan Văn Huấn.
Sau năm 1975, hơn 200,000 quân nhân và nhân viên chính phủ VNCH bị bắt và giam giữ trong các trại cải tạo của Cộng sản.
Phan

Tin tức khác...