Những chuyện lấy vợ lấy chồng đặc biệt

Hai anh em sinh đôi lấy 2 chị em sinh đôi

Đoàn Dự ghi chép

 

Hai anh em sinh đôi lấy hai chị em sinh đôi

Ngày 11/6/2016, dân chúng ở vùng sông nước xã Lâm Hải (huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) rất thích thú trước đám cưới của hai cặp sinh đôi. Ngoài khách mời còn có rất đông dân chúng tò mò đến xem cái đám cưới đặc biệt ít khi diễn ra này.

Chú rể (người anh) là Châu Diễm Kỳ, người em là Châu Diễm Phong, cả hai đều 22 tuổi. Còn hai cô dâu (người chị) là Lê Ngọc Huyền, người em là Lê Huyền Trân, 18 tuổi.

Người ta nói chuyện với nhau về sự liên hệ kỳ lạ của các cặp sinh đôi. Từ nhỏ tới lớn, Kỳ và Phong luôn thân thiết với nhau như hình với bóng, trùng hợp kỳ lạ đến mức đều cùng mập lên khi khỏe mạnh hoặc cùng ốm đi khi đau yếu. Lạ lùng là cả hai đều yêu hai chị em sinh đôi, người anh yêu cô chị, người em yêu cô em mặc dầu hai cô này giống nhau như đúc, người ngoài khó phân biệt được họ.

Tuy nhiên, những người trong cuộc nhận ra dễ dàng. Chú rể tên Kỳ cho biết vợ mình (cô dâu tên Lê Ngọc Huyền) có gương mặt tròn, còn em trai mình (tên Phong) thì cô dâu tên Lê Huyền Trân  mặt hơi dài hơn và hơi cao hơn chút đỉnh.

Hai cặp uyên ương quen nhau từ 2 năm trước qua sự giới thiệu của người bác họ. Cách đây nửa năm, cha của hai chú rể thăm gia đình của hai cô gái và xúc tiến việc cho hai đôi trẻ kết hợp với nhau. Cô dâu Ngọc Huyền nói: “Trước đây tụi tui cứ nghĩ vẩn vơ không biết sau này lấy chồng như thế nào, đứa nào lấy trước, đứa nào lấy sau, lỡ một ông mà thương “lầm” hai đứa với nhau thì sao? Bây giờ lấy hai anh em cũng sanh đôi giống nhau, chúng tôi thấy tức cười mà cũng nghĩ thiệt may mắn, có lẽ đó là do duyên trời đã định như vậy”.

Coi chừng “lộn” thì rất nguy hiểm!

Hai anh em Kỳ và Phong đang làm việc trong trại nuôi tôm giống của gia đình mình. Do công việc bận rộn nên suốt thời gian trước hôn nhân hai anh em chỉ đi chơi với hai chị em Huyền và Trân được vài lần. Kỳ vui vẻ kể: “Chỉ có một lần đi chơi là tui bị lầm thôi. Nhìn từ phía sau em Trân tui lại tưởng là Huyền, đến lúc kêu tên mới biết. Từ đó thì không bao giờ tui lầm nữa”.

Ông Tính (51 tuổi), ba của hai chú rể, cho biết hiện ông cũng chưa hiểu hai cô con dâu giống hệt nhau, hai chú rể cũng giống hệt nhau, vậy khi sanh ra các cháu có giống nhau hay không, điều này ông chưa nghe ai nói bao giờ cả.

Rước dâu bằng … 8 chiếc máy cày ở Nghệ An.

Chú rể Lê Bá Lương và bạn bè thân thiết tự lái 8 chiếc máy cày đến nhà gái rước dâu.

Chú rể Lê Bá Lương và cô dâu Nguyễn Thị Thảo Vân, Nghệ An

Đám cưới diễn ra vào ngày 22/12/2016, tại xóm Ấp Bổng, xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong không khí vui vẻ, chú rể tên Lê Bá Lương và các bạn bè thân thiết đã tự tay lái 8 chiếc máy cày đến rước cô dâu Nguyễn Thị Thảo Vân về “dinh”.

Chiếc máy cày đi đầu được trang trí đơn giản với những trái bóng bay và hoa tươi. Đặc biệt, đích thân chú rể cầm lái dẫn “phái đoàn” họ nhà trai đến xin rước dâu.

