Ở không sinh tật…

Lúc còn đi học. Tôi có nghe ông thầy giảng giải câu, “nhàn cư vi bất thiện” trong giờ Hán văn. Nhưng khi ra trường, ra đời; đâu phải ai cũng biết câu ấy, người hiểu câu nói sâu xa ấy càng ít. Nên tôi cũng nói bình dân cho dễ hiểu như mọi người là “ở không sinh tật”. Thôi thì bình dân dễ sống, nhưng lúc này đi làm ít hơn ở nhà do tình hình dịch bệnh chinavirus. Thế là tôi cứ ngồi xem tivi, xem và nghe hết tin tức về dịch bệnh trên toàn cầu, bên Việt nam, ở nước Mỹ. Thời đại tin tức nhanh nên nghe một lát là… hết tin nổi đài nào! Thế là tôi trở thành một nhà thông thái theo đúng nghĩa: ở không sinh tật. Mà ngôn ngữ mạng bây giờ gọi lả những nhà thông thái online. Hiểu nôm na là không biết gì hết nhưng biết hết chuyện trên đời. Càng ngu xuẩn sâu hơn là cho ý kiến chứ không chịu âm thầm ngu cho thiên hạ nhờ.
Tôi lang thang trên mạng. Bỗng thích những đoạn phim ngắn về sông nước miền tây, thích những giề lục bình trôi từ khi tôi chưa ra đời. Rồi đời lục bình trôi của tôi bỗng ngậm ngùi khi thấy lục bình hãy còn trôi trên sông quê tôi như người thân vẫy gọi. Thật là nao lòng đứa con xa xứ với biết bao kỷ niệm hiện về cùng sông nước quê hương. Tôi đã xem nhiều đoạn phim ngắn nhưng tuyệt nhiên không thấy màu tím hoa lục bình; thậm chí những giề lục bình trôi bây giờ không xanh mướt và to lớn như xưa; chúng còi cọc, héo úa và tàn tạ.
So với đời sống người dân trên sông nước bây giờ cũng khác xưa nhiều. Ngày xưa, những mùa hè sau hoà bình chết tiệt. Tôi đi ghe thương hồ với mẹ con người bạn học về miền tây vì cha nó đã đi tù cải tạo. Chúng tôi mưu cầu một chuyến ra khơi cầu may chứ làm gì có mấy cây vàng để vượt biên như người khác. Nhưng vì thế mà biết vì thấy mẹ của bạn tôi mua ít mắm linh, cây trái, dừa khô, chuốn, khoai… rồi giong chiếc buồm tả tơi may bằng bao cát cũ của lính VNCH. Chúng tôi lênh đênh trên sông nước cả tuần mới về tới Vĩnh Long, là quê ngoại của bạn tôi. Đường về lại Sài gòn cũng thăm thẳm gió mưa, sóng nước vô tình; nhưng tình người dân quê còn trong như nước sông Tiền sông Hậu thuở ấy. Mẹ của bạn tôi không mua xong một ghe hàng ở Tam Bình, Vĩnh Long là về thẳng Sài gòn, mà chỉ đi chừng ngày đường, hơn ngày đường; bán được giá là bán tuốt hết. Rồi mua hàng mới và lại đi, lại bán khi được giá. Có thể nói là ghe, mẹ bạn tôi là người mua bán trên sông nước. Một người vợ sĩ quan, chỉ biết lo nội trợ trong nhà nhưng nước mất nhà tan cũng chưa đủ để trở thành một người mua bán giỏi. Mẹ bạn tôi trở nên giỏi giang phần lớn là nhờ những người quen, không quen trên sông nước hữu tình và lòng người nam bộ rộng lượng. Họ chỉ cho cách buôn chặng sẽ kiếm được khá hơn buôn chuyến. Khác với người bắc từng truyền miệng thành tục ngữ “cho vàng chứ không dẫn nàng đi buôn”. Nói vậy đủ rồi vì dù sao tôi cũng con nhà di cư. Nhưng tôi nhớ mãi cảnh chiều về trên sông, vài chiếc ghe thương hồ đều tìm chỗ đậu để ngủ, và ai cũng muốn có chòm xóm cho đỡ buồn đêm trăng suông, đêm mưa giầm không ngớt mà tứ bề mênh mông nước. Nên vài cái ghe thương hồ tụ lại với nhau, có quen biết trước thì như bà con gặp lại; không quen biết cũng coi như người thân qua tiếng hỏi câu chào, mời nhau bất cứ thứ gì có trên ghe mình mà thành những bữa cơm chiều không thể nào quên hương vị sông nước, tình đồng bào với những người dưng chỉ gặp nhau một lần trong đời nhưng lại là người thân trong nỗi nhớ dài lâu…

