Hoa rơi nước mắt

Đoan Trang cười:

“Vậy khi nào có dịp ghé, xin Thiếu tá cho biết, tôi sẽ mời Thiếu tá.”

Thiếu tá nhìn Đoan Trang mỉm cười:

“Hân hạnh cho tôi nhưng đến lúc có dịp chắc Chị chẳng còn ở đó nữa rồi.”

“Sao vậy Thiếu tá, sao tôi không ở đó nữa?”

Hoan cười thành tiếng:

“Có vậy mà em cũng chẳng hiểu.”

Đoan Trang nhìn Hoan rõ ràng không hiểu ý hai người. Hoan nói tiếp:

“Ý Thiếu tá nói lúc đó em đã chính thức là vợ anh và dọn vào Sài Gòn ở với anh rồi.”

Đoan Trang à lên một tiếng chợt hiểu ra, đôi má lại ửng hồng vì thẹn. Thiếu tá cầm đũa, nói:

“Ta ăn đi kẻo nguội.”

Sau bữa ăn sáng, khi về đến doanh trại, Thiếu tá bảo Hoan trước khi chia tay:

“Chúc mừng cậu, cậu tốt phước có cô vợ vừa đẹp vừa thông minh.”

Trong khi Đoan Trang bẻn lẽn chào giả từ, Hoan đưa tay chào Thiếu tá:

“Cám ơn Thiếu tá đã cho ăn sáng.”

Vào phòng trong, Đoan Trang bảo Hoan:

“Anh mời Thiếu tá dùng cơm với hai đứa mình hôm nào thuận tiện đi anh.”

Chương kết

Hoa Rơi Nước Mắt

Cảm thì hoa tiễn lệ

(Đỗ Phủ—Xuân Vọng)

Hoan viết thư về cho ba mẹ:

Kính thưa Ba Mạ,

Vâng lời Ba Mạ, con đã ngỏ lời với Đoan Trang và hai chúng con đã chấp nhận nhau, cho dẫu lòng con vẫn canh cánh tình cảm với Hằng. Con cũng đã cho Đoan Trang biết chuyện con với Hằng, phòng khi gặp lại Hằng con tránh được bối rối chẳng biết phải đối xử thế nào không khó xử cho Đoan Trang và cho cả Hằng. Con nghĩ Hằng sẽ hiểu lòng con, nhất là khi Ba Mạ và ba mạ Hằng phân giải giúp con. Đoan Trang rất cởi mở, không tỏ ra chút khó chịu nào về chuyện con với Hằng, thậm chí còn nói nếu gặp lại Hằng ngay bây giờ, Đoan Trang sẽ bằng lòng rút lui nhường chỗ cho Hằng. Cũng vì thế, Đoan Trang đã đồng ý thời gian một năm chuẩn bị cho hôn nhân của hai chúng con, cũng là kéo dài thêm một năm chờ đợi Hằng. 

 Chúng con xin Ba Mạ chuẩn bị Lễ Thành hôn cho hai chúng con vào quãng thời gian này, tức trước Noen năm sau. Xin Ba Mạ thu xếp để chừng tháng sáu tháng bảy ra Huế một lần gặp ba mạ Trang bàn tính chuyện chúng con. Mấy tháng đó Đoan Trang nghỉ hè, sẽ về Huế đón Ba Mạ. Riêng con, con sẽ cố gắng nhưng không chắc sẽ xin được phép. Nếu có phép, con sẽ tin Ba Mạ biết để mua vé máy bay cùng đi. 

Hoan viết thư khác cho ba mẹ Đoan Trang: 

Kính thưa hai bác,

Con kính lời chào thăm hai bác và thành thực xin lỗi vì đã lâu rồi con không viết thư thăm. Học xong Bac 2, con nhập Võ bị, ra trường chuyển qua Nhảy dù, và nay đã thăng cấp đại úy. Con may mắn gặp lại Đoan Trang ở Nha Trang, nơi ba mạ con đang sinh sống và chúng con đã nối lại tình cảm ngày trước. Con viết thư này xin phép hai bác chấp nhận cho con tìm hiểu Đoan Trang. 

Vào mùa hè năm tới, xin phép hai bác cho ba mạ con ra Huế thăm hai bác. Con sẽ cố gắng xin phép để về thăm hai bác cùng với ba mạ con. Mọi chuyện gì khác, ba mạ con sẽ thưa hai bác khi ra thăm.

