Hoa Rơi Nước Mắt

Cả nhà lâu nay thường nghe đến mấy tên gọi đó nhưng không biết rành rẽ nên Hoan phải giải thích như đã giải thích một lần tại câu lạc bộ đơn vị cho viên trung sĩ và cô gái. Ba Hoan nói thêm:

“Vì được ủng hộ như vậy nên ngay sau ngày 7 tháng bảy, 1954, ngày ông Diệm chính thức lập chính phủ, Bảy Viễn và các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo kết hợp lập một mặt trận đối kháng đặt tên là Mặt trận Thống nhất Toàn lực, gửi tối hậu thư buộc ông Diệm trước ngày 26 tháng ba, 1955 phải giải tán chính phủ để thành lập chính phủ mới với thành phần do Mặt trận của họ chọn lựa.”

Cậu Hoan hỏi:

“Bộ ông Diệm nghe theo?”

Ba Hoan cười:

“Ông Diệm nghe theo thì làm gì có chuyện Hoan đi đánh Bình Xuyên.”

Cậu Hoan cười khỏa lấp:

“Rồi chuyện gì xẩy ra?”

Hoan nói:

“Ngày 26 tháng tư, 1955, một tháng sau thời hạn Mặt trận Thống nhất đề ra, Thủ tướng Diệm bổ nhiệm Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay thế Lại Văn Sang, người của Bình Xuyên mà Bảo Đại đặt vào chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia nhằm cho Bảy Viễn toàn quyền thao túng đĩ điếm và sòng bài.” 

Ba Hằng thắc mắc:

“Bình Xuyên để yên cho Ngô Đình Diệm sao?”

Hoan trả lời:

“Không đâu Ba, Bảy Viễn lập tức liên lạc xin Bảo Đại can thiệp.”

“Bảo Đại giải quyết thế nào?”

“Bảo Đại gửi điện yêu cầu Thủ tướng Diệm qua Paris hội kiến nhằm mục đích giữ Diệm lại không cho về nước để giao chức thủ tướng cho người khác.”

“Cụ Diệm đi không?”

Ba Hoan nói:

“Dĩ nhiên không đi nên Bảo Đại tìm mọi cách cản trở và đó cũng là ngòi nổ sinh ra chuyện lật đổ Bảo Đại, bỏ chế độ quân chủ lập hiến, lập chế độ cộng hòa.”

Cậu Hoan hỏi:

“Thời gian đó Hồ Chí Minh làm gì?”

“Mấy tháng trước, khai thác sự nứt rạn giữa Bảy Viễn và Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh phái cán bộ Việt Minh Bảy Khánh và Chín Đạo liên lạc với Bảy Môn, Mười Lực, và Năm Chàng, ba nhân vật có thế lực của Bảy Viễn, cho biết Việt Minh ủng hộ Bình Xuyên chống Thủ tướng Diệm.”

Cậu Hoan hỏi:

“Rồi chuyện gì xẩy ra?”

“Dạ, rồi theo Việt Minh giật giây, Bình Xuyên bắt đầu tấn công phe Quốc gia.”