Người bạn tên Tuấn cho biết: “Do thời tiết gần đây mưa nhiều khiến đường lầy lội, xe cộ đi lại khó khăn nên rước dâu bằng máy cày là tốt nhất mà lại có vẻ… chịu chơi nữa. Mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ” .

Chú rể và bạn bè lái 8 chiếc máy cày đi đón dâu

Hôn lễ độc đáo của Bá Lương & Thảo Vân thu hút sự quan tâm của bà con trong xã. Chị Ánh Ngọc – người dân sống ở Nghĩa Lộc – chia sẻ: “Tại xứ Nghệ, rước dâu bằng máy cày rất tiện vì đây là chiếc máy rất gần gũi, thân thuộc với bà con. Rước dâu vừa giản dị vừa đỡ tốn kém nhưng lại có vẻ sáng tạo và đầy chân thành của hai kẻ yêu nhau, trông cô dâu tươi cười như hoa còn cha mẹ cô dâu thì rất cưng và bằng lòng với “sáng kiến” của chú rể!”.

 

Rước dâu bằng xe Cub

Trần Minh Toàn cho biết anh và Thanh iềnHie62nH Hiền quen nhau nhờ cùng sinh hoạt trong Câu lạc bộ Vietnam Cub Club. Trải qua 3 năm yêu thương, họ chính thức nên duyên vợ chồng vào ngày 21/11/2016 vừa qua.

Màn rước dâu độc đáo của Minh Toàn – Thanh Hiền nhận được sự cổ võ từ rất nhiều thành viên. Bạn bè cô dâu chú rể đã “hộ tống” họ bằng hàng chục chiếc xe Cub.

Cô dâu chú rể dẩn đường (hình bên trái). Bạn bè tháp tùng (hình phải).

Minh Toàn chia sẻ: “Mối tình của chúng tôi gắn liền với xe Cub và Câu lạc bộ. Bởi vậy trong ngày trọng đại nhất đời mình, tôi cùng bà xã mong muốn được đồng hành với các anh chị em thân thiết trong Câu lạc bộ”.

Theo chú rể, việc cùng người mình yêu rong ruổi trên chiếc xe máy đến những vùng đất mới là trải nghiệm thú vị. Nhờ vậy, cặp đôi càng hiểu và gắn bó nhau hơn.

Chuyện “cướp vợ” ở Sơn La

Núi rừng hoang vắng ở huyện miền cao Phù Yên tỉnh Sơn La bỗng vang lên tiếng kêu thét hãi hùng của một cô gái bị mấy gã thanh niên kéo lê trên con đường đất đỏ. Tiếng kêu đó báo hiệu mùa cướp vợ đã bắt đầu…

Những mảnh đời bị đánh cắp

Mùa cướp vợ ở Sơn La bắt đầu từ tháng 11 âm lịch theo tục của người Hơ Mông. Những thầy cô giáo của trường Kim Bon rất sợ mùa này, bởi vì do nó mà nhiều học sinh nữ sẽ chẳng bao giờ còn được quay trở lại lớp học nữa và những học sinh nam bỗng dưng có vợ lúc mới 12, 13 tuổi.

Các cô gái này có thể bị bắt bất cứ lúc nào

Tại sao vậy? Thầy giáo Đinh Văn Thìn thở dài giải thích: “Cướp vợ” là một tục lệ lâu đời của đồng bào dân tộc Hơ Mông, thường diễn ra vào mùa xuân. Chàng trai Mông đến chợ, nếu bắt gặp một cô gái và cảm thấy “ưng cái bụng”, bèn quay về rủ thêm mấy đứa bạn trong bản, đi tìm bắt cô gái. Nếu hai người đã có tình ý từ trước thì sự việc diễn ra rất đơn giản. Cô gái sau một hồi làm bộ chống cự lấy lệ, sẽ để chàng trai đưa về nhà… sống thử. Vài ngày sau chàng sẽ đưa cô gái trở về nhà bố mẹ đẻ của cô để làm các nghi thức cưới hỏi theo truyền thống.

Nhưng từ lâu phong tục này đã bị biến dạng. Chỉ vì muốn có thêm người ăn người làm, bất chấp con mình còn ít tuổi, nhiều gia đình người Mông đã tổ chức đi “cướp” con gái nhà người ta đem về cho con trai mình làm vợ một cách đầy vũ lực chứ không còn mang tính chất thủ tục để hợp thức hóa cái “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Một khi cô gái đã bị bắt đi, khó lòng quay trở lại được nữa vì theo tục lệ của người Mông, đã ở nhà trai một đêm thì không được phép trở về nhà cha mẹ ruột. Sau 3 ngày, nhà trai mới cử người đến nhà gái thông báo chính thức về chuyện “bắt vợ”.

