Đeo mặt nạ là bảo vệ quyền tự do

Có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy việc che mặt bằng chiếc mặt nạ, cùng với biện pháp giữ khoảng cách xã hội, có thể góp một phần không nhỏ trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Covid-19. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn còn khá đông người tiếp tục chống đối biện pháp này với lý do được viện dẫn là nó lấy đi quyền tự do cá nhân của họ.

Đây không phải lần đầu có tình trạng chống đối như nói trên mà thực ra điều này đã từng xảy ra trước đây khá lâu, cũng trong hoàn cảnh của một trận đại dịch khác.

Năm 1919, khi trận dịch cúm Tây Ban Nha hoành hành tại San Francisco, và để tìm cách ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này, các giới chức thành phố đã ra lệnh tất cả mọi người dân trong thành phố phải đeo mặt nạ. Lệnh vừa đưa ra liền bị nhiều người chống đối cho rằng lệnh này vi hiến vì đã không tôn trọng quyền tự do cá nhân của người dân. Nhiều cuộc biểu tình lớn nổ ra, cuối cùng thành phố phải nhượng bộ và rút lại lệnh trên.

Điều đáng tiếc là sau khi lệnh được thu hồi thì số người nhiễm bệnh tăng lên rất nhanh và đến cuối mùa đông năm đó đã có thêm gần 45,000 trường hợp nhiễm bệnh mới.

Ta có thể nhìn nhóm người chống đối này bằng con mắt khinh thường, xem họ như những con người cứng đầu, hay tệ hơn nữa là vô tâm, trong khi nhiều chuyên gia y tế uy tín đã lên tiếng nhìn nhận rằng việc đeo mặt nạ là cần thiết. Nhưng ở vào thời điểm với các lệnh đóng cửa, che mặt, cấm tụ tập đông người và nhiều biện pháp bắt buộc giữ khoảng cách xã hội khác, thì những tiếng nói chống đối những lệnh trên đặt ra một câu hỏi nghiêm túc về việc liệu các biện pháp hợp lý để kiểm soát và ngăn chặn sự truyền nhiễm có ảnh hưởng đến quyền tự do cá nhân hay không. Và phải chăng để bảo vệ một lý tưởng nào đó, người ta bắt buộc phải chấp nhận bị lấy mất đi một lý tưởng khác. Nhưng trước khi đi sâu vào những vấn đề vừa đặt ra ở trên, ta hãy trở lại tìm hiểu về một câu hỏi đã cũ: Vậy, tự do nghĩa là gì?

Có thể nói định nghĩa về tự do khá đa dạng và tuỳ ở quan điểm của mỗi cá nhân, tuỳ ở hoàn cảnh xã hội, tuỳ ở những thời điểm khác nhau mà người ta có thể đưa ra một vài định nghĩa tương đối về tự do. Nhưng tựu trung ta có thể hiểu đại khái tự do là mình không bị lệ thuộc vào ai khác hay một quy chế nào đó, không bị ai làm chủ mình và có quyển làm bất cứ điều gì ta muốn trong một giới hạn chừng mực. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ hầu như đa số thường tỏ ra lười biếng ít khi chịu suy nghĩ cho rốt ráo về những cái mà xã hội đòi hỏi ở ta để đổi lại là được sống tự do.

Để có được cuộc sống tự do, một trong những đòi hỏi là tất cả mọi người phải theo một số quy luật. Nếu cứ mạnh ai nấy sống, chỉ biết dành hết về phần mình thì chắc chắn điều đó sẽ tạo ra cảnh hỗn loạn.

Hãy lấy một thí dụ: con đường xa lộ chúng ta lái xe thoải mái trên đó mỗi ngày từ đâu mà có? Thưa, chính phủ liên bang xây nó, trong khi thu thuế từ người dân để trả cho các chi phí xây cất và bảo trì. Và khi lái xe trên con đường đó thì tất cả mọi người chỉ có thể lái ở một tốc độ giới hạn nào đó là vì bên cạnh còn có những người khác cũng đang lái xe và tốc độ giới hạn được đặt ra là để giữ cho mọi người được an toàn. Ta có được quyền tự do để lái xe nhưng vẫn bắt buộc phải tuân thủ một số luật lệ đi đường.

Sống ở một nước tư bản như Hoa Kỳ nhiều người đánh giá cao việc bảo vệ tài sản tư và thị trường tự do. Nhưng quyền tư hữu sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có những thủ tục pháp lý công nhận quyền tư hữu đó cũng như những cơ chế thi hành luật để bảo vệ nó. Quyền sở hữu sẽ là gì nếu như bất cứ ai có đủ máu bặm trợn cũng có thể ngang nhiên tới chiếm đoạt tài sản của người khác? Thị trường tự do cũng thế, cũng phải phụ thuộc vào một số quy tắc và cơ chế để thực thi những quy tắc đó. Nếu không, một hợp đồng sẽ vô giá trị. Và nếu gian lận diễn ra tràn lan, thị trường sẽ bị sập vì chẳng ai dám ghé vào mua bán nữa. Như ai đó đã từng nói: Ở đâu không có luật lệ, ở đó không có tự do.