Sau Noen, Đoan Trang về lại Nha Trang. Ngày tháng còn lại một mình, Hoan cảm thấy bối rối. Mọi chuyện xảy ra nhanh quá, chỉ trong mấy tuần, cuộc đời Hoan quay ngoắt 180 độ. Hoan yêu Đoan Trang nhưng lòng Hoan lại đầy ắp Hằng, vừa yêu thương vừa lo lắng cho số phận Hằng. Đã bao năm nay, Hoan không tìm được câu trả lời cho câu hỏi, Hằng làm gì nên tội để phải gánh chịu nỗi đau đớn như thế. Hoan hiểu Hằng bảo Hoan chờ năm năm ấy là bảo Hoan chờ Hằng mãi mãi vì theo Hoan năm năm chỉ là thời gian ước lệ nói thay cho thời gian vĩnh cửu. Nếu không vì thúc hối của ba mẹ đôi bên, Hoan sẽ chẳng bao giờ bỏ Hằng đến với bất cứ một ai. Từ khi biết thế nào là yêu, Hoan thấy lòng đau đớn mỗi khi nghĩ đến một người con gái không phải là Hằng. Giả như Hằng lập gia đình với người khác hay không còn trên cõi đời này nữa, lòng Hoan có lẽ sẽ không đau đớn bằng giờ đây chẳng biết Hằng vui buồn sướng khổ thế nào, cuộc đời đang đày đọa Hằng ra sao. Nếu nói mọi sự Thiên Chúa an bài thì sự an bài nào để Hằng phải chịu nỗi trái ngang oan nghiệt như thế? Nếu nói cuộc sống hôm nay là quả của nhân kiếp trước theo đạo Phật thì cái nhân nghiệp chướng nào sinh ra quả ngang trái hôm nay cho Hằng? 

Hoan vẫn tin tưởng vào vị Thiên Chúa của Kitô giáo mà Hoan tôn thờ nhưng vẫn không tìm được câu trả lời giúp Hoan hiểu tại sao Thiên Chúa mà Hằng cũng như Hoan tin tưởng lại bắt Hằng phải chịu số kiếp như vậy, chẳng khác nàng Kiều của Nguyễn Du phải cam chịu số mệnh Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Hằng chỉ ao ước một điều duy nhất là sống cuộc sống tầm thường của một người Việt Nam trên đất nước Việt Nam, yêu Hoan và sống bên Hoan. Thế thì tại sao Hằng phải chịu nhiều cay đắng? Tại sao bao nhiêu người như Hằng phải chịu nhiều cay đắng? Có phải Thượng đế đã chết rồi nên đau khổ tiếp tục tràn lan không? Hoan nhớ lại chuyện Tobia trong Cựu Ước, một người giàu có và tuân phục thánh ý của Thiên Chúa đã bị Thiên Chúa giáng cơn hoạn nạn, mất hết tài sản, thân thể thậm chí còn ghẻ lở đầy mình nhưng vẫn không mất lòng tin nên cuối cùng được Thiên Chúa hoàn trả lại mọi thứ đã mất. Liệu Hằng có được như thế không? Nếu có thì bao giờ? 

Có tiếng Lan làm Hoan giật mình:

“Anh Hai nghĩ gì mà em vào nãy giờ anh vẫn ngồi không nhúc nhích?”

Hoan trả lời: 

“Ủa, em hả? Anh đang suy nghĩ bâng quơ.”

Lan ngồi xuống cạnh Hoan:

“Bao giờ anh cưới chị?”

Hoan trêu Lan:

“Anh có chị rồi còn cưới ai nữa?”

Lan trả đũa:

“Chị nào anh có đâu? Anh chưa cưới thì chị Đoan Trang đâu phải là chị mà em đang hỏi.”

Hoan cười:

“Anh đùa thôi. Hè này, em có muốn ra Nha Trang với Ba Mạ rồi đi Huế thăm ba mạ chị Đoan Trang không?”

Lan nhảy lên, reo:

“Thật sao anh? Anh cho em ra Ba Mạ thật sao?”

Hoan nhìn Lan trìu mến:

“Em về xin phép mẹ em cho em đi, chỉ sợ mẹ em lo không có ai chăm sóc các em em.”

Lan nói ngay:

“Em nghĩ mẹ em cho phép, các em em lớn cả rồi có thể lo chuyện gia đình được.”

“Tụi nó con trai giúp được gì?”

Lan bỉu môi:

“Chỉ mình anh công tử chẳng biết làm gì. Nhà em nghèo, đứa nào cũng biết làm chuyện nhà.”

