Hồi Ký Văn Quang : Ngày tháng chưa quên

(Tiếp theo Thời Báo thứ Năm 2425 ngày 27/04/2017)

 

Thưa bạn đọc,

Đây không phải là cuốn hồi ký đúng nghĩa mà chỉ là một số đoạn trong những ngày tháng rời xưa cũ, vào tuổi 85 tôi viết lại cho chính mình. Một góc nào đó cho con cháu giữ lại, một phần nào đó cho các bạn trẻ VN nhìn thấy những thăng trầm biến đổi, những yêu thương hờn giận, những thất bại và thành công, những bất ngờ ập xuống, những kỳ lạ trong cuộc sống mà chính tôi cũng không giải thích được. Đặc biệt là với những năm viết văn, làm báo cùng những cung bậc thăng trầm trong cái thế chênh vênh của tôi. Làm thế nào tôi có thể tự vươn mình đứng dậy. Đó không phải là một bài học kinh nghiệm mà chỉ là những mẩu chuyện để các bạn trẻ xem qua rồi tự chọn lựa con đường của mình nếu thật sự các bạn ấy thích viết văn làm báo. Tôi nghĩ đó cũng là điều không vô ích. Trong mỗi trường hợp tôi chỉ trích một bài viết tượng trưng như một loạt bài tôi đã viết về anh em Thương Binh VNCH, bài về anh Thương Binh tự thiêu, nhiều kỷ niệm về bạn bè đã mất, về Chú Tư Cầu Lê Xuyên, những ngày ở Lộc Ninh, về tính cách đặc biệt của nhà văn Thụy Vũ…

Vào tuổi tôi, có lẽ viết hồi ký là quá muộn bởi khi quên khi nhớ, chuyện lớn không nhớ lại nhớ chuyện nhỏ hơn. Tuy nhiên nhớ gì viết nấy, cố sống lại cho đúng cảm xúc trung thực của mình từng giai đoạn. Có thể có vài sai sót trong những số liệu hoặc năm tháng, đó là thứ bệnh của tuổi già. Mong bạn đọc bổ khuyết hoặc vui lòng thông cảm cho. Viết lại cả cuộc đời không biết nên bắt đầu từ đâu. Có lẽ tôi nên bắt đầu từ thuở ấu thơ với những gì tôi còn nhớ được.

Văn Quang

 

Chập chững vào nghề làm báo Quân Đội

Khi về Phòng Báo Chí tôi gặp Huy Sơn và Tô Kiều Ngân ở đó. Lúc đó anh Lê Đình Thạch là đại úy làm trưởng phòng. Nhưng anh có tuổi rồi và là được đưa về từ tờ báo Tiếng Kèn ở Huế và là sĩ quan đồng hóa. Anh rất hiền lành ngồi trong phòng riêng. Tôi đã là trung úy, cấp bậc cao hơn những anh em khác nên làm Trưởng Ban Biên Tập. Mới vào nghề nên mọi thứ đều phải học từ các bạn khác. Học từ những ký hiệu sửa morrasse đến cách ký bản vỗ cuối cùng cho lên khuôn. Thời đó nhà in được Bộ Quốc Phòng thuê của tư nhân in bằng máy typo. Tờ Bán nguyệt san còn gọi là Báo Quân Đội chuyển từ báo quân đội Pháp sang. Sau cụ Ngô Đình Nhu họp chúng tôi lại và cho đổi tên thành báo Chiến Sĩ Cộng Hòa. Tờ báo phát cho toàn thể Quân lực VNCH. Sau ra thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ dành cho quân nhân mọi cấp bậc. Lại có tờ Phụng Sự, dành cho Sĩ quan, tháng ra một kỳ. Thế nên lại phân chia làm 3 loại báo. Báo Thông Tin Chiến Sĩ chỉ là tờ báo 8 trang khổ nhỏ dành cho quân nhân. Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa nửa tháng ra một kỳ được đóng bìa có chừng 40 trang như một tập san. Báo Phụng Sự dành cho sĩ quan tháng ra 1 kỳ, khổ nhỏ như một cuốn truyện. Chúng tôi chỉ có một số biên tập viên kể cả phóng viên chừng 10 người, phân công mỗi người một nhiệm vụ. Lúc đó chỉ việc ngồi ở tòa soạn làm việc. Có khối các cô nữ sinh là “em gái hậu phương” vào thăm các cây bút trong trong 3 tòa soạn. Tôi vẫn còn độc thân nên tha hồ tiếp khách quý.