Thầy Thìn và nhiều giáo viên trường Kim Bon đã không ít lần rơi nước mắt khi sáng ra thấy những chỗ ngồi trong lớp học vắng đi những nữ sinh. Ngày kia, ngày kia nữa, nữ sinh chẳng đến lớp… Ai cũng hiểu em đã bị “cướp”. Những tiếng kêu thét hãi hùng của nữ sinh người Mông bị “cướp” cứ ám ảnh các thầy cô giáo và cả học sinh trường Kim Bon.

Cách đây chưa lâu, một cô bé mới học lớp 5, trên đường tới trường đã bị những gã thanh niên mật phục bắt đi, đưa về nhà trai, nhốt vào buồng kín. Cô bé khóc thét. Nhưng tiếng khóc thảm thiết chỉ vọng vào vách núi và dội lại.

Nhà trường biết chuyện, đến vận động nhà trai nhà gái hãy để cho cô bé được tiếp tục đến trường. Nhà trai lắc đầu, nhưng ngay cả bố mẹ cô bé cũng chẳng phản đối việc con mình bị “cướp”.

Sau vài ngày bị nhốt trong buồng kín, cô bé lớp 5 đã trở thành vợ của một cậu bé mới 13 tuổi với một đám cưới đơn giản. Cô giáo chủ nhiệm cảm thấy phẫn uất nhưng bất lực, chỉ còn biết gạt nước mắt thương xót cho đứa học trò đã trở thành vợ người ta mà trên tay vẫn còn vương màu mực tím. Cô thấy rõ viễn cảnh rồi đây đứa học trò thân yêu ấy sẽ phải làm việc quần quật, tối tăm mặt mũi, chẳng bao giờ còn có thể nhảy lò cò, chơi với chúng bạn dưới ánh nắng sân trường.

Cô Hoàng Thị Thư – hiệu trưởng trường Kim Bon tâm sự: “Cứ mỗi năm gần tết đến, xuân về, thì nhiều lớp học lại vắng đi một số nữ sinh. Nạn tảo hôn và tục cướp vợ tồn tại ở đồng bào người Mông đã lấy đi những nữ sinh đang tuổi đến trường và còn quá sớm để lập gia đình. Khi chúng tôi đi vận động phụ huynh cho con em họ được đi học tiếp, họ thường lý luận: “Học làm gì cho tốn ngô (bắp), tốn công. Học rồi cũng đi lấy chồng thôi”. Họ vẫn chưa thể thay đổi nếp nghĩ lạc hậu của mình”.

Một cô gái đang bị bắt.

 

Giàng Thị Mẩy – má đỏ hồng, gương mặt ngây thơ, xinh xắn – trở nên thảng thốt khi được hỏi: “Em muốn học lên nữa hay ở nhà lấy chồng?”. Mẩy ấp úng mãi mới nói được: “Em muốn học lên nữa để làm cô giáo, nhưng em sợ bị cướp đi lấy chồng. Em sợ lắm”.

Mẩy vẫn chưa quên ký ức kinh hoàng: Chị gái mình, lúc đó mới học lớp 4 (tức chỉ chừng 9 – 10 tuổi), cũng ở trường này, bị 3 gã thanh niên to khỏe lôi đi xềnh xệch giữa một ngày đầy gió lạnh cuối đông. Bàn tay nhỏ bé của chị nắm được một nắm cây xấu hổ (cây mắc cở) bên đường. Chị nắm chắc đến nỗi cụm cây bật cả rễ. Bàn tay chị bị gai đâm tứa máu. Chị kêu thét lên, Mẩy cũng kêu thét lên cầu cứu. Nhưng rồi Mẩy đành bịt chặt miệng, đứng nhìn, sợ nếu hét nữa chúng sẽ bắt luôn về nhà làm vợ chúng. Mẩy thấy chị mình hai bàn tay loang máu, bị lôi đi khuất dần sau núi. Đó là hình ảnh cuối cùng về người chị khốn khổ của Mẩy.

