Người Việt hay nói ai đó dị đoan lắm, nghĩa là người ấy tin vào vô hình nhiều hơn người bình thường. Trong tiếng Việt lại có hẳn cụm từ “mê tín dị đoan” để chỉ những người tin thầy bói, tin chuyện đồng bóng; chứ tướng số với tử vi thì ít ra cũng có sách làm bằng cho người tin và cả người không tin tử vi tướng số, không không bóng không hình như mê tín dị đoan. Mê tín là đi xin lá bùa hộ mệnh từ thầy bà không chứng chỉ, không bằng cấp gì hết, rồi đeo trên cổ mình ngày đêm như vật bất ly thân. Nhưng người có bùa hộ mệnh thường gặp rủi ro hơn người thường vì ỷ y vào bùa hộ mệnh, tin tưởng sự che chở của thế lực vô hình nên làm việc thiếu cẩn thận, đi đứng không quan sát kỹ lưỡng trước sau và gặp rủi ro nhiều hơn người thường nên họ càng tin vào bùa hộ mệnh vì họ chỉ té ngã thôi chứ không mất mạng. Họ cần bùa hộ mệnh hơn cơm vì không cơm ăn khoai cũng không chết, nhưng không có bùa hộ mệnh là tiêu đời. Thầy bà cấp bùa hộ mệnh cần họ vì đôi bên tương tác, đôi bên cùng có lợi khi một người hành nghề không bằng cấp, không giấy phép mà không có người nhẹ dạ cả tin thì lấy gì sống, người nhẹ dạ cả tin mà không có thầy bà cho bùa hộ mệnh thì chết yểu vì âu lo…
Dị đoan là tin vào tin đồn là chính, không cần chứng cứ hay bằng chứng khoa học gì hết như anh Lung bạn tôi – bạn câu. Bạn câu nơi tôi ở dễ lắm, gặp nhau lần đầu thì làm sao biết là người Việt hay người Tàu, người Lào hay người Thái, người Cam bốt… khi mặt trời chưa lên. Thế là chào hỏi nhau bằng tiếng Anh cho tới mặt trời mọc thì Mít không thể lẫn với Xoài, “Ủa, anh Việt nam hả?” Vậy là tình đồng hương rạng rỡ như mặt trời mọc, cho nhau số điện thoại liền tức khắc để tiện bề liên lạc, chia sẻ với nhau chút gì ăn lót bụng sáng sớm đi câu, chia nhau con mồi nào nhạy vì cá chảnh hơn con gái, hồi ăn cá sap, hồi ăn cá cơm, hồi ăn minnow, hồi ăn mồi giả chứ không ăn mồi thật…
Tình đồng hương là thuốc tiên của bệnh cô đơn nơi xứ người, gặp nhau lần đầu như đã quen nhau từ kiếp trước, bất chấp anh họ Nguyễn, tôi họ Trần; anh nói tiếng trung, tôi nói tiếng nam… những phân biệt ba miền khi còn trong nước đã tan loãng khi ra hải ngoại vì tình đồng hương trong nước không nồng ấm bằng người Việt xa quê, bởi người trong nước chưa đi xa nên chưa biết nghe người ta nói mà mình như điếc đặc, họ khen hay chửi cũng chỉ biết cười trừ. Nỗi bơ vơ nơi xứ lạ quê người như nhà văn nhà thơ Tưởng Năng Tiến những ngày không quê hương đã viết nên câu thơ diễn tả một trời cô độc, “excuse me, I’m sorry nói mãi/ thèm một câu chửi thề”. Ở quê nhà, không cần ra ngõ cũng có thể nghe được tiếng chửi thề từ bên hàng xóm bay sang, nhưng vong quốc phát thèm được nghe một câu chửi