Ngày 28 tháng tư, hai ngày sau ngày Thủ tướng Diệm cách chức Lại Văn Sang, sau khi đã bàn định với Pháp, với các giáo phái, và với cả Việt Minh, Bảy Viễn ra lệnh cho Bảy Môn tức Võ Văn Môn tấn công Bộ Tổng Tham mưu và Dinh Độc lập, rồi sau đó Thành Cộng Hòa. Thành Cộng Hòa ở Sài Gòn là một căn cứ chu vi chừng 1400 mét nằm trong khu vực bốn con đường giờ đây là đường Cộng Hòa, Hồng Thập Tự, Mạc Đỉnh Chi, và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thành này nguyên là Thành Gia Định rơi vào tay quân Pháp ngày 8 tháng ba, 1859, ngày Hộ đốc Võ Duy Ninh thua trận, một điều không thể tránh khỏi khi quân ta với súng hỏa mai và giáo mác thô sơ không thể chống lại quân Pháp với vũ khí tiên tiến cộng với đại bác do hải quân từ ngoài khơi bắn vào. Pháp chiếm được thành nhưng không giữ được vì thường xuyên bị quân ta quấy phá. Tức giận, Tướng De Genouilly cho lệnh đốt thành, thiêu hủy tất cả quân lương quân dụng dự trữ trong đó, lửa cháy ngùn ngụt đến hai ba ngày mới tắt. Năm 1870, Pháp bắt đầu xây lại thành với chu vi chừng nửa thành cũ thời Tự Đức. Bị quân ta quấy phá liên tục, mãi ba năm sau, năm 1873, thành mới xây xong và được dùng làm nơi đóng quân cho Trung đoàn Bộ binh thuộc Hải quân 9, 10, và 11— Neuvième, Dixième, Onzième Regimen d’Infanterie de Marine, về sau đổi tên thành Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa 11—Onzième Regimen d’Infanterie Coloniale. Quân Pháp không đặt tên chính thức cho thành mới, nhưng vì đơn vị đồn trú trong thành có tên Onzième nên người bình dân đặt tên cho thành là Thành Ông-dèm. Sau năm 1954, Chính phủ Ngô Đình Diệm đặt tên là Thành Cộng Hòa, có lẽ vì một cạnh nằm trên đường Cộng Hòa và vì cộng hòa là mục tiêu chính phủ muốn cho đất nước đạt đến. Cậu Hoan gật gù khen:

“Hoan lúc này giỏi quá, học trường Tây mà rành lịch sử Việt Nam hơn cả Cậu.”

Hoan nhún nhường:

“Dạ, con giỏi gì đâu, chỉ tại con cái gì cũng muốn tò mò tìm cho biết.”

“Tại sao Bình Xuyên không đánh nơi khác mà đánh thành đó?”

“Vì Thủ tướng đã điều động nhiều đơn vị về đồn trú trong thành sẵn sàng đối phó với Bình Xuyên.”

Hoan vắn tắt thuật lại cuộc chiến ở Sài Gòn và chiến dịch kết thúc ở rừng Sác mà Hoan đã tham dự đánh bại lực lượng Bảy Viễn. Cậu Hoan hỏi:

“Bình Xuyên bị đánh bại, thế Bảy Viễn thế nào?”

Hoan trả lời:

“Hắn được Savini cứu, đưa về Bà Rịa rồi sau đó đưa qua Pháp.”

“Savani là ai?”

“Savani là thiếu tá Trưởng Phòng Nhì tức phòng tình báo của Pháp tại Việt Nam.”

“Chà, mấy thằng Tây quậy thiệt.”

“Pháp không chỉ quậy một lần nầy thôi đâu Cậu, ví như Bảy Môn bị thương, lực lượng Quốc gia tìm bắt hắn không được vì Tây bí mật đưa hắn vào Nhà Thương Grall chữa chạy rồi đưa trả lại cho Bảy Viễn.”

Ba Hằng hỏi:

“Thế mấy người cố vấn cho Bảy Viễn như Hồ Hữu Tường, Trần Văn Ân, và Trịnh Khánh Vàng thì sao?”

“Tất cả đều bị bắt và bị đày đi Côn Đảo.”

“Như vậy thì việc Hồ Hữu Tường bị đày đâu oan ức chi?”

Ba Hoan nói:

“Oan ức là thế nào? Hồ Hữu Tường cũng là cộng sản, chỉ khác hệ phái tam tứ quốc tế chi đó, mà đã là cộng sản thì chống Ngô Đình Diệm.”

Mọi người im lặng uống rượu như chừng đang suy nghĩ về chuyện Hoan vừa lược thuật. Lát sau, ba Hằng hỏi Hoan:

“Con nhận xét thế nào về Hồ Chí Minh và Bảy Viễn?”

“Con đồng ý với nhận xét của ba con hồi tối. Không chỉ Hồ Chí Minh và Bảy Viễn mà các đảng phái giáo phái nhân sĩ tuy khác nhau nhiều điểm nhưng giống nhau ở điểm nuôi tham vọng cá nhân và phe nhóm.”