Hoan cười:

“Em lầm rồi, anh làm được mọi thứ, chỉ tại không ai cho làm thôi.”

“Vậy thì mai em không nấu cơm nữa, anh tự nấu lấy nghe.”

Hoan cốc đầu Lan:

“Thì cứ thử đi, xem anh có chết đói không.”

Lan né cú cốc đầu của Hoan, phụng phịu:

“Người ta lớn rồi mà cứ cốc đầu hoài. Em không nấu thì anh ra tiệm ăn, sao chết đói được.”

Hai anh em phì cười. Hoan nghĩ cũng lạ, từ việc đem lòng yêu Hoan, Lan chuyển thành tình anh em một cách tự nhiên, thay đổi ngay khi được Hoan cho biết ba mẹ Hoan nhận Lan làm con nuôi lo cho Lan ăn học. Chuyển biến lập tức của Lan làm Hoan ngạc nhiên không hiểu được tình cảm con người hoạt động như thế nào. Lan nói:

“Anh Hai cho em về thăm Ba Mạ, em mừng ghê. Mạ thì em gặp rồi lúc vào thăm anh, còn Ba thì chưa. Mà Ba khó không anh?”

“Ba không khó nhưng nghiêm. Ba hấp thụ hai nền học vấn, vừa Nho vừa Tây, không như anh em mình chỉ có một.”

“Nhưng anh biết chữ Nho, vậy cũng là hai rồi.”

Hoan cười:

“Chữ Nho của anh đổ không đầy lá mít. Phải chi hồi nhỏ anh chăm học với Ngoại, bây giờ có vốn chữ Hán để làm oai.”

“Tuổi trẻ ai mà chẳng vậy, anh Hai.”

Hoan nhìn Lan:

“Nhưng tuổi trẻ của em không được như vậy. Em phải cố mà học và thi cho đậu. Ba Mạ và anh giúp em không mong em đền đáp nhưng để em có điều kiện giúp các em của em.”

Lan lộ vẻ cảm động:

“Dạ, em biết mà anh Hai.”

“Thế thì tốt. Tháng mấy em thi?”

“Dạ, chắc tháng sáu.”

“Vậy anh tin cho Ba Mạ biết để mua vé máy bay đi Huế vào khoảng tháng bảy.”

“Dạ, cám ơn anh, em phải chuẩn bị.”

Hoan cười: 

“Còn hai tháng nữa, em chuẩn bị gì sớm vậy?”

Lan cười bẻn lẽn:

“Tại em mừng quá mà anh Hai.”

Rồi để khỏa lấp, Lan đứng lên nói:

“Em vào nấu cơm.”

“Khoan đã, lấy cho anh chai bia.”

Lan mở tủ lạnh lấy bia đặt lên bàn mời Hoan rồi đi vào bếp. Hoan lại ngồi suy nghĩ vẫn vơ cho đến khi nghe Lan nói:

“Mời anh Hai dùng cơm, bữa nay em kho gà sả ớt, món anh thích đó.”

“Thế có phao câu cho anh không?”

Lan cười:

“Không có để chết với anh sao.”

Trong bữa cơm, chẳng hiểu nghĩ gì, Lan đột nhiên lên tiếng:

“Anh Hai nè, em thấy mới một năm mà đất nước mình tiến thấy rõ, cuộc sống thoải mái hơn nhiều.”

“Em thấy sao mà nói vậy?”

“Không phải sao anh? Tô phở ba đồng, li xây chừng đồng ruỡi, trong khi người đạp xích lô kiếm ngày năm chục không phải là chuyện khó.”

“Hóa ra em cũng quan tâm đến tình hình đất nước nữa sao?”

Lan cười:

“Anh Hai, em sắp thi Tú tài một rồi, đâu phải con nít nữa.”

Hoan nhấp một ngụm bia, gắp miếng thịt gà:

“Ngon, công nhận em gái anh nấu ăn ngon. Không biết sau này chị Đoan Trang có nấu ăn được như vậy không.”

Lan cười:

“Anh đừng lo. Anh cưới chị về, em sẽ tiếp tục nấu cơm cho anh chị ăn.”

Hoan gạt ngang:

“Nói bậy, em học xong, lên đại học rồi còn phải lấy chồng, ở vậy với anh chị sao được.”

Lan lắc đầu:

“Em không lấy chồng đâu, ở vậy trả ơn cho Ba Mạ và anh chị.”