tục tiếng mẹ đẻ cũng không có, vì thế tình đống hương nơi câu cá lai láng như ánh trăng đêm trên mặt hồ, như tôi với anh Lung chỉ chung ông trời, nhưng nửa đêm, ngoài hồ còn có hai anh em ngồi câu hà bá nên hộp mì xào tôm đem theo ăn khuya tuy nhỏ nhoi nhưng tôi mời anh thật tình, nhường anh vì anh than đói bụng. Nhưng anh ăn nửa hộp thôi, trở đầu đôi đũa, bảo tôi ăn đi. Tình đồng hương mới no chứ ăn mì xào cả đời rồi vẫn đói…
Câu nói chẳng biết hiểu làm sao cho đúng với ngữ nghĩa tiếng Việt, nhưng hiểu thấu lòng người phương nam, nghĩ sao nói vậy. Và khi đã no, ít nhất cũng không đói, người ta mới có thể nói chuyện tâm linh. Anh cho tôi hay, nghe nói ngoài bãi câu này có ma nên không ai đi câu sớm, có đi sớm cũng ngồi trong xe ngoài bãi đậu xe, đợi có người đến sau để cùng vào bãi câu chứ nhất định không ai dám tiên phong. Dù đi câu thì ai cũng biết càng đi sớm càng chọn được chỗ câu đắc địa, nhưng anh thà thua địa lợi một chút nhưng không phải gặp ma vì anh đã gặp. Hôm đó trăng muộn, trời lại chuyển mưa, mây đen cứ bay qua làm mặt hồ tối sầm, sấm sét thấy ghê, gió cũng không hiền, sóng càng hung dữ… đánh lên bờ hồ cá sap trắng bờ. Cá mắc cạn hàng đàn, nhảy nhót điên loạn như bầy qủy đói…
Anh nhìn đi nhìn lại không có ai vì anh ngủ không được nên ra hồ câu cá mới ba giờ sáng. Anh quyết định trở ra xe ngồi chờ để nhỡ trời mưa cũng không bị ướt, dù dự báo thời tiết đã nói là không mưa. Nhưng cần câu, đồ nghề cứ để nguyên chỗ để chiếm chỗ. Nhưng khi anh rời đi thì có người đi theo anh, anh tăng tốc thì người đó cũng tăng tốc… Anh sợ, nên chạy. Người đó chạy theo anh ra tận tới xe anh ngoài bãi đậu xe. Anh vội chui vô xe, khoá cửa cẩn thận để quan sát… thì không có ai.
Tôi hỏi anh, “Khi anh quyết định ra xe tránh mưa thì trời có trăng không?”
“Có. Mây đen bay qua rồi. Có trăng nên tôi mới thấy người đuổi theo…”
“Tôi biết con ma đó…”
“Anh cũng gặp rồi hả?”
“Không. Nhưng tôi tin chắc nó là… cái bóng của anh!”
“Không phải đâu, vì tôi nghe tiếng chân tôi chạy. Nhưng sau tôi cũng có tiếng chân đuổi theo…”
“Nên anh tăng tốc thì tiếng chân đuổi theo cũng tăng tốc?”
“Bởi vậy tôi mới chạy thụt mạng.”
“Hèn gì, tôi cứ thấy anh đi câu nhưng đem theo trái cây không phải để ăn. Anh đem vô bìa rừng cúng vái, là vậy!”
“Đúng rồi. Tôi nói anh nghe ha. Trước khi đi câu sáng hay câu chiều, câu tối. Tôi đều thắp nhang ở nhà, van vái bà Cậu độ trì, rồi tôi mới đi. Ông bà mình nói có thờ có thiêng có kiêng có lành. Tôi mà không nhờ bà Cậu phù hộ thì tôi chết với con ma Giông hôm đó rồi. Chắc nó chết đuối, nên lợi dụng giông to gió lớn, đuổi bắt tôi, rồi trấn nước tôi để thay cho nó lên bờ.”
“Ai nói với anh như vậy?”