“Là sao?”

“Tất cả đều không muốn chịu sự lãnh đạo của ai khác không phải là chính họ và phe phái họ, chẳng phục tài năng của bất cứ người nào ngoài người do họ đưa ra. Đảng phái nào chính trị gia nào cũng tự cho là tài nhất, là giỏi nhất, là con đường duy nhất để cứu vãn đất nước.”

“Cụ thể?”

“Lấy Hồ Chí Minh làm ví dụ. Độc quyền cái mà ông ấy cho là yêu nước và yêu dân, ông Hồ chống Bảo Đại rồi chống Ngô Đình Diệm vì chỉ muốn giành quyền cai trị. Ông ta không ngần ngại nói rõ Đảng ta là đảng cầm quyền y như ngoài Đảng Cộng sản chẳng đảng phái nào được quyền yêu nước, ngoài Hồ Chí Minh chẳng người nào khác có khả năng điều hành đất nước.”

Ba Hoan góp ý:

“Cũng vì thế, Hồ Chí Minh không ngần ngại cộng tác với Bảy Viễn, một tổ chức mà ngay cả người dân không kiến thức cũng biết là một tổ chức ăn cướp, một tổ chức tội phạm, cờ bạc, gái điếm công khai chẳng chút đạo đức.”

Ba Hằng nói:

“Điều này ông ta theo đúng triết lý cộng sản cứu cánh biện minh cho phương tiện, mọi việc làm dẫu tàn ác tội lỗi đến mức nào vẫn có thể cho là đúng nếu đi đến kết quả chính trị mong muốn.”

Cậu Hoan nói:

“Chỉ chừng đó đủ để so sánh hơn thua giữa Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh, một người đạo đức quân tử và một kẻ tàn ác tham quyền.”

Mọi người im lặng. Ba Hằng nhấp một ngụm rượu rồi đặt li xuống bàn, xoay xoay cái li, như chừng đang có điều gì trong tâm trí chưa thể nói ra. Đêm đã khuya. Chung quanh xóm giềng đã ngủ say, lấp ló vài ngọn đèn đêm leo lét lọt qua khe cửa. Mẹ Hoan nói:

“Khuya rồi, các ông ngồi đó nói chuyện mãi, không cho chị em tui dọn răng?”

Hoan nói:

“Cả nhà đi nghỉ, để đó con dọn hết cho.”

Mợ Hoan nói:

“Hoan biết chi mà dọn.”

“Mợ khinh thường con. Nhà binh mà có mấy cái chén cái bát không dọn được thì làm chi mà ăn?”

Mẹ Hoan nói:

“Vậy chị em tui đi nghỉ. Các ông cũng đi nghỉ, có gì mai nói tiếp.”

Ba Hoan rót tiếp rượu ra ly mọi người, bảo vợ:

“Các bà đi nghỉ đi, chén bát để cha con tui lo.”

Mẹ Hoan đưa tay dí dí, giả bộ hăm chồng:

“Nói dọn thì dọn nghe chưa, mai còn trên bàn thì biết tay tui.”

Các bà khuất vào nhà trong, Hoan nói:

“Hai ba và cậu định đi nghỉ hay tiếp tục?”

Cậu Hoan nói:

“Tùy con, con muốn sao?”

Hoan cười to:

“Con nhà binh, thức giờ ngủ và ngủ giờ thức là chuyện thường ngày.”

Hoan nhấp một chút rượu, khà một tiếng:

“Rượu ngon, nhất là do Ba mua cho con.”

Ba Hằng cười:

“Vậy nếu con bỏ tiền ra mua thì rượu không ngon sao?”

“Dạ, cũng ngon, nhưng xót và cay.”

Cậu Hoan không hiểu kịp, hỏi:

“Rượu thì cay, còn xót là thế nào?”

Ba người còn lại òa lên cười. Hoan nói:

“Xót là xót tiền đó cậu.”

Cậu Hoan xẻn lẽn:

“Cái thằng!”