Cha mẹ Mẩy đón nhận tin này một cách bình thản. Họ biết con gái mình sắp làm vợ. Sự bình thản đó khiến Mẩy sợ hãi.

Những nữ sinh người Mông ở thế kỷ 21 rồi mà vẫn có thể bị những gã thanh niên xa lạ cướp về làm vợ ngay giữa ban ngày mà dường như chẳng ai bênh vực họ. Nhà nước CSVN đã ra sắc luật không được dùng võ lực “bắt vợ”, nhưng chính quyền địa phương vẫn lờ đi bởi vì họ cho rằng đó là tục lệ thâm căn cố đế của dân chúng H’Mông, một thứ tục lệ xấu xa cần phải bãi bỏ.

Những cậu học trò có vợ

Khi những cô gái bị cướp làm vợ thì tất nhiên sẽ có những gã thanh niên Hơ Mông trở thành chú rể. Nhưng nhiều “chú rể” chỉ là những đứa con nít. Một trong những “chú rể” đó ở trường Kim Bon: Vàng A Chung – 12 tuổi – đang chơi với chúng bạn thì được thầy giáo gọi lên văn phòng để nhà báo phỏng vấn (có sự hiện diện của thầy).

Cậu học trò vừa cưới vợ này trông mặt mũi còn non choẹt so với tuổi 12 của cậu. Cậu ở thôn Suối On, đã cùng mấy đứa thanh niên cao lớn khỏe mạnh trong xóm đi cướp Mùa Thị Phăng 17 tuổi. Sau khi cướp Mùa Thị Phăng về, chỉ mấy ngày sau Vàng A Chung đã trở thành “chồng” của cô gái hơn mình 5 tuổi đó.

Cậu bé Vàng A Chung 12 tuổi đã bắt vợ

 

A Chung thành thật kể, do thầy giáo thông dich: “Trước khi cưới vợ, em không biết mặt vợ. Cha mẹ em nhắm cho em từ trước rồi. Ngày cưới em còn chơi quay (đánh đu) mệt, mẹ phải gọi về mặc quần áo mới. Cưới vợ xong, vợ làm nương, làm hết việc nhà còn em thì vẫn đi học”.

Đường từ nhà tới trường xa 11 km, toàn núi cao, suối sâu nên A Chung ở nội trú, cuối tuần mới về thăm vợ. Gặp vợ cũng chỉ nói dăm ba câu, đêm về ngủ cùng chỗ nhưng một lúc đã ngáy o o. Tuy nhỏ song A Chung đã biết uống rượu ngô và khi say, người chồng 12 tuổi này sẽ cho mình cái quyền hạch sách người vợ 17 tuổi mới cưới. Phận vợ 17 tuổi phải ngoan ngoãn phục tùng.

Vàng A Chung không ngượng về chuyện mình cưới vợ sớm, vì trong lớp và hầu hết các lớp khác ở trường này cũng có nhiều học sinh lấy vợ nên trở thành rất bình thường. Số học sinh có vợ ở trường Kim Bon cũng chẳng phải cá biệt gì, thầy giáo, cô giáo đành xem như chuyện bình thường và đành tự an ủi: thôi, có vợ mà chúng chịu đi học cũng là tốt rồi.

Tuy vậy, những học sinh đã “yên bề gia thất” như Vàng A Chung thường chơi với nhau thành một nhóm và nụ cười của chúng chẳng còn hồn nhiên nữa. Cuộc đời các cậu thường giống nhau: Lấy vợ quá sớm, sinh một đàn con, cuộc sống chìm khuất trong gánh nặng mưu sinh trên những nương rẫy khô cằn ở dưới chân núi.

“Sau này có con, em có muốn cho con lấy vợ sớm như mình hay không?”. Vàng A Chung trả lời một câu khiến cả thầy giáo lẫn phóng viên đều rất ngạc nhiên: “Không bao giờ. Em muốn con mình đi học lên cao để không phải cực nhọc cuốc rẫy, làm nương như em nữa”.

Chuyện “cưới chồng” của phụ nữ K’ho

Người K’ho vùng chân núi Lang Biang tại Lâm Đồng Đà Lạt theo mẫu hệ. Phụ nữ luôn là trụ cột chính trong gia đình và quyết định mọi vấn đề hệ trọng. Con cái sinh ra theo họ mẹ. Ngay cả trong hôn nhân, phái nữ cũng là người chủ động, đi cưới chồng về nhà để có người làm những công việc nặng nhọc. (Không thể nói là chồng “nâng khăn sửa túi” cho vợ được, bởi vì cả nam lẫn nữ K’ho thường ngày ăn mặc rất… trống trải).