“Tôi biết từ khi còn nhỏ, ở quê tôi cứ năm nay có người chết đuối ở khúc sông đó thì sang năm cũng có người chết đuối ở đó y chang. Ma da đợi người tận số mới ra sông sáng sớm, chiều tối, trưa vắng, lúc trời giông gió… Nó lôi giò người ta xuống sông để nó được lên bờ…”
“Ừ thì, có thờ có thiêng có kiêng có lành. Anh tin thì ít nhất là anh không phá chùa, phá miếu như tôi khi nhỏ. Dù lớn lên, hiểu biết được việc mình làm là không nên bởi không nên đụng chạm tới niềm tin của người khác. Nhưng anh cũng nên phân biệt giữ đức tin, niềm tin, và mê tín dị đoan. Tôi thấy anh đôi khi mê tín dị đoan quá làm mất vui, mất hoà khí cộng đồng như hôm vợ ông bạn câu của anh em mình, vô tình bước qua cây cần câu của anh thôi. Dù anh không lớn tiếng nhưng thái độ của anh không vui, đang câu vui bỗng anh thu cần đi về, làm mọi người mất hứng, vợ chồng nọ khó xử với anh, với mọi người…”
“Từ đời ông bà ông vải tôi rồi chứ đâu phải tôi đặt điều ra để làm khó ai đâu? Đi câu mà bị đàn bà bước qua cần câu thì về bỏ cây cần câu đó luôn chứ đâu phải bỏ bữa câu đó thôi đâu! Đi câu mà con cá mở hàng là cá lù đù thì thu cần đi về, chứ có câu hết ngày, hết đêm cũng không dính cá đâu. Tôi chỉ làm theo người xưa làm sao thì tôi làm vậy, bước ra sông nước thì phải thắp nhang, van vái bà Cậu dù là đi câu chơi hay đi câu cá kiếm cơm, nghề nào cũng có tổ mà anh. Trên đầu ba tấc có thần, đừng hám lợi mà làm chuyện không ai thấy, không ai biết vì trên đầu ba tấc thần thánh thấy hết, biết hết… Hôm nào gặp, tôi chỉ cho anh biết mặt ông người Việt mình, ông ấy cứ than thở là không có số sát cá nên câu không được nhiều cá như mọi người. Nhưng tôi là người lúc cá ăn, tôi không tranh giành với ai chỗ cá ăn mà cứ đi chài mồi cho anh em câu. Khi đàn cá rời bờ ra chỗ sâu ngủ nghỉ thì anh em cho cá tôi còn nhiều hơn tôi tự câu. Trong khi ông ấy lợi dụng lúc cá ăn, không ai cảnh giác nên cứ bắt cá trong thùng người ta bỏ qua thùng mình, nếu bị hỏi thì già vờ tôi lục xin con cá mồi… vì cá đang ăn nên không muốn bỏ đi chài cá mồi. Anh tin có thần trên đầu mình ba tấc không, thần thấy người gian nên không cho cá, chứ đàn cá trăm ngàn, triệu con, khi nó vô bờ thì đàn bà, trẻ con câu cũng dính. Mấy đứa du sinh còn ranh mãnh tới câu cá không mồi, chúng buộc cả chùm lưỡi câu, ném đại xuống nước cũng dính cá về ăn… Thần cứu tế bần nhưng không dung thứ người gian. Hôm nào gặp ông ấy, tôi chỉ mặt cho anh biết.”
“…”
Tôi đặt cho anh Lung cái tên thân mật là “Lung âm lịch”. Anh em câu cá đều gọi anh Lung thêm hai chữ âm lịch từ đó với ngữ nghĩa thân thương, anh là một cần thủ tầm cỡ với kinh nghiệm xem gió đoán cá đang ở đâu? Câu cá mà chỉ dạy đàn em: câu cá phải nhìn chim. Đàm chim bay tới đâu cũng chỉ vì đàn cá ở dưới nước bơi tới đó… vì chim không bay theo cá thì lấy gì ăn? Anh Lung được hầu hết cần thủ quý mến bởi tính tình dễ thương, tốt bụng của anh. Những chú nhỏ du sinh ra tới bãi câu là đi tìm chú Lung âm lịch như tìm người bảo kê. Bởi hôm có chú Lung ngoài bãi câu thì dù chúng không câu được cá cũng có cá ăn. Chú Lung không câu được cá thì chú xin anh em mỗi người một con, chú cũng có cả chục con để cho du sinh. Bởi chú có niềm tin là du sinh con ông cháu cha, con cán bộ mà đi câu cá thì đã có người cõng nó ra hồ. Du sinh phải tự đi câu để kiếm cá ăn thì chắc chắn là con nhà nghèo, nghèo chú hồi nhỏ vậy!