Giờ còn đó sông quen, nước cũ, nhưng người xưa không còn nữa trong hối hả đời thường của người dân sông nước bây giờ. Ghe xuồng bây giờ không còn những cánh buồm tả tơi bằng bao cát của lính ngày xưa; chiếc xuồng ba lá vẫn còn nhưng hiếm như đồ cổ vì rất ít thấy. Thay cho phương tiện phổ biến ấy ở miền tây bây giờ là những chiếc xuồng bằnh nhựa tổng hợp nên có độ cứng để chuyên chở nhưng vẫn giữ được độ dẻo của nhựa khi đụng chạm, xuồng được gắn động cơ các loại từ lớn tới nhỏ để chạy chân vịt nên xuồng chạy rất nhanh, và tên gọi là võ lãi. Tôi còn nhớ những chiếc ghe dài sọc, ốm nhách ở Rạch Sỏi chạy vào Minh Lương, xuống miệt Thứ ngày xưa, gọi là tắc ráng. Chắc là tiền thân của chiếc võ lãi bây giờ. Những chiếc tắc ráng rẽ sóng trên sông rạch miền tây, những người lái đò dễ thương mà hết đời tôi cũng không trả hết được ơn nghĩa với chú Tư, cậu Ba, dì Bảy… trong những chuyến vượt biên kinh hoàng đến mấy mươi năm sau tôi còn toát mồ hôi khi nằm mơ.
Nhưng tắc ráng ngày xưa, từ người cầm lái tới khách sang sông đều không quá hối hả như bây giờ; người miền tây xưa không đi qua nhau lạnh lùng như bây giờ! Một chị ve chai với chiếc võ lãi như chiếc lá trên dòng nước cuồn cuộn ra biển ở cống mười cửa thuộc Trà Vinh. Chị vượt cống ba lần không được vì xuồng nhỏ, máy yếu quá thì làm sao bơi trên dòng nước ngược. Xuồng chị cứ trôi dạt ra phía biển, phía rất nhiều tàu lớn xuồng to đang tranh nhau qua cống ngăn mặn để vô sông. Người đàn bà nghèo không bằng tội nghiệp trước sóng gió cuộc đời; cuộc đời tội nghiệp không bằng tình người sông nước miền tây đã hanh hao. Người ta bỏ mặc chị trôi ra biển…

Tôi theo dõi tiếp để hiểu biết vào hôm sau. Khi cống mở thì phải đợi cửa cống chìm sâu xuống nước thì ghe xuồng mới được qua. Nhưng mực nước trong sông cao hơn mực nước biển bên ngoài cống tới cả mét thì xuồng chị không thể vượt nước ngược với sức nước rất mạnh ấy… Nên vào hôm sau, khi cửa cống mới hạ xuống khỏi mặt nước sông vài gang tay, sức nước chưa mạnh, công an đường sông và cả bộ đội biên phòng chưa phất cờ cho qua thì chị liều mình vượt trạm trong tiếng còi inh ỏi của công an đường sông và bộ đội biên phòng. Tôi nhẩm tính xót xa trong lòng cho chị. Với cái xuồng như chiếc lá diêu bông, trên xuồng chỉ có một bao lon nước ngọt, lon bia bằng nhôm; vài bao nhựa là chai nước lọc… chị bán được bao nhiêu tiền? Có đủ cho chị đổ xăng, mua thức ăn ở ngoài cửa cống từ hôm qua vì hôm qua chị không qua được thì phải đợi hôm nay, mỗi ngày cống chỉ mở một lần, mỗi lần chỉ một tiếng đồng hồ cho ghe xuồng ngoài biển vào sông và ngược lại. Tôi nhớ phía trong sông có cái ca nô của anh công an đường sông. Khi ghe xuồng nào chạy quá ẩu, không chấp hành luật thì viên công an đứng trên miệng cống sẽ đọc to số ghe vi phạm luật giao thông qua cống cho viên công an đường sông lái ca nô chận bắt, và ghi giấy phạt. Vâỵ làm sao chị ve chai này có đủ tiền để nộp phạt. Không nộp phạt thì bị giam ghe. Hệ lụy tiếp diễn chứ hệ lụy không ngắn gọn bao giờ! Rồi chị làm sao để về nhà sau khi bị giam ghe? Chị mượn được tiền ai để đi đóng phạt mà chuộc lại phương tiện làm ăn của chị? Ngay khi chị quá giang ai đó để về được nhà sau hai ngày ngoài cống thì con cái chị có gì để ăn không?…