Các bà vào trong rồi, ba Hằng nhắc Hoan:

“Nào, cậu cả còn chuyện gì nữa nói đi.”

Hoan cười:

“Hai Ba và Cậu muốn nghe thì con còn chuyện.”

Cậu Hoan cười theo:

“Cậu muốn nghe, con nói tiếp đi.”

“Dạ, thì đây. Sau cái gọi là Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh lên cầm quyền, Bảo Đại thoái vị. Trong chiếu thoái vị, Bảo Đại tuyên bố đại ý thà rằng làm dân nước Việt tự do hơn làm vua nước bị mất chủ quyền. Sau đó, công dân Vĩnh Thụy tức Bảo Đại nhận lời Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội làm cố vấn.”

“Vấn đề ở chỗ nào?”

“Ở chỗ mấy năm sau, khi Pháp quay trở lại, Bảo Đại về làm Quốc trưởng, Pháp giao lại gần hết quyền cho chính phủ Việt Nam, chỉ giữ lại quyền ngoại giao, quốc phòng, và kinh tế. Bảo Đại mời Hồ Chí Minh cộng tác nhưng Hồ Chí Minh chẳng những cương quyết từ chối mà còn đẩy mạnh chiến tranh chống Bảo Đại với chiêu bài bài phong đả thực.”

“Ý con là sao?”

“Là, tại sao Bảo Đại cộng tác với Hồ Chí Minh khi Hồ nắm quyền cai trị đất nước trong khi Hồ lại không cộng tác với Bảo Đại khi Bảo Đại nắm quyền?”

“Theo con thì tại sao?”

“Điều này con đã nói lúc nãy. Tại Hồ Chí Minh không thực sự lo cho dân cho nước bằng lo cho chính bản thân và cho Đảng Cộng sản của ông ta.”

Ba Hằng ngẫm nghĩ rồi nói:

“Biết đâu Bảo Đại nhận lời không phải vì thật lòng mà chỉ vì sợ Hồ Chí Minh bỏ tù hoặc giết chết.”

Hoan lắc đầu:

“Con không nghĩ vậy. Bảo Đại nhận lời cố vấn cho Hồ Chí Minh chắc chắn không phải vì không còn con đường nào khác mà theo con chỉ vì muốn cho thấy dù sao ông ấy cũng là người yêu dân yêu nước.”

“Sao con nghĩ vậy?”

“Bảo Đại có thể từ chối mà không sợ họ Hồ làm hại vì dẫu sao họ Hồ cũng còn ngại tai tiếng đối với thế giới chưa nói chuyện Bảo Đại vẫn có thể nhờ Pháp hay Nhật đưa ngay lập tức ra nước ngoài.”

Ngừng một lát, Hoan nói tiếp:

“Lúc ban đầu, ngoại trừ Ngô Đình Diệm, không chỉ Bảo Đại mà còn nhiều nhân vật uy tín khác như Huỳnh Thúc Kháng, Nhất Linh, Đức Cha Lê Hữu Từ ủng hộ Hồ Chí Minh vì cho rằng họ Hồ quả thực vì dân vì nước. Nhưng dối trá không che đậy được sự thực. Không lâu sau đó, các danh sĩ đó dần dần rút lui, thậm chí còn chống đối, khi bộ mặt thật của họ Hồ lộ rõ không phải vì dân vì nước mà chỉ vì lợi ích của Đảng Cộng sản và của cá nhân. Tệ hại hơn nữa, chính Hồ tìm mọi cách thủ tiêu người thuộc đảng phái khác nếu chống lại cơ mưu của lão.”

Cậu Hoan hỏi:

“Tại sao Ngô Đình Diệm không giúp Hồ Chí Minh?”

Ba Hằng nói:

“Tôi cho rằng tại cụ Ngô đã nhận biết Việt Minh là cộng sản và Hồ Chí Minh không thực lòng vì dân vì nước.”

Hoan lắc đầu:

“Con nghĩ không đơn thuần chỉ có thế mà còn hơn thế.”

Cậu Hoan nói:

“Hơn thế là thế nào?”