Cuộc đấu trí trong đám hỏi

Đến tuổi cập kê, người con gái bắt đầu làm đẹp, chỉnh trang thân hình, trang phục khi có lễ hội và đi chơi cùng các bạn trai gái trong buôn. Sau một vài lần hẹn hò ở bờ này bụi nọ, nếu đã ưng bụng một chàng nào đó, cô gái sẽ chủ động xin cha mẹ đến nhà người mình yêu đặt vấn đề cưới chồng (gọi là “bắt chồng”) dù cô gái đó có thể chỉ mới ở tuổi 14-15.

Trong lễ gặp mặt hai gia đình, bắt buộc phải có bà mối. Người này sẽ đứng ra chỉ dẫn các nghi thức, tạo thành chiếc cầu nối giữa hai gia đình đôi bên.

Thủ tục ăn hỏi của người K’ho rất đơn giản, chỉ cần một chiếc vòng đồng đeo tay và một dây “nhòng” bằng đồng hay bằng bạc. Lễ ăn hỏi thường bắt đầu vào lúc 17 giờ khi mặt trời đã khuất dưới dãy núi Langbiang. Lúc này tất cả những thành viên trong gia đình nhà trai ở trên rẫy đã trở về nhà, mọi công việc trong ngày đã hoàn tất. Khi đã có mặt đầy đủ các thành viên trong nhà trai, bà mối bắt đầu đặt vấn đề xin bắt chàng trai về ở rể bên nhà gái và đeo dây “nhòng” (giống như xâu chuỗi bằng bạc, nghèo thì bằng đống) vào cổ chàng trai.

Thông thường, phía nhà trai sẽ “làm cao”, từ chối việc xin bắt chồng của phía nhà gái bằng cách trả lời: “Con trai tôi còn nhỏ, đang ăn bám bố mẹ, chưa có kinh nghiệm trong gia đình. Anh chị thông cảm”.

Không như nhiều dân tộc khác, khi bị từ chối lời cầu hôn sẽ tự ái bỏ về, không còn thiết tha cầu hôn cho con mình nữa. Nhưng với người K’ho, việc cầu hôn thực chất là cuộc đấu trí giữa bà mối đại diện nhà gái (phía bên đi cầu hôn) với bên nhà trai (phía bên làm cao), bên nào thua sẽ phải nhường nhịn. Khi nhà trai từ chối gả con, bà mối sẽ thuyết phục: “Con trai anh chị hôm nay còn trẻ, chưa có kinh nghiệm, ngày mai sẽ lớn. Người có sức làm việc được mười thì con anh chị cũng làm được bảy tám, có thua ai đâu”.

Giả sử nếu người con trai thật sự không bằng lòng để người con gái bắt mình về làm chồng thì sẽ trả lời: “Hôm nay con không lấy, ngày mai con cũng không lấy. Con đâu có ở dưới nước mà sợ không ai đến bắt”. Sau đó cậu tháo sợi nhòng vừa được bà mối đeo vào cổ, bỏ xuống bàn.

Việc từ chối cầu hôn này sẽ làm tổn thương danh dự của phía nhà gái, buộc nhà trai phải bồi thường bằng tiền hoặc sản vật, trị giá từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng (tương đương với khoảng 25 đến 50 đô la nhưng đối với các dân tộc thiểu số là rất lớn). Nhà gái chỉ đem chiếc vòng tay và sợi nhòng về còn số tiền thì dành cho bà mối.

Khoảng một tuần sau, nhà gái cùng bà mối lại đến nhà trai đó đặt vấn đề bắt chồng cho con. Những lý lẽ thuyết phục nhất sẽ tiếp tục được hai bên đưa ra để đấu trí. Nếu nhà gái vẫn thua, nhà trai chưa chịu cho bắt chồng thì nhà trai lại phải nộp tiền bồi thường danh dự, trả lại vòng tay và nhòng cho nhà gái.

Theo luật tục của người K’ho, đối với người con trai đang thời gian có một cô gái đang ăn hỏi bắt về làm chồng thì không được liên lạc với một cô gái khác. Và luật tục cũng không cho phép bất cứ người con gái khác nào đến đặt vấn đề bắt người con trai này về làm chồng khi cậu ta đang được ăn hỏi.