Tôi chỉ mừng thầm từ khi quen biết anh Lung, bởi những nửa đêm tỉnh giấc và không ngủ lại được thì nhắn tin cho anh. Hai anh em ra hồ câu tới sáng đi làm luôn, nhưng chủ yếu là uống cà phê, uống trà với nhau tới sáng. Câu được mấy con cá thì xách vô hãng cho luôn những bà chị, cô em còn biết làm cá vì phụ nữ Việt nam qua Mỹ bị bệnh truyền nhiễm, bệnh không biết làm cá.
Thôi thì anh mê tín dị đoan cũng chẳng ảnh hưởng gì tới hoà bình thế giới. Dù trên cổ anh vẫn còn lá bùa hộ mệnh do anh là đứa cháu trai đầu tiên của bà ngoại anh, nên ngoại anh lặn lội từ Mỹ tho về tới Châu đốc để xin cho anh lá bùa hộ mệnh. Ngoại lội đồng, leo núi tới trật giò, tới phải đi thầy thuốc nam bó thuốc mấy tháng trời mà cái chân của ngoại cũng không đi lại được bình thường. Vậy mà ngoại vui tới trăm tuổi mới qua đời vì thằng cháu ngoại bảo bối của ngoại đã không chết trận nhờ bùa hộ mệnh. Anh Lung kể chuyện ngoại anh tới tôi nhắc truyện cho anh được rồi mà anh vẫn không nhớ là anh đã kể cho tôi nghe chưa? Anh lại cho tôi xem cái bùa hộ mệnh đen xỉn, nhỏ nhoi như gói trà gói Olong sau khi uống xong. Nhưng đối với anh nó màu đỏ, sợi dây đeo cũng màu đỏ. Sợi dây đứt rồi, gói bùa vỡ bể bởi mục nát theo thời gian. Nhưng anh số đỏ, lấy được chị nhà thương chồng lại thông minh hơn người. Sau đám cưới của anh chị, chị nhà đem bùa hộ mệnh của anh đi bọc nhựa, bên nhà gọi là ép pờ-lát- tíc, để anh xỏ chung với tấm thẻ bài thời chiến tranh, nhờ vậy mà anh còn mạng để về với vợ con sau chiến tranh kết thúc. Sang Mỹ không đeo thẻ bài nữa thì chị nhà mua cho anh dây chuyền vàng. Con cái trong nhà, đứa nào dám hé miệng nói ba đeo cái gì kỳ quá, nhìn ghê quá là chết với mẹ chúng. “Ba đeo bà ngoại của ba, bà cố của tụi con trên cổ mà tụi con nói là ghê hả? Bà ngoại hứa với thần là lấy mạng bà ngoại thay cho ba tụi con được sống nếu ba tuị con phải chết. Không có bà cố hy sinh mạng mình để bảo vệ ba tụi con thì có tụi con không? Bom đạn thời ba tụi con, người ở nhà, trốn dưới hầm như má còn bị miểng pháo kích. Huống hồ ba tụi con ngoài trận…”
Chị cúng bà Cậu mỗi rằm dù chị không đi câu cá, nên chồng chị mê cá cắn câu… Hai mình cộng lại cũng có trăm rưỡi bó tuổi đời rồi nhưng nửa đêm ngoài hồ vẫn thỏ thẻ với em gái hậu phương qua phôn mùi mẫn, “ngủ đi em, mai anh làm cá largemouth chưng tương cho em ăn. Anh mới vái bà Cậu là có liền con largemouth mập ú, hí hí…”
Phan