Ôi biết bao thương khó của chị ve chai nghèo đọng trong ánh mắt người công an lái ca nô. Anh nhìn mảnh đời tả tơi như lục bình của chị nên phất cờ cho chị đi luôn đi, chứ không chận lại ghi giấy phạt. Vì anh dư biết và nhớ chị đã hai ngày không qua được cống để đến vựa ve chai.
Thương khó lắm bạn ạ! Hai vợ chồng nọ buôn bán nhỏ trên chiếc xuồng con gọi là võ lãi. Cổng ngăn mặn chỉ mở một tiếng đồng hồ mỗi ngày cho xuồng ghe qua lại thì cuộc tranh sống ở những cổng ngăn mặn ở miền tây bây giờ rất khốc liệt! Họ làm sao chen lấn lại ghe lớn, xuồng to, nước mạnh để vào sông. Nên chiếc xà lan nọ nhậm chìm một gia tài, hai mạng người may mắn không chết hay nợ nghiệp còn dày nên không chết được. Người chồng cố vớt vát chút tài sản trong chiếc túi ny-lon, nhưng rồi ông cũng đành buông tay để cứu vợ. Họ trôi theo sức nước ra ngoài vàm. Chiếc ghe hèn mọn nào đó, không đủ sức qua cống nên lởn vởn như hồn ma bóng quế ngoài vàm đã cứu vớt họ. Bên người nghèo luôn có những người nghèo hơn mình để sẵn sàng ra tay cứu đỡ nhau. Với những người giàu có cũng luôn có những người giàu có hơn để có xuồng ghe to lớn hơn, máy mạnh hơn để tranh nhau qua cống cho kịp phiên chợ bạc.
Đôi vợ chồng khác cũng xuồng con mà gánh nhà chắc nặng nên họ điên cuồng trong rừng ghe xuồng to máy lớn tranh nhau qua cống. Họ bị chiếc ghe bầu to cán lên chiếc xuồng con của họ mà hai vợ chồng lái ghe bầu không hề biết vì ghe họ to lại cao, còn chiếc xuồng con như khóm lục bình thì làm sao thấy! Chiếc ghe bầu to lớn cán qua chiếc tắc ráng như xe tải 18 bánh cán qua chiếc xe đạp thì còn gì? Người chồng cũng cố vớt vát chút gia tài trôi nhanh trên dòng nước chảy siết, nhưng rồi cũng đành buông tay để cứu vợ. Hình ảnh chị đã ám ảnh tôi tới bây giờ. Gương mặt chị không thể sợ hãi hơn vì chiếc ghe bầu quá lớn đã cán qua người chị, cuốn chị vào đáy ghe. Nhưng sóng xô chị ra, chị ôm cái thùng mốp đựng nước đá vì không biết bơi. Nước thổi chị xuôi theo mạn ghe mới rùng rợn. Mái tóc dài của chị chỉ còn cách chân vịt chiếc ghe to không đầy sải tay, chân vịt to lớn ấy lại đang chạy hết sức để qua cống ngược nước… Tôi nhắm mắt lại vì không dám xem cảnh chân vịt níu tóc chị vô… một vũng nước đỏ nhỏ nhoi trên dòng sống bao la và khắc nghiệt.

Nhưng thủy thần đã cứu chị. Người thủy thủ trên chiếc xà lan bên cạnh chiếc ghe bầu to lớn đã thấy chị và hét lên cho vợ chồng đang lái ghe bầu biết. Họ không nghe được gì đâu trong tiếng ồn của hàng trăm, hơn trăm ghe tàu hụ máy hết cỡ để qua cổng nước ngược. Thủy thần đã giở chân vịt chiếc ghe bầu lên trước cả người cầm lái biết chuyện gì đã xảy ra…
Thế là cả gia tài của hai vợ chồng nghèo trôi theo dòng nước lũ ra vàm, ra biển. Họ chỉ còn nỗi sợ hãi là tài sản của thần dân nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Họ trôi miết ra vàm trong sự hờ hững đến lạnh lùng của biết bao nhiêu tàu ghe đang tranh nhau về phía trước để qua cống thì mới vào sông được, mới vào chợ được để mua bán. Đâu ai muốn kẹt lại ngoài vàm tới ngày mai cho thêm chi phí, hàng hoá lại hư hao, hết tươi thì bán cho ai. Sự sống làm cho người ta không thể, bó tay trước cái chết của người khác. Nhưng tôi tự hỏi những người đã làm lơ anh chị trong hoạn nạn chết người vì chị vợ không biết bơi và anh chồng ốm như chàng hiu thế kia thì cưu mang sao nổi vợ trong dòng nước siết… Những người thấy chết không cứu có ăn năn, hối hận gì không khi hay tin anh chị ấy chết rồi? Những chiếc ghe có nhiều hoa trái và bình nhang to, là để hối lộ thần linh cho họ làm ăn suông sẻ, chứ những người thấy chết không cứu thì làm gì có lương tâm hay áy náy, ăn năn…