Hoan phì cười:

“Con bé này, ai bảo em nghĩ vậy? Anh đã chẳng bảo em nhiều lần Ba mạ nhận em làm con đâu cần em báo đáp.”

Lan lắc đầu:

“Nhưng phận làm con, em đâu có thể nghĩ khác hơn.”

“Khác không khác gì cũng được, nhưng đừng nghĩ đến chuyện ở vậy lo cho anh chị. Anh chị đâu phải không còn chân tay.”

Lan phì cười:

“Anh chị mà không chân tay thật thì em chẳng những không lấy chồng mà còn làm đầy tớ cho anh chị suốt đời.”

Hoan cốc đầu Lan:

“Lại nói bậy. Bây giờ nói chuyện đứng đắn. Em ráng học thi cho đậu. Thi xong, em đi Nha Trang rồi cùng Ba Mạ ra Huế thăm ba mạ chị Trang.”

“Ba Mạ ra xin cưới?”

“Ba Mạ ra coi như đi lễ hỏi, rồi xin cưới.”

“Anh chị định bao giờ?”

“Trước Noen năm tới.”

Lan nhoẽn miệng cười:

“Em chúc mừng anh chị trước. Xem nào, em phải tặng quà gì cho anh chị đây? Áo gối thì thường quá. Để em xem.”

Hoan nói:

“Quà cáp làm gì, em học cho giỏi, thi cho đậu tú tài 2 năm tới, đó là quà cưới cho anh chị rồi.”

Lan quả quyết:

“Học và thi là bổn phận của em, em không giỏi không đậu thì anh chị đánh đòn, đâu gọi là quà được.”

Hoan nhìn Lan:

“Em giỏi lắm. Thôi, thu dọn rồi về học bài.”

Lan đi rồi, Hoan ngồi một mình nhâm nhi li bia, lòng lại xao xuyến nhớ Hằng rồi nhớ Đoan Trang. Vẫn vơ, Hoan cười một mình:

“Phải chi như ngày xưa được lấy nhiều vợ để như Kim Kiều tái ngộ, giờ cưới Đoan Trang rồi sau này nếu may mắn gặp Hằng thì cưới Hằng, phong làm Đông cung Tây cung, chẳng ai trên ai dưới cả. Vậy mình sướng như… vua!”

* * *

Mẹ Hoan bảo mẹ Hằng:

“Tôi định nói nhà tôi gửi thư nhờ vợ chồng bạn nhà tôi nơi Hoan trọ học lúc trước chuẩn bị cho mình ở tạm để đi đến nhà Đoan Trang, chị thấy thế nào?”

Mẹ Hằng nói:

“Em không biết anh chị ấy có kiêng cử gì không.”

“Tôi nghĩ anh chị ấy Công giáo nên không kiêng cử gì.”

Mẹ Hằng ái ngại:

“Em nghĩ khác, dù anh chị không kiêng cử nhưng bổn phận mình cũng cần dè dặt vì anh chị còn con trai con gái lớn cả rồi. Người Việt mình vẫn có tục không cho mượn nhà để cưới xin sợ trở ngại nhân duyên của con cái sau này.”

“Vậy theo chị mình nên làm thế nào?”

“Em đề nghị mình nhờ anh chị đặt lễ vật nhưng mướn phòng khách sạn để ở, ít nhất một ngày trước đám cưới.”

“Chị tính vậy mà hay, tôi nghe lời chị. Để tôi bảo nhà tôi mua vé máy bay cho cả hai nhà mình cùng đi.”

Mẹ Hằng lắc đầu:

“Không, đừng chị, vé của vợ chồng em để tụi em lo. Công ơn anh chị lo cho vợ chồng em trước giờ chưa trả được, vợ chồng em đâu dám phiền anh chị.”

Mẹ Hoan gạt đi:

“Chị làm gì mà tuế toái vậy? Anh chị với vợ chồng tôi thì cũng như một thôi.”

“Biết là thế nhưng xin anh chị cho em được chia sẻ trong chuyện này. Thằng Hoan thì cũng như con em, vợ chồng em cũng phải chung tay lo, phải không chị?”

“Chị nói thế thì tôi hết cách. Vậy để hai ông đi mua vé cho khỏi sai ngày.”

Đến Huế hai ngày trước ngày lễ cưới của Hoan, hai gia đình mướn hai phòng khách sạn. Hoan đã ra Huế trước đó một ngày và ở lại nhà Đoan Trang cho đến ngày cưới mới về khách sạn đi cùng ba mẹ. Sáng hôm sau ngày đến Huế, mẹ Hoan bảo mẹ Hằng:

“Chị đi với tôi đến tiệm Hương Loan lấy áo cưới cho Đoan Trang và đám phù dâu rồi đưa qua nhà ba mạ cháu. Cháu nhờ tôi chuyện đó.”