Nếu tất cả mọi người cùng chấp nhận và thực thi các quy luật mà xã hội đặt ra thì tự do mới có thể trở thành hiện thực. Các quy luật đúng đắn chính là điều kiện của tự do. Cũng giống như quyền tự do của con đường đòi hỏi phải có một số biện pháp mà mọi người cần phải tuân thủ để được lái xe trên con đường đó. Cũng thế, các đạo luật chống lừa đảo được soạn thảo ra là để củng cố cho thị trường tự do. Thế nên, những chính sách y tế công cộng hợp lý – như quy định đeo mặt nạ là để bảo vệ cho cả cá nhân lẫn cộng đồng – thật ra không xâm phạm vào quyền tự do cá nhân mà chỉ thúc đẩy nó. Sự lây lan không kiểm soát được của căn bệnh truyền nhiễm sẽ làm cản trở mọi sinh hoạt trong cuộc sống của chúng ta thì đến lúc đó thử hỏi ta có còn được tự do nữa hay không.

Một trong những lời biện hộ mạnh mẽ nhất cho quan điểm chống đối việc đeo mặt nạ là mỗi người đều có trách nhiệm cho các quyết định liên quan đến sức khoẻ của họ và sự lựa chọn của họ cần phải được tôn trọng. Tuy nhiên, khi quyền tự do liên quan đến hoạt động của tập thể – cho dù đó là những cuộc trao đổi, mua bán trên thị trường hay lái xe trên đường – thì kiểu ngôn ngữ như vậy là không hợp lý chút nào. Và chắc chắn là nó không thể gọi là hợp lý khi nói đến nỗ lực kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Đeo chiếc mặt nạ lên mặt không phải là một quyết định liên quan đến sức khỏe cá nhân. Mục đích chính của việc làm này là để bảo vệ người khác chứ không phải bảo vệ người đeo mặt nạ.

Cũng có những người chỉ trích luật thắt dây an toàn khi đi xe hơi và đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy không khác gì là hành vi của một thứ nhà nước bảo mẫu, cố tình tìm cách bảo vệ người dân một cách quá đáng không cần thiết. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn chút nữa, ta thấy luật trên không chỉ mang lại sự an toàn cho người lái xe mà qua đó còn mang lại những lợi ích thiết thực khác như giảm chi phí tiền bảo hiểm chẳng hạn. Đem so sánh lệnh đeo mặt nạ với luật an toàn trên có thể là một sự khiên cưỡng, nhưng ta có thể so sánh nó với luật đòi hỏi tất cả những chiếc xe chạy trên đường phải trang bị bộ thắng hoạt động hữu hiệu để xe không ủi vào những chiếc xe khác gây nên tai nạn. Bất cứ ai có được chút suy nghĩ đúng đắn chắc hẳn không nghĩ rằng đòi hỏi trên là sự từ chối quyền tự do cá nhân.

Đối với những người vô trách nhiệm và cẩu thả khi vô tình mang bệnh của họ truyền sang cho người khác từ lâu nay đã là một thử thách đối với hệ thống luật pháp cho các quốc gia tự do dân chủ. Vào những năm đầu của thế kỷ 20, Mary Mallon, là người có mang vi khuẩn Salmonella mãn tính ở trong người nhưng lại không tỏ ra có triệu chứng gì. Mặc dù đã bị cảnh cáo nhiều lần là không nên làm công việc nấu bếp trong nhà hàng nhưng bà này đã làm ngơ không thèm đếm xỉa tới những lời cảnh cáo ấy, và hậu quả là bà đã truyền bệnh cho không biết bao nhiêu người, thậm chí một số người đã bị bỏ mạng. Chỉ năm năm trước đây, tiểu bang California đã buộc phải bỏ tù ông Thomas Miguel Guerra, người mà các công tố viên cáo buộc là đã từ chối không chịu uống thuốc để triệt mầm vi khuẩn HIV của ông ta, đã nói dối những người bạn tình về tình trạng sức khoẻ của mình và cố tình truyền bệnh cho họ. Kể lại hai câu chuyện trên để cho thấy chỉ cần một vài cá nhân vô trách nhiệm và vô lương tâm cũng có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Trận đại dịch hiện nay không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây trở ngại cho cuộc sống của chúng ta nữa. Hãy tưởng tượng khi con siêu vi khuẩn corona bắt đầu xuất hiện và phủ bóng đen u ám lên toàn cầu, thì một quốc gia không đưa ra một biện pháp nào để hạn chế sự lây lan của nó, và một quốc gia khác thì cho áp đặt các biện pháp một cách quyết liệt. Vài tháng sau đó, quốc gia đầu tiên có số người thiệt mạng cao hơn và dịch bệnh tràn lan; người dân ở đó bắt đầu lo sợ và không ai bảo ai tự động cài then đóng cửa ở trong nhà vì họ không còn cảm thấy an toàn khi đi tới những nơi công cộng. Ở quốc gia thứ hai, nay bắt đầu mở cửa hoạt động trở lại một cách cẩn trọng, tỷ lệ lây nhiễm tại đây rất thấp; người dân có thể gặp gỡ lại bạn bè tại một nhà hàng mà không cảm thấy rằng cuộc sống của họ đã bị lấy mất. Vậy thử hỏi, trong hai quốc gia trên, cuộc sống của người dân nước nào có tự do hơn?

Một tiếng ho, một cái hắt xì của chúng ta nếu không cẩn thận có thể là mầm mống làm lây lan dịch bệnh và qua đó gây ra những trở ngại trong sinh hoạt cá nhân, trong công việc và trong giao tiếp xã hội. Đó là lý do tại sao mà ta có thể nói rằng việc đeo mặt nạ chính là để bảo vệ quyền tự do của chúng ta vậy.

Huy Lâm

More Stories...