The Vietnamese Newspaper in Canada

Một thế kỷ quyền đi bầu của phụ nữ Mỹ

Tu chính án 19 được quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn Tháng 8 năm 1920 cho phụ nữ được quyền đi bầu cho đến nay là đúng 100 năm. Nhìn lại chặng đường dài đó, người ta sẽ phải đặt câu hỏi là với việc phụ nữ chính thức được bước chân vào trong sinh hoạt chính trị của nước Mỹ kể từ đó đến nay đã gây được những ảnh hưởng nào lên đất nước Hoa Kỳ và lên chính cuộc sống của phụ nữ? Và đường hướng mới nào mà phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ đã mở ra sau khi dành được quyền đi bầu?

Năm 1848, khi đại hội về quyền phụ nữ lần đầu được tổ chức tại Seneca Falls, New York, phụ nữ Mỹ lúc đó có thể nói không có một chút quyền gì trong hầu như mọi khía cạnh của cuộc sống. Họ không được học cao và không được làm trong hầu hết mọi ngành nghề. Nguyên tắc về tình trạng pháp lý của người phụ nữ có chồng trong bộ Thông luật của người Anh, được đem qua áp dụng tại Hoa Kỳ, tuyên bố rằng trong hôn nhân, “chồng và vợ là một và người chủ chính là người chồng.” Khi phụ nữ lập gia đình thì người phụ nữ đó mất hết quyền kiểm soát tài chính của nàng. Bất cứ đồng lương nào nàng kiếm được đều phải đưa hết cho chồng, và nàng không được đứng tên sở hữu bất cứ tài sản nào. Nếu cuộc hôn nhân bị tan vỡ, người chồng tự động được quyền giữ con.

Phải ba phần tư thế kỷ sau đó, phụ nữ mới đạt được chiến thắng quan trọng để được công nhận sự có mặt của họ trong xã hội. Vào thời điểm năm 1920, khoảng một phần năm phụ nữ Mỹ làm việc ở bên ngoài, gần một nửa trong số ấy là làm việc trong lãnh vực kỹ nghệ, đặc biệt là trong ngành dệt vải và may mặc. Một số khá đông làm việc trong lãnh vực y khoa, chiếm khoảng 10% số bác sỹ tại các thành phố lớn. Phụ nữ cũng đạt nhiều thành công và giữ những vị trí quan trọng trong hoạt động nghệ thuật và trí tuệ. Năm 1921, Zona Gale là phụ nữ đầu tiên được nhận giải thưởng Pulitzer về kịch nghệ, và hai năm sau giải Pulitzer về thơ được trao cho Edna St. Vincent Milllay. Cả hai là những người ủng hộ quyền đi bầu của phụ nữ.

Thậm chí trước Tu chính án 19, phụ nữ Mỹ đã gây được nhiều ảnh hưởng trong các chính sách về kinh tế và xã hội. Năm 1911, Frances Perkins được bổ nhiệm chức thư ký điều hành của Uỷ ban An toàn thuộc tiểu bang New York, với trọng trách cải tổ điều kiện làm việc trong các nhà máy sau vụ hoả hoạn tại nhà máy Triangle Shirtwaist. Sự ngiệp của bà tiếp tục thăng tiến sau đó và trở thành Bộ trưởng Lao động trong nội các Franklin Roosevelt – là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ cấp bộ của chính phủ liên bang.

Tổng thống Woodrow Wilson trong nhiều năm vẫn luôn chống lại việc tu chính quyền đi bầu, nhưng năm 1918 ông đã buộc phải lên tiếng thừa nhận rằng công đóng góp của phụ nữ trong thời Đệ nhất Thế chiến xứng đáng mang lại cho họ quyền được đi bầu. Đứng trước thượng viện, ông đã phát biểu về cuộc đấu tranh của Hoa Kỳ cho nền dân chủ, xác định “dân chủ có nghĩa phụ nữ phải được tham dự phần của họ trong cuộc đấu tranh đó bên cạnh nam giới và ngang hàng với họ,” và đi thẳng vào vấn đề cốt lõi: “Chúng ta có nên chỉ thừa nhận họ với phần hợp tác liên quan đến hy sinh,chịu đựng và lao khổ chứ không phải là phần hợp tác liên quan đến quyền lợi và đặc quyền chăng?