Ông K’Breo Cil, người chuyên nghiên cứu về luật tục của người K’ho ở vùng chân núi Lang Biang cho biết, có những đám hỏi kéo dài đến hai, ba tháng mà vẫn không thành công. Cứ dai dẳng mãi nhưng cuối cùng nếu không “bắt” được cậu này, cô gái phải đi bắt một cậu trai khác. Riêng gia đình cậu trai không chịu gả con cho gia đình cô gái kia, tuy chẳng ai thù hằn, trách móc nhưng cũng thiệt hại khá nặng về những lần “bồi thường danh dự” và rất mất thời gian.

Đã “ăn trái cấm” mà không chịu làm chồng thì

Đối với người K’ho ở vùng chân núi Lang Biang tức huyện Lạc Dương (cách Đà Lạt khoảng 12 km) thuộc tỉnh Lâm Đồng, gia đình thường không cấm đôi lứa yêu nhau. Khi đã “ưng cái bụng” về nhau, nếu thích, hai người có thể tự do chung sống như vợ chồng mặc dầu phía nhà gái chưa chính thức đi hỏi.

Thông thường, những đôi lứa “ăn cơm trước kẻng”, đã chung sống với nhau như vợ chồng này, việc hoàn tất các thủ tục để tiến tới hôn nhân không mấy khó khăn và phần lớn là thành công.

Tuy nhiên, không phải bất cứ đôi trai gái nào “ăn trái cấm” trước khi có lời cầu hôn từ phía nhà gái cùng thành vợ chồng.

Khi hai người đã ở với nhau như vợ chồng, nhà gái vẫn sẽ lựa chọn ngày lành tháng tốt, sắm vòng tay và nhòng đến nhà trai hỏi xin bắt chồng về cho con và việc “bắt chồng” đó mới là chính thức.

Người phụ nữ K’ho chỉ cưới chồng khi đã có con

Trong trường hợp đã ăn nằm với nhau nhưng chàng trai vẫn không chịu để nhà gái bắt về làm chồng, bà mối sẽ hỏi người con gái trước mặt nhà trai: “Chúng mày yêu nhau sao bây giờ nó không chịu làm chồng mày?”. Người con gái trả lời: “Chúng con yêu nhau như vợ chồng”. Bà mối tiếp tục dồn phía nhà trai vào thế yếu: “Chúng mày yêu nhau, da đã chạm da, thịt đã chạm thịt rồi phải không?”. Chỉ chờ có câu hỏi đó, cô gái sẽ kể huỵch toẹt chuyện “làm vợ chồng” cho gia đình cả hai bên đều nghe, nhằm mục đích buộc chàng trai phải có trách nhiệm với mình, nghĩa là phải đồng ý cho mình bắt.

Tuy nhiên, cũng có những chàng trai cứng đầu cứng cổ, “dám làm mà không dám chịu”, nhất định không đông ý cho nhà gái “bắt”; cậu sẽ bị nhà gái thưa với già làng và già làng phạt vạ rất nặng, có thể là một con trâu mộng hạng nhất hoặc một số tiền tương đương với con trâu (ngày nay khoảng hơn 30 triệu đồng).

Nếu gia đình nhà trai nộp phạt thỏa đáng, nhà gái mới cảm thấy danh dự không bị xúc phạm. Còn nếu nhà trai nộp phạt ít, nhà gái tự ái có thể bỏ về không thèm lấy phẩm vật phạt vạ và tuyên bố cậu trai đó là “đĩ đực”, sẽ bị làng xóm khinh rẻ vô cùng. Đối với người K’ho, cậu trai nào bị gọi là “đĩ đực” và bị khinh rẻ thì rất khó có cô gái nào xin bắt về làm chồng.

Khi nhà gái đã đến hỏi và được đồng ý, ngay đêm hôm ấy cậu trai có thể theo về nhà gái chung sống. Tuy nhiên, chỉ khi nào họ đã có một vài mặt con thì gia đình nhà gái mới tổ chức đám cưới và cậu trai mới trở thành người chồng chính thức. Nếu không có con, họ cứ chung sống như thế mãi, dứt khoát không thể tổ chức đám cưới.

Đoàn Dự

Tin tức khác...