“Sao Đoan Trang không tự đi lấy?”

“Tôi hiểu ý cháu, cháu muốn cho ba mạ cháu thấy vợ chồng tôi cháu.”

“Chị nói có lý, con bé tinh tế thật. Thằng Hoan có phước.”

“Tôi cũng nghĩ thế.”

Mẹ Hằng rơm rớm nước mắt:

“Chị tha lỗi, em thương Hoan nhưng không tránh khỏi chạnh lòng nghĩ tới Hằng con em.”

Mẹ Hoan an ủi:

“Tôi cũng không khác chị, cũng thấy tội nghiệp cho Hằng, và cho cả Hoan nữa. Nếu không nghe lời anh chị và vợ chồng tôi, chắc Hoan ở vậy chờ Hằng.”

“Em hiểu, em hiểu, em biết Hoan vẫn thương Hằng.”

***

Đến tiệm may Hương Loan, bác xích lô ghé mũi xe lên lề đường để hai người đàn bà bước xuống. Đảo mắt tìm tiệm, mẹ Hoan bảo mẹ Hằng:

“Chà, tiệm coi đẹp thật.”

Hai người bước vào tiệm, đưa biên lai xin nhận áo quần. Một cô thợ đon đả kéo ghế mời ngồi, rót hai tách trà, rồi nói:

“Mời hai bà dùng trà chờ chị Loan con một chút. Chị con lên Gia Long mua vải, có dặn mời ngồi chờ một lát nếu hôm nay có ai đến lấy hàng.”

Uống chưa cạn tách trà, hai bà nghe tiếng đon đả chào:

“Con chào hai bác. Xin lỗi đã để hai bác chờ.”

Hai người đàn bà đưa mắt nhìn lên. Mẹ Hằng đứng lên, nhìn Hương Loan không chớp mắt rồi bật chạy đến gần run run hỏi:

“Con… cô có phải …?”

Hương Loan lao lao tới ôm chầm:

“Mạ! Mạ! Trời ơi, Mạ! Răng Mạ biết con ở đây mà tới? Con Hằng đây Mạ. Cả Mạ nữa.”

Mẹ Hoan cũng ôm chầm lấy Hằng. Ba người xúc động đầm đìa nước mắt. Không một lời nói nào đủ để diễn tả cảm xúc đang dâng trào trong giây phút này. Cả thợ cả khách trong tiệm đều ngưng mọi công việc chăm chú nhìn ba người, bối rối không hiểu chuyện gì đang xẩy ra. Hương Loan—Hằng—buông hai mẹ ra:

“Hai mạ theo con vô phòng trong.” 

Ngồi trên giường giữa hai người mẹ, Hằng hỏi:

“Ba con đâu Mạ?”

Hằng đặt chỉ một câu hỏi nhưng mắt đảo rất nhanh từ mẹ nàng qua mẹ Hoan biểu lộ ý muốn hỏi đến ba của Hằng và cả ba của Hoan. Mẹ Hằng nói:

“Hai ba đang ở khách sạn.”

“Còn anh Hoan con?”

Nghe Hằng gọi anh Hoan con, hai người mẹ rơm rớm nước mắt. Mẹ Hoan nói:

“Hoan đi sĩ quan, lên đại úy, đang ở Sài Gòn.”

“Sao anh ấy không học tiếp mà đi lính?”

“Hoan vào trường Võ bị, ra trường nhập ngành Nhảy dù.”

Hằng nhìn mẹ Hoan không giấu vẻ kinh ngạc:

“Sao lại Nhảy dù?”

Mẹ Hoan nhìn Hằng:

“Vì Hoan hy vọng có ngày nhảy xuống chiến khu cứu con.”

Hằng bật khóc:

“Lạy Chúa con! Anh Hoan ơi!”

Để yên cho Hằng khóc cho vơi nỗi đau đớn. Lát sau, Hằng nín khóc, sụt sịt hỏi:

“Sao hai mạ biết con đây mà tìm?”

Hai bà mẹ đưa mắt nhìn nhau, không biết phải nói ra sự thực bằng cách nào. Cuối cùng, mẹ Hoan hỏi Hằng:

“Sao con ở đây mà không tìm Ba Mạ.”