Sự thiện lương, lòng nhân ái, bao dung của người nam bộ đã mai một đi đâu? Tôi đã mường tượng ra câu trả lời. Nhưng mắt vẫn theo dõi anh chị nọ trôi vào lãnh cảm của tình người nam bộ bây giờ. Người chồng cố dìu người vợ tắp vào cái tàu kéo đang đợi khách. Mấy người trên tàu kéo tiếp khách không mời một cách bất đắc dĩ vì tang thương đã chạm được tới đáy nhân từ còn xót lại trong họ. Họ lôi lên, cho ngồi đỡ trên sàn tàu của họ. Họ còn bận hóng khách là những ghe thuyền qua cống không nổi, ra hiệu cho họ là họ phóng tới kéo ngay. Họ còn phải sống nên tranh giành với những tàu kéo khác. Họ thông cảm đến đây đã là quá sức của tình người bây giờ trên sông nước miền nam.
Chừng mười lăm phút sau, chiếc ca nô của anh công an đường sông đến chỗ tàu kéo cho hai vợ chồng bị nạn tạm nghỉ ngơi. Công an bốc họ vô bờ. Chị vợ còn sợ hãi xanh mặt, thất thần, và chắc là lạnh lắm… Anh công an đường sông quấn cho chị cái mền hay cái áo mưa gì đó. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy thương người công an đường sông ở Trà Vinh vì anh còn chút tình người nên tha phạt chị ve chai, anh cho chị chìm xuồng tấm quấn thân như một chia sẻ với đồng bào trong hoàn cảnh nhà nước còn khó khăn bởi tham nhũng, tham ô. Cả cái cống to bằng con sông nên phải chia ra tới mười cửa, hàng ngàn tàu ghe qua lại mỗi ngày. Thế mà lực lượng giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ người dân chỉ vỏn vẹn có ba người – một anh công an đường sông, một anh bộ đội biên phòng đứng trên miệng cống để điều khiển giao thông bằng loa phóng thanh. Các anh làm việc rất nghiêm túc, nhưng ý thức người dân quá tệ. Họ thừa biết hai người đứng trên miệng cống thì chẳng làm gì được họ. Còn người dưới ca nô… cũng chẳng làm được gì luôn vì làm sao luồn lách qua được tàu ghe hàng ngàn chiếc nối đuôi nhau để đuổi bắt và phạt vạ họ được. Họ thả cửa thi thố văn hoá chen lấn xã hội chủ nghĩa.