Tôi suýt bị đi tù vì mất một chữ T.

Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra báo Xuân như thường lệ. Năm đó, có lẽ là vào năm 1960 khi đó Đại Tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng QĐVNCH (đến năm 1963 mới được vinh thăng Thống Tướng, vị Thống Tướng duy nhất của VN). Mỗi năm thường có một Thư chúc tết của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng được đăng trên báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa.

Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Ông Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu tức thi sĩ Cao Tiêu làm chánh văn phòng Đại Tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”, tôi tưởng ông nói giỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư chúc Tết của Đại Tướng đi là biết ngay, tôi không nói nhiều”.

Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì. Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho một phần lớn tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị trong toàn quốc. Tôi đã không kiểm soát lại.

Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in vẫn còn nguyên, nhưng vì là thợ xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có thể nó rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai biết. Mà làm sao kết tội là phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn, luật pháp thời đó rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đi đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.

Nhưng ông Cao Tiêu chánh văn phòng Đại Tướng lại gọi điện thoại ngay cho tôi nói là chưa kịp trình Đại Tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Ông Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên ông đã hủy ngay tờ báo, ông nói tôi phải lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.

Tôi cấp tốc làm ngay. Nhưng làm 1 tờ thì dễ, còn 200 ngàn số đưa đến các đơn vị cũng phải làm như vậy. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và toàn phòng báo chí của chúng tôi phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Và cũng từ đó tôi có thêm kinh nghiệm “xương máu” về nghề làm báo cũng như sau đó sang làm ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin. Nhờ kinh nghiệm ấy, sau này sang phụ trách Đài Phát Thanh Quân Đội tôi tránh được nhiều câu, nhiều chữ không thích hợp với tình hình lúc đó có nhiều đoàn thể, nhiều giáo phái có tiếng nói trên các đài phát thanh Sài Gòn cũng như Đài PTQĐ. Có lẽ người phụ trách Đài Phát Thanh Quân Đội lâu năm nhất là tôi (gần 6 năm). Nếu không có ngày 3-4-1975 không biết tôi ngồi đó đến bao giờ.

Lúc đó tôi bắt đầu cộng tác với vài tờ báo dân sự như Ngôn Luận, Chính Luận, Tin Sớm, Tiếng Chuông và mấy tờ tuần báo như Truyện Phim, Kịch Ảnh, Tiểu Thuyết thứ năm.

Phải nói rằng nhờ môi trường làm báo Quân Đội tôi mới có dịp phát huy nghề cầm bút của mình. Đó là một may mắn không phải ai cũng có được. Nhiều người bạn tôi biết rất có khả năng viết nhưng không có môi trường, thiếu cơ hội quen biết nên đành tàn lụi.

Tôi bị “đá”

Trong khi làm báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi viết một bài phê bình một tập thơ do Phòng Tâm Lý Chiến Quân Khu 2 (ở Pleiku) xuất bản. Thơ của cá nhân nhưng tiền xuất bản do Phòng TLC bỏ tiền in. Tập thơ có những chuyện tình vớ vẩn không thể lợi dụng ngân sách Quân Đội làm chuyện đó. Ngay lập tức khi báo mới được giao, một vài vị đang có uy thế tại Cục Tâm Lý Chiến bắt ngưng không cho phát hành về Quân Khu 3, đồng thời tôi cũng bị “hạ tầng công tác” chuyển về Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu ngồi chờ đi nơi khác. Chính thời gian này tôi quen với anh Phan Lạc Phúc làm trưởng Ban Báo Chí Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu. Anh vốn cũng là dân viết lách nên coi tôi như bạn. Anh có chiếc xe Fiat mỗi sáng ghé qua đón tôi đi làm.