Hằng tóm lược thời gian ở chiến khu, việc được đưa về làng ngăn cản dân di cư vào Nam, việc nhờ Cậy lo cho vượt sông Bến Hải, việc vào được trại tạm cư Quảng Trị. Mẹ Hằng nói:

“Nhưng con vào Huế, học may lúc nào mà giờ mở tiệm?”

“Chuyện này con phải tạ ơn Chúa và cám ơn Cậy.”

Mẹ Hoan hỏi:

“Có phải cô Cậy đã chủ động đứng ra lo cho Ba con về không?”

“Dạ, hắn đó.”

“Vậy cô ấy có ở đây không?”

“Dạ không. Con có rủ Cậy nhưng Cậy còn cha mẹ già không ai lo nên không theo con được.”

Hằng thuật lại chuyện Cậy viết hai thư giới thiệu, một gửi nhờ cậu của Cậy ở Quảng Trị, một gửi nhờ chú cũng của Cậy ở Huế. Để tránh Việt Minh truy ra tung tích Hằng cũng như tránh Quốc gia biết được Hằng đã từng là cán bộ Việt Minh, cậu của Cậy khuyên Hằng thay tên đổi họ, đổi cả tên cha mẹ và quê quán, lấy theo dòng họ quê quán của cậu. Cậu tìm cách xin cho Hằng giấy Thế vì Khai sinh và Căn cước là các giấy tờ hành chánh được cấp tương đối dễ dàng lúc đó nhằm hợp pháp số người di cư đông đảo chưa từng có hoặc đã mất hết giấy tờ lúc chạy loạn. Hằng mang họ Nguyễn theo họ của cậu Cậy, mang tên mới Hương Loan. Cậu giải thích Hương là sông Hương ở Huế, Loan là một phần của Di Loan, một làng tương đối tiếng tăm giữa quê hương Hằng và quê hương cậu. Hằng chấp nhận ngay tên cậu đặt cho vì nhận ra do tình cờ sắp đặt nếu đọc lái Hương Loan thành Hoan Lương, tên mới của Hằng sẽ gồm tên Hoan và tên tổng Hiền Lương cũng là tổng của quê hương Hằng. Mẹ Hằng xúc động ôm con:

“Vậy sao con không ở Quảng Trị với cậu của Cậy mà vào Huế? Con học may ở đâu?”

“Dạ, cậu của Cậy giúp cho con vào Huế gặp chú của Cậy. Cậu nói vào Huế có nhiều cơ may hơn ở Quảng Trị và cũng khó có thể gặp người quen hơn ở Quảng Trị.”

“Rồi con xoay xở làm sao?”

“Dạ, con ở với cậu cho đến khi xong giấy tờ rồi vào Huế gặp chú. Chú gửi con cho một người họ hàng của chú có tiệm để học may. Sau ba bốn năm học rành nghề, làm công, và giành giụm, con xin ra mở tiệm riêng.”

Mẹ Hoan hỏi:

“Tiệm này?”

Hằng cười:

“Dạ, đâu có. Thoạt đầu, con mở một tiệm nhỏ gần chợ An Cựu để thử sức. Con may ở đó chừng hơn năm, thấy có khách nên tìm chỗ mở tiệm lớn hơn.”

“Rứa răng con chọn chỗ Gia Hội ni?”

“Dạ lý do chính là giá tiền thuê nhà vừa sức con, hai là Gia Hội nhiều người qua lại, ba là gần nhà thờ thuận tiện cho con đi Lễ.”

Mẹ Hằng hỏi:

“Giờ tiệm này con vẫn còn thuê?”

Hằng lắc đầu:

“Dạ không, con mua lại rồi. Chủ nhà vào Sài Gòn nên bán rẻ cho con, trả góp thành mấy kỳ.”

“Mạ không ngờ con gái Mạ giỏi xoay xở. Vậy sao con không tìm Ba Mạ?”

Hằng không trả lời mà hỏi ngược lại mẹ:

“Thế sao Ba Mạ không tìm con?”

Mẹ Hằng rơm rớm nước mắt:

“Mạ đã nhiều lần bàn với Ba đăng báo tìm con nhưng Ba nghĩ không nên.”

“Sao vậy Mạ?”

“Ba nói một là có thể có hại cho con nếu con còn ở chiến khu.”

“Sao lại có hại?”

“Tai mắt của Việt Minh nếu bắt được tin đăng báo sẽ biết chỗ ở của Ba Mạ, và sẽ gây khó cho con vì nghi ngờ con không trung thành.”