Trường hợp thứ ba, cũng là truờng hợp làm tôi tắt tivi luôn vì một ông già, lái chiếc võ lãi nhỏ và cũ kỹ. Ông trong sông đi ra vàm, nhưng chen lấn sao lại với mấy chiếc tàu ghe lớn ngoài vàm đang rú hết ga để qua cống, vào sông. Gặp nhau lần cuối ngay miệng cống. Chiếc võ lãi của ông lật úp. Tài sản của ông là những thùng xô rổ rá cứ tha hồ tuôn ra biển mẹ. Chiếc xuồng lật úp cũng tả tơi với tàu ghe tranh nhau qua cống một hồi mới thoát theo dòng nước siết mà ra biển. Điều đặc biệt nhất là không ai thấy ông đâu! Tàu ghe lo tranh nhau qua cống nên không có thời giờ cho người xấu số. Những người quay phim trên miệng cống còn mải quay phim để post lên youtube kiếm tiền. Họ cũng không rảnh để xem ông già đâu?
Những chiếc ghe thuộc hàng đi lượm ve chai trên sông, họ vớt được gì vớt thuộc tài sản của ông già quá vãng. Chiếc xuồng con của ông thuộc về một người, chắc là nghèo nhất trên sông. Nhưng người này vớt được mới biết là không xài được nữa. Người này thả trôi ra biển cái xác xuồng đã tả tơi trong cuộc giành sống ở miệng cống.
Chiếc ca nô của anh công an đường sông ra được tới vàm thì xác xuồng của ông già đã ra biển, ông đã lên thiên đàng. Anh công an nhấn ga, chạy ra biển kiếm ông già, là hình ảnh đẹp vô vọng nhất.
Rất buồn khi thấy một người từ giã cõi đời như ông già xấu số này bạn ạ! Nhưng ở không sinh tật tôi đi tìm nguyên do? Thời tôi lênh đênh trên sông nước miền tây thì chưa có cống ngăn mặn như bây giờ vì khi ấy Trung cộng còn nghèo, cái ăn họ còn bị đói rã họng thì chưa lộ cái ác ra được. Nhưng mấy đời tồng thống Mỹ ngu si, đã mắt nhắm mắt mở với Trung cộng nên mới có hôm nay. Họ ám toán toàn cầu để làm vua 8 tỷ cái đầu lâu. Trí tuệ Trung cộng là văn hoá Trung quốc cộng sản chứ không phải Trung Hoa như chúng ta biết! Với dòng Mekong bắt nguồn từ Tây tạng. Dòng sông đã nuôi sống 60 triện người sống ven sông từ Tây tạng, Trung quốc, Miến điện, Lào. Thái Lan, Campu, Việt nam. Giờ họ đã xây 11 con đập thủy điện trên sông Mekong trong kế hoạch xây 20 con đập trên sông Mekong chảy qua Trung quốc. Họ đang xây con đập thứ 12, và sẽ tiếp tục xây đủ 20 con đập. Họ sang xây đập cho Lào như anh cả giúp em út. Lào thì ngu mà Campu với Việt nam thì tiếng kêu không có âm vang.
Họ làm vậy để làm gì?


Để họ khống chế nguồn nước ngọt của sông Mekong là sinh kế của các nước hạ lưu sông. Nước Tàu vừa có điện, vừa phát triển nông nghiệp thặng dư. Trong khi các nước dưới hạ lưu như Campu, Việt nam sẽ bị nhiễm mặn do nước biển tràn vào dòng Mekong thiếu nước chảy ra biển. Các nước dưới hạ lưu sông không trồng lúa được nữa thì trồng lau, sậy xuất khẩu sang Trung quốc chế biến thành hàng hoá bán qua tây phương. Tàu giàu to. Các nước hạ lưu sông Mekong thiếu lương thực thì mua lúa gạo của Tàu. Tàu giàu thêm. Vừa giàu vừa khống chế được các nước dưới hạ lưu sông Mekong.
Sự nham hiểm và độc ác của người Tàu thì ai cũng đã biết! Nhưng chống đỡ của Việt nam là ngăn hết những con sông giáp biển để hạn chế nước biển tràn vào khi nước sông Mekong bị cạn kiệt do Trung cộng ma đầu. Tôi hỏi thăm bên Việt nam, sao không xả cống mười cửa để áp lực nước bớt siết cho tàu ghe qua lại dễ dàng hơn, mở mười cửa thì tàu ghe bớt tranh giành cũng bớt những tai nạn thương tâm…
Câu trả lời cho đứa con xa xứ là mỗi ngày mở một miệng cống thôi – dù có mười, và mở một giờ đồng hồ thôi dù ngày có 24 tiếng… vì không mở thì nền kinh tế, thương mại của miền tây sông nước sẽ ra làm sao? Nhưng mở hơn một tiếng đồng hồ thì nước ngọt chảy ra biển hết! Cây lúa, cây cam ở miền tây sẽ ra làm sao?

Tôi cũng không biết phải làm sao với một Trung cộng bá đạo, và nhà cầm quyền trong nước thì quá yếu hèn đến mức chỉ dám gọi tên tàu cá Trung cộng là tàu lạ… đã đâm chìm tàu ta; người Trung cộng bá đạo trên đất Việt thì gọi là người nước ngoài… đã có hành vi thiếu thân thiện vì không hiểu văn hoá Việt nam.
Vậy sự biến dị văn hoá hào sảng, phóng khoáng, bao dung của người nam bộ thành những con người lạnh lùng với đồng bào, dửng dưng trước cái chết của người khác, ứng xử không hơn một câu chửi thề thay lời chào hỏi như xưa. Những chiếc lá lành bây giờ đùm những chiếc lá lành hơn để mưu cầu. Những chiếc lá rách đùm lá nát trên miền nam vốn dĩ thế nào mà bây giờ nông nỗi tới đau lòng một tên rách việc, kẻ ở không sinh tật mùa dịch nhìn về cố hương…

Phan

Tin tức khác...