Được vài tháng tôi có lệnh đổi lên Quân Khu 3 ở Pleiku. Một kiểu phạt rất “độc”, coi như tôi bị “đá” đưa tôi về ngay chỗ tôi đã viết bài phê bình, chắc là sẽ bị hành tới bến. Tư Lệnh Quân Khu lúc đó là Đại Tá Đỗ Cao Trí, một vị tư lệnh quân khu nổi tiếng là “rất hắc búa” vô cùng kỷ luật, hơi tí là phạt ngay. Tôi hơi run nhưng cũng cứ phải khăn gói lên đường. Trước khi đi, tôi gặp mấy người bạn chia tay. Trong đó có vả những ký giả miền Nam như Ngọc Linh, Sĩ Trung… Bữa đó có anh Nguyễn Ang Ca làm ở báo Tiếng Chuông. Anh Nguyễn Ang Ca nói với tôi: “Cứ yên chí, Đỗ Cao Trí là bạn học rất thân của tôi.” Anh Nguyễn Ang Ca viết cho tôi lá thư giới thiệu với ông Đỗ Cao Trí. Tôi liếc qua thấy anh viết “Trí thân, giới thiệu với mày một người bạn tao”. Tôi hiểu tình bạn của họ như thế nào.

Khi vào trình diện Đại tá Tư Lệnh Quân Khu, ông Trí hỏi ngay: “Tao sao anh bị tống lên đây?” Tôi trả lời thẳng thắn vì tôi có lỗi viết bài phê bình tập thơ của Quân Khu 3 xuất bản. Ông Trí gật gù “Tôi có đọc bài ấy”. Rồi ông cho tôi về Phòng Tâm Lý Chiến Quân Khu. Nhưng khi tôi vừa quay ra chưa đến cửa, ông Trí gọi giật lại hỏi: “Lá thư của ông bạn tôi đâu, sao anh không đưa cho tôi?”. Tôi nói “Tôi thấy không cần thiết nữa”. Ông Trí vẫy tôi lại bắt đưa lá thư. Từ đó ông có vẻ thân thiện với tôi.

Anh Trung Úy nhóc làm Đại Đội Trưởng Văn Nghệ

Tôi về làm ở phòng này không lâu, lúc đó Trung Tá Nguyễn Văn Châu Giám Đốc Nha CTTL đi du hành quan sát ở Đài Loan về, theo mô hình của Quân Đội Đài Loan, lập ra Tiểu Đoàn Chiến Tranh Chính Trị, mỗi quân khu thành lập một đại đội lấy tất cả nhân sự và máy móc của các tiểu khu về.

Tôi lại được đề cử làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Văn Nghệ Quân Khu 3 với sự đồng ý của Đại tá Đỗ Cao Trí. Trong tay chẳng có gì, tôi phải kiếm địa điểm làm doanh trại, thu nhận các quân nhân từ 5 tiểu khu về lập thành từng trung đội chuyên môn như bộ môn Ca Nhạc, bộ môn Kịch, bộ phận hành chính… Trong đó tôi nhớ có nhạc sĩ Anh Bằng từ tiểu khu về giúp tôi khá nhiều về ca nhạc kịch và những sáng tác riêng cho Đại Đội. Đại Đội được quyền thuê 4 ca kịch sĩ, trong đó có nam có nữ và 1 người ở địa phương. Chúng tôi phải tự kiếm những vở kịch, những bài hát để làm một chương trính đi trình diễn khắp quân khu gồm các tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi cho cả quân đội và người dân.
Tôi mới chỉ là anh Trung Úy nhóc, tính đến năm 1957 mới chỉ 24 tuổi. Chỉ huy một đại đội hơi phức tạp gồm hơn 100 người. Đáng lẽ phải làm ra vẻ mặt của “ông già gân” mới chỉ huy được. Nhưng tôi không quen kiểu ấy nên coi tất cả như anh em bạn bè, cùng ngồi bàn mọi chuyện rồi mới thực hiện. May mắn là chương trình đầu tiên khá thành công.

(Còn tiếp)

Tin tức khác...