“Cụ Ngô không thể nào cộng tác với Hồ Chí Minh vì họ Hồ đã hạ sát cha và anh của cụ, chẳng như Phạm Tuyên là con của học giả Phạm Quỳnh lại đi bộ đội rồi viết ca khúc ca tụng họ Hồ, kẻ đã giết cha mình.”

Sau một lát im lặng, cậu Hoan hỏi tiếp:

“Nhưng nếu chỉ như thế thì cụ Ngô không cộng tác chỉ vì tư thù, không phải vì biết họ Hồ không thực lòng vì dân vì nước.”

Hoan nhấp một tí rượu rồi nói tiếp, giọng say sưa:

“Đúng như Cậu nói, chưa chứng minh được. Bản chất mưu cầu lợi ích riêng tư của họ Hồ lộ ra rõ ràng trong việc họ Hồ cương quyết không chấp nhận cộng tác với bất cứ ai cầm quyền trị nước ngoại trừ chính ông ta.” 

“Nhưng như thế thì trách ông Hồ ở chỗ nào?”

Hoan thở dài:

“Giả như họ Hồ kéo hết lực lượng của ông ta về ủng hộ Bảo Đại, góp tay xây dựng đất nước, có phải lực lượng quốc gia đã vô cùng vững mạnh và Pháp chẳng còn lý do gì để tiếp tục nắm giữ các quyền còn lại. Thêm vào đó, chúng ta tránh được một cuộc chiến tranh dai dẳng vừa tốn biết bao xương máu của cả đôi bên vừa làm cho đất nước thụt lùi hàng thế kỷ so với các nước cùng cảnh ngộ.”

Ba Hoan nói:

“Rõ ràng là thế. Các nước nguyên thuộc địa chung quanh ta đều được trao trả chủ quyền mà không phải đánh nhau sứt đầu vỡ trán.”

Hoan nói tiếp:

“Nhưng không may cho đất nước ta, họ Hồ đã chẳng những không hợp tác xây dựng đất nước mà còn chiến đấu một mất một còn chống lại Bảo Đại lúc trước và Ngô Đình Diệm hiện thời. Đối với họ Hồ, dân tộc và đất nước không quan trọng bằng Đảng Cộng sản Quốc tế và cá nhân ông ta.”

Chai rượu đã cạn. Ba Hoan ngáp dài:

“Đi ngủ đi thôi, gần sáng rồi, có gì mai nói tiếp.”

Mọi người đứng dậy dọn dẹp rồi đi vào phòng riêng. Trước khi vào phòng, ba Hằng than thở:

“Tụi Việt Minh cộng sản làm ăn bậy bạ vậy đó mà dụ con Hằng nhà tui đi đâu mất tiêu, chẳng biết sống chết thế nào, nghĩ tới là tức chết đi được.”

Nghe ba Hằng than thở, Hoan tưởng chừng một tảng đá vừa rơi xuống đè nặng trên tim. Xoay người đi về phòng mình, Hoan cố che giấu dòng nước mắt sắp trào ra.

* * *

Mặt trời chưa ló dạng, Hoan đã mặc đồ tắm chạy một mạch lao mình xuống làn nước biển trong xanh. Biển Nha Trang êm đềm, sóng lao xao vỗ rì rầm lên bờ cát. Hoan sãi tay bơi một mạch ra xa cho đến lúc chỉ còn chóp đầu nhấp nhô trên mặt nước. Hồng và to như một chiếc đĩa bàn lớn nhích chầm chậm lên khỏi chân trời, mặt trời ló dạng trông thật gần tưởng chỉ vài con sào là với tới. Như được chiếu ra từ một ngọn đèn pha cực mạnh, ánh mặt trời bình minh tỏa lên nền trời một chùm tia hình rẽ quạt màu hồng phấn dịu đẹp như tranh vẽ. Một giải mây tía vắt ngang chùm tia như nét điểm xuyết của họa sĩ cho bức tranh thêm phần sinh động. Bơi ngữa ngược vào bờ, Hoan say sưa nhìn bức tranh bình minh Nha Trang mà thiên nhiên đang vẽ ra, lòng tự nhủ:

“Phải chi lúc này có Hằng cùng bơi với mình.”