“Ba có lý.”

“Trường hợp con trốn thoát, chúng nó sẽ biết con ở chỗ nào để trà thù vì sợ con tiết lộ bí mật.”

“Ba hiểu Việt Minh.”

“Thêm nữa, còn có thể sinh hại cho chính con nếu con trốn thoát về thành vì Quốc gia có thể gây khó khăn cho con một khi biết con đã là cán bộ Việt Minh.”

“Đúng Ba chu đáo.”

“Ngoài ra, Ba nói còn có thể có hại cho cả Ba.”

“Sao hại cho Ba?”

“Nếu Quốc gia biết Ba có con là cán bộ cộng sản dù đang ở chiến khu hay đã trốn về đều có thể không cho Ba tiếp tục làm việc. Giai đoạn chính phủ mới thành lập này, người ta gạn lọc kỹ lắm.”

“Vậy sao Mạ?”

“Nếu có thân nhân tập kết hoặc đã là cán bộ Việt Minh cộng sản, không ai được nhận vào học các trường sĩ quan, hạ sĩ quan, không được tuyển làm nhân viên công an, cảnh sát, hoặc hành chánh, càng tuyệt đối không được giữ các chức vụ quan trọng.”

Hằng nhìn mẹ:

“Ba con nghĩ chu đáo. Cũng vì vậy nên cậu của Cậy mới đổi tên họ cho con.”

Mẹ Hoan hỏi Hằng:

“Phần con trốn về được sao không tìm Ba Mạ?”

Hằng rướm nước mắt:

“Con biết chỗ nào mà tìm. Con chỉ biết duy nhất một việc là anh Hoan con học trường Providence nên một vài lần đã đến hỏi thử cầu may dù biết chắc sẽ không có tin tức vì anh con ra trường đã lâu.”

Mẹ Hoan gật đầu:

“Đúng rồi, con tìm sao ra chỗ ở của Hoan vì Hoan vào Nha Trang rồi lên học Đà Lạt sau khi ba Hoan được thả về.”

Hằng nói tiếp:

“Phần khác, nếu con còn mang tên Hằng, may ra có người tình cờ gặp Ba Mạ và cho Ba Mạ biết tin con. Khổ nỗi, con đã đổi tên đổi họ, đổi cả tên Ba Mạ cả quê quán rồi.”

Ba người im lặng. Lát sau mẹ Hằng hỏi:

“Vậy bây giờ cậu và chú của Cậy ở đâu?”

“Cậu vẫn ở Quảng Trị, mỗi dịp vào Huế đều ghé thăm con.”

“Con có ra thăm cậu mợ không?”

“Dạ có, năm nào con cũng về thăm ít là một lần. Tết nhất con đều gửi quà cho cậu mợ và các em.”

“Còn chú?”

“Chú bây giờ đổi vô Đà Nẵng, con cũng thăm chú và gửi quà như vậy.”

“Vậy con coi đưa Ba Mạ thăm cậu thăm chú.”

“Dạ, tháng ni con hơi bận, bận cho đến Tết. Hay Mạ ở lại đây chơi với con, sau Tết con đưa Mạ đi?”

Mẹ Hằng suy nghĩ rồi nói:

“Để Mạ bàn lại với Ba, xong công chuyện Ba về trước, Mạ đổi vé lại với con một thời gian.”

Mẹ Hoan nói:

“Đúng đó, ra Hãng đổi vé lại, trả thêm tiền cho họ.”

Hằng cười:

“Không sao đâu, con quen mấy cô bán vé ở Hãng, đổi không khó đâu. Nhưng Ba Mạ ra đây có công chuyện là công chuyện gì? Mà sao lại ghé con lấy áo cưới, lấy cho ai vậy?”

Hai người mẹ nhìn nhau, chẳng biết phải cho Hằng biết tin đau đớn này bằng cách nào. Hôn nhân của Hoan và Đoan Trang không còn cách nào tháo gỡ mà không gây nhiều phiền phức và nhất là gây tổn thất tinh thần. Họ nhà gái không thể nào chấp nhận việc hồi hôn như vậy vì đó là một sỉ nhục lớn cho đại gia đình nhà gái theo phong tục người Việt nhất là người Huế. Ông Trời thật oái oăm, sao không cho gặp lại Hằng vài năm về trước? Nhận thấy hai mẹ nhìn nhau bối rối, Hằng ngạc nhiên hỏi lại:

“Có chuyện gì vậy hai mạ?”