Sau khi Tu chính án 19 được phê chuẩn, có khoảng 30 triệu phụ nữ Mỹ trở thành cử tri với lá phiếu bầu trong tay, là cuộc khuếch trương quyền lợi cho người dân lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng đã chấm dứt. Mặc dù nay phụ nữ đã được quyền đi bầu, việc tham gia của họ vào các chức vụ do dân bầu vẫn còn rất chậm. Năm 1917, chỉ có một phụ nữ ở hạ viện, đó là Jeannette Rankin của tiểu bang Montana; đến năm 1929, chỉ có thêm tám phụ nữ được bầu vào hạ viện và không có phụ nữ ở thượng viện.

Sau 1920, nhiều nhà hoạt động trong đội ngũ đòi quyền đi bầu cho phụ nữ chuyển năng lực qua những nỗ lực cải cách khác, trong đó có quyền lợi về lao động, hoà bình quốc tế và quyền dân sự. Hai nhà tranh đấu cho quyền đi bầu của phụ nữ, Jane Addams và Emily Balch, trở thành phụ nữ thứ hai và ba thắng giải Nobel hoà bình do hoạt động của họ trong việc thành lập Liên đoàn Quốc tế Phụ nữ cho Hoà bình và Tự do. Nhiều nhà tranh đấu khác cũng tham gia vào các hoạt động xã hội như thành lập phong trào tranh đấu cho quyền sử dụng thuốc ngừa thai, là phong trào nhằm mở rộng quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ từ bên ngoài xã hội qua đến cuộc sống riêng tư cá nhân.

Trong nửa thế kỷ tiếp theo, những thay đổi cơ bản nhất đối với phụ nữ Mỹ phần nhiều liên quan đến công ăn việc làm hơn là bầu cử. Năm 1950, có 29% phụ nữ làm những công việc được trả lương và tỷ lệ này tiếp tục tăng cao.

Đọc thêm

Cúng chay hay mặn ngày vía Thần Tài thì “được lộc” hơn?

Cứ đến mùng 10 tháng Giêng âm lịch, nhà nhà lại rộn ràng sắm sửa mâm cúng vía Thần Tài để cầu mong…

Ba ngày Tết và mâm cỗ Tết

Tục ngữ Việt Nam có câu “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết”. Nhiều người cho rằng, vì phải thực hiện nghi…

Tiến sĩ Việt từ chối Harvard để trở lại bệnh viện

Nhận lời mời nghiên cứu từ Đại học Harvard, TS. Dương Thanh Tài quyết định rẽ hướng, trở lại bệnh…

Thứ cơn lũ không thể cuốn trôi

Có một thứ mà cơn lũ sẽ không chạm tới được: Cách chúng ta đối xử với nhau trong hoạn nạn. Đó là…
1 của 348

Một khi người phụ nữ không còn phải bắt buộc lựa chọn giữa trách nhiệm gia đình và làm việc ở bên ngoài, thì đó cũng là lúc họ phải học cách để có thể chu toàn trách nhiệm và công việc cho cả hai bên. Năm 1950, một phần ba phụ nữ đi làm là có con nhỏ dưới 18 tuổi; ngày nay, con số đó là hơn 70%. Để quân bình giữa công việc và gia đình trở thành một trong thử thách lớn nhất đối với phụ nữ ở cuối thế kỷ 20, và từ đó đưa đến những cuộc đấu tranh mới để đòi được mức lương bình đẳng, đòi được trợ giúp về dịch vụ giữ trẻ và chia bớt công việc nhà với người chồng.