Bâng khuâng nhớ lại ngày thơ dại hai đứa được hai ba chở xe đạp ra Cửa Tùng lội biển nghịch nước, Hoan ngồi trên bãi cát nhìn mặt trời đang từ từ lên cao. Ánh bình minh hồng đã bị xóa tan, trên không chỉ còn lại mặt trời tròn sáng chói. Bầu trời trong xanh không một gợn mây. Tiếng người tắm biển đùa nghịch gợi Hoan nhớ lại tiếng cười của Hằng trong những ngày hạnh phúc đó, tiếng cười trong trẻo dòn tan như bọt sóng vỡ khi chạm vào bờ.

Đi vào một quán nhỏ, Hoan gọi một tách cà phê đen. Hoan lại nhớ Hằng. Kỉ niệm thơ ấu lại ùa về: nụ hôn vụng về đặt trên má, ánh mắt chan chứa lời hứa hẹn vào tuổi chưa biết nói lời hứa hẹn. Theo hương cà phê, Hoan để tâm hồn chìm vào một thế giới không không gian, không thời gian, chìm vào thế giới riêng. Dĩ vãng như đông cứng trong Hoan. Hoan chẳng còn ý thức được những gì đang xẩy ra chung quanh, tiếng ồn ào náo nhiệt của quán cà phê đông khách buổi sáng cũng chẳng lôi kéo được Hoan về với hiện tại. Chợt ba cô gái bước vào quán, một cô chừng trên hai mươi và hai cô trẻ hơn chừng mười bảy mười tám. Giọng nói tiếng Pháp ba người con gái đang líu lo đánh thức Hoan ra khỏi giấc ngủ hoài vọng. Hoan biết Collège Nhatrang còn dạy tại đây nhưng không ngờ vẫn còn người nói tiếng Pháp nơi công cộng. Hoan đã bỏ thói quen đó từ sau ngay Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước và phục hồi lại tinh thần quốc gia, phục hồi lại tình yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu tiếng mẹ đẻ. Trong quân đội, một số cấp trên của Hoan vẫn còn sính nói tiếng Pháp nhưng riêng Hoan, Hoan cố tình không nói tiếng Pháp nữa do ý thức được sự quan trọng của việc nói tiếng mẹ đẻ. Không biết từ lúc nào, câu nói của học giả Phạm Quỳnh in sâu vào tâm trí Hoan, Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn. Như một sự trùng hợp, quán cà phê đang cho phát bài Tình Ca, một ca khúc Phạm Duy viết năm 1953 về tình yêu tiếng Việt và yêu quê hương đất nước:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi,

Mẹ hiền ru những câu xa vời,

À à ơi! Tiếng ru muôn đời.

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi,

Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!

Tôi yêu tiếng ngang trời,

Những câu hò giận hờn không nguôi,

Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi,

Vững tin vào mộng đẹp ngày mai.

Hoan cúi xuống nhìn tách cà phê mỉm cười, nhấp một ngụm rồi quay về với kỷ niệm riêng tư vừa bị phá vỡ. Bỗng, một trong ba cô gái kéo ghế ngồi đối diện Hoan, chăm chú nhìn Hoan một thoáng rồi cất tiếng hỏi:

“Mais c’est toi, Hoan?”

Nhưng là anh đó sao, Hoan? Hoan nhìn lại. Trước mắt Hoan là một cô gái xinh đẹp, người nhiều tuổi nhất trong ba cô vừa bước vào quán. Cô gái cười, tiếng cười quen thuộc làm Hoan đứng bật dậy, reo lên:

“Ah, mon Dieu! Mais c’est toi, Jacqueline. Que fais-tu ici?”

Trời đất ơi! Nhưng chính là cô, Jacqueline. Cô làm gì ở đây? 

Jacqueline đứng lên nắm lấy bàn tay Hoan vừa đưa ra:

“Em bây giờ không phải là Jacqueline nữa.”