Phong trào gần đây nhất về vấn đề bình đẳng tập trung vào nỗ lực chấm dứt tình trạng sách nhiễu tình dục nơi sở làm. Vấn đề sách nhiễu tình dục từ lâu nghiễm nhiên được chấp nhận như một cái giá mà người phụ nữ phải trả để được làm việc trong một thế giới hầu hết là đàn ông, nhưng vào thập niên 1970, phụ nữ bắt đầu biết sử dụng hệ thống pháp luật để chống lại tệ đoan đó và coi nó như một hình thức kỳ thị,dưới lãnh đạo bởi hai nữ luật sư Catherine Mackinnon và Eleanor Holmes Norton. Năm 2017, sự nhận thức về vấn đề này lan rộng trong quần chúng làmbùng phát thành phong trào #MeToo đưa đến sự sụp đổ sự nghiệp và uy tín của một số nhân vật phái nam đầy quyền lực và nổi tiếng.

Kể từ khi quyết định của Tối cao Pháp viện trong hồ sơ “Roe v. Wade năm 1973”, cuộc chiến về quyền phá thai đã trở thành cuộc đấu tranh quyền phụ nữ quan trọng nhất về mặt chính trị. Hiện tại, có 60% phụ nữ tự coi họ có quan điểm ủng hộ phá thai và 40% chống phá thai. Sự phân chia đảng phái về vấn đề này cũng rất rõ ràng: Ba phần tư cử tri nữ thuộc đảng Dân chủ ủng hộ, trong khi hai phần ba phụ nữ thuộc đảng Cộng hòa thì chống.

Kể từ năm 1980 khi phụ nữ dồn phiếu cho Tổng thống Jimmy Carter thay vì đối thủ Ronald Reagan với tỷ lệ khác biệt là 8 điểm, từ đó đến này đã ngày một hiện rõhơn hiện tượng “khoảng cách giới tính” trong sinh hoạt chính trị Mỹ, với các ứng cử viên Dân chủ thu hút được nhiều phiếu của phụ nữ hơn.

Số phụ nữ giữ các chức vụ trong chính quyền cũng đã có những tiến bộ trong 50 năm qua. Năm 1994, số phụ nữ ở hạ viện đã tăng lên 47 người, và năm 2018, con số kỷ lục 102 phụ nữ đã thắng ghế hạ viện – với 89 thuộc đảng Dân chủ và 13 thuộc đảng Cộng hoà. Ở tuổi 29, Alexandria Ocaso-Cortez của tiểu bang New York trở thành người phụ nữ trẻ nhất được bầu vào quốc hội. Ngày nay, một phần tư thượng nghị sĩ liên bang là phụ nữ, là con số cao nhất từ trước tới nay, mặc dù vậy, tỷ lệ vẫn còn tương đối thấp so với tỷ lệ một nửa dân số Mỹ là phụ nữ.

Hai nhánh khác của chính quyền cũng cho thấy số phụ nữ tham gia ngày một đông hơn. Năm 1981, Sandra Day O’Connor trở thành phụ nữ đầu tiên ngồi ở Tối cao Pháp viện; hiện nay đang có ba phụ nữ giữ chức vị này. Chỉ riêng có chiếc ghế tổng thống là cho đến nay vẫn chưa có phụ nữ nào ngồi vào được. Trong cuộc bầu cử tổng thống 2020, có sáu phụ nữ tranh cử ở vòng sơ bộ của đảng Dân chủ. Có hai phụ nữ thuộc hai đảng lớn đã từng được chọn tranh cử trong chức vụ phó tổng thống: Geraldine Ferraro của đảng Dân chủ năm 1984 và Sarah Palin của đảng Cộng hoà năm 2008; năm nay, ứng cử viên Joe Biden của đảng Dân chủ đã hứa chọn một phụ nữ để đứng chung liên danh.

Nhìn lại chặng đường lịch sử, điều rõ ràng Tu chính án 19 không phải là sự kết thúc của phong trào mà là một cột mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục của phụ nữ để bảo vệ và phát huy nền dân chủ của nước Mỹ. Đúng một thế kỷ sau, phụ nữ vẫn tiếp tục đứng nơi tuyến đầu trong nỗ lực bảo vệ quyền dân chủ của người Mỹ và để đạt được sự đa dạng nhiều hơn nữatrong vai trò lãnh đạo đất nước. Chỉ ở những quốc gia thực sự dân chủ như nước Mỹ mới mang lại được những đổi thay lớn lao như thế cho phụ nữ, ngoài ra chỉ toàn là đồ giả hiệu.

Huy Lâm

Tin liên quan