Hoan ngạc nhiên nhìn cô gái:

“Không Jacqueline thì là gì? Bộ cô đổi theo tên chồng rồi sao?”

Cô gái cười dòn:

“Mới gặp em đã hoảng, sợ em có chồng. Không phải vậy đâu, em đổi lại tên Việt thôi. Hú hồn chưa?”

Hoan cười:

“Sao Hoan phải hú hồn? Vậy tên Việt là gì?”

“Đoan Trang. Phan Đoan Trang, không có thị thiếc gì cả.”

“Hay, Đoan Trang. Mà Đoan Trang có đoan trang thật không? Khoan đã, chuyện gì còn đó, Đoan Trang dùng gì nào?”

Đoan Trang không trả lời Hoan, gọi với hai cô gái ở bàn khác bằng tiếng Pháp:

“Qua đây mấy đứa.”

Đoan Trang giới thiệu bằng tiếng Việt:

“Anh Hoan này, đây là hai cô em họ của em, MargueriteJoséphine. Em hiện đang trọ nhà cô dượng em tức ba mẹ hai đứa này.”

Hai cô gái trẻ bước vội lại đưa tay cho Hoan bắt, nói một cách rất đầm:

“Comment çà va?”(Anh khỏe không?)

 Hoan bắt tay, trả lời bằng tiếng Việt:

“Chào hai cô, mời hai cô ngồi. Trang và hai cô dùng gì nào.”

Hai cô gái nhìn Đoan Trang, Marguerite điềm đạm trong khi Joséphine xem chừng láu lỉnh hơn, hỏi Đoan Trang chẳng cần đắn đo:

“Mais comment? Il ne peut parler français?”

Sao vậy? Anh chàng không biết nói tiếng Pháp à? Đoan Trang cười lớn:

“Hai đứa ngồi xuống đi. Tụi bay chẳng biết trời đất cao dày, mới học troisième mà đã coi trời bằng vung rồi.”

Làm bộ không hiểu, Joséphine bảo Trang:

“Qu’est-ce que tu dis? Je ne comprends pas.”(Chị nói gì, em không hiểu). 

Đoan Trang cười, nhìn hai cô gái:

“Hai đứa bay lộn xộn. Anh Hoan trước đây học Providence, trên chị hai lớp, sau đó cũng học Collège Nha Trang và đã đổ Bac Deux. Mấy đứa nói tiếng Pháp không lại anh ấy đâu, đừng tự phụ.”

Hoan chặn lời:

“Tôi học Lycée Yersin Đà Lạt, không học Nha Trang.”

Quay qua Hoan, Đoan Trang nói:

“Em xin lỗi anh Hoan, mấy đứa nhỏ quậy quá.”

“Không sao cả, tuổi trẻ ai mà chẳng thế. Ba cô uống gì?”

Sau khi gọi thức uống, Hoan nói:

“Mấy chị em đi tắm?”

Marguerite nhanh nhẩu:

“Anh Hoan lạ chưa, không đi tắm thì xuống biển làm gì? Tụi này vừa tắm lên.”

“Vậy thì hay qua, uống cà phê xong tôi mời mọi người đi ăn sáng.”

Hai cô gái trẻ reo lên:

“Très bien, trèx bien!”

Tốt quá, tốt quá! Hoan hỏi tiếp:

“Ba người muốn ăn gì? Phở gà Chợ Đầm?”

Đoan Trang nói, tùy anh, trong khi hai cô gái reo lên:

“Parfait!”(Tuyệt!) 

Hoan hỏi Đoan Trang:

“Sao Đoan Trang ở đây? Tôi tưởng cô ở Huế.”

Đoan Trang nghịch ngợm hỏi lại:

“Sao anh ở đây? Em cũng tưởng anh còn ở Huế.”

Hoan cười:

“Tại ba mẹ mình ở đây.”

“Vậy sao? Hai bác vào đây từ lúc nào?”

“Cũng đã mấy năm, trước khi mình vào Võ bị.”

Đoan Trang ngẫm nghĩ một chút rồi nói:

“Em nhớ rồi, anh có cho em biết.”

Tin tức khác...