 Cuối cùng, mẹ Hoan đến cạnh Hằng:

“Con ngồi xuống cạnh Mạ đây, Mạ nói cho con chuyện này.”

Hằng ngoan ngoãn ngồi xuống, tim đập mạnh vì đoán chắc là một chuyện không vui. Mẹ Hoan vuốt tóc Hằng:

“Mạ đến lấy áo cưới cho Đoan Trang.”

Hằng ngạc nhiên:”

“Đoan Trang? Sao Mạ lấy cho Đoan Trang? Đoan Trang nhờ Mạ sao?”

“Đúng, Đoan Trang nhờ Mạ.”

Hằng trố mắt nhìn mạ Hoan:

“Con không hiểu, Đoan Trang vì lý do gì lại nhờ Mạ?”

Mẹ Hoan nín lặng một chút, bối rối tìm lời rồi bật ra nói:

“Vì Đoan Trang là con dâu Mạ.”

Hằng thét lên một tiếng rồi ngã vật xuống. Hai người mẹ hốt hoảng bế Hằng đặt lên một chiếc giường trong khi các cô thợ và cả một vài khách hàng đang có mặt trong tiệm chạy ùa vào hỏi chuyện gì xẩy ra. Mẹ Hằng hỏi một cô thợ xin dầu rồi xoa lên trán, lên thái dương, rồi vừa giật nhẹ tóc vừa tíu tít gọi tên Hằng trong khi mẹ Hoan trấn an mọi người:

“Xin lùi lại cho thoáng, chẳng có gì đâu, cháu nó đi về say nắng, lát tỉnh lại thôi.”

Mọi người lui ra cho dẫu vẫn chưa hết thắc mắc nhất là các cô thợ vì vừa nghe Hương Loan gọi cả hai người đàn bà là mẹ. Một hồi sau, Hằng mở mắt, thở ra một hơi thật dài rồi bật khóc. Mẹ Hằng từ từ đỡ Hằng gối lên đùi. Hằng vùi đầu vào lòng mẹ khóc nức nở. Mẹ Hằng vuốt tóc con gái, vừa đưa tay lau nước mắt cho con vừa luôn miệng bảo Hằng:

“Thôi con, nín đi con, nín đi con.”

Mẹ Hoan ngồi một bên nắm bàn tay Hằng, chẳng biết phải nói gì để an ủi. Chừng hơn một giờ sau, Hằng nín khóc ngồi thẳng người lên, nhìn hai bà mẹ với đôi mắt thất thần. Mẹ Hằng nói:

“Thôi con, con bình tĩnh lại để Mạ nói mọi việc cho con hiểu.”

Hằng lấy lại bình tĩnh, uống tách nước mẹ đưa cho rồi hỏi với đôi mắt ráo hoảnh:

“Con bình tĩnh rồi, hai mạ nói cho con biết chuyện gì đang xẩy ra.”

Mẹ Hằng vòng tay ôm con, chậm rãi thuật lại chuyện cả hai gia đình thúc bách Hoan phải lập gia đình, chuyện Hoan nhất quyết chờ đợi Hằng, và cuối cùng phải miễn cưỡng vâng lời ba mẹ hai bên sau thời hạn năm năm Hằng muốn Hoan chờ đợi. Thấy Hằng đã nhiều phần bình tĩnh, mẹ Hoan nói thêm:

“Con biết Hoan vẫn một lòng thương yêu và chờ đợi con, chỉ lập gia đình vì ba mạ hai bên bắt buộc.”

Mẹ Hằng nói thêm:

“Đoan Trang và Hoan quen biết nhau đã nhiều năm từ ngày Hoan còn học ở Huế nhưng Hoan vẫn nhất quyết không tiến thêm. Giờ đây, khi vâng lời thuận cưới Đoan Trang, Hoan đã không ngần ngại cho Đoan Trang biết chuyện của Hoan và con.”

Hằng nói trong nước mắt: 

“Rồi Đoan Trang nói sao, Hoan có nói cho hai mạ biết không?”

Mẹ Hoan nói:

“Có, Đoan Trang nói nếu Hoan gặp lại con, Đoan Trang sẽ vui lòng rút lui.”

Câu nói làm nét mặt Hằng thoáng tươi lên một chút rồi trở lại âm u. Hằng nhìn hai mẹ:

“Vậy bây giờ con phải làm sao đây?”

Mẹ Hoan nhìn mẹ Hằng rất nhanh rồi nhìn Hằng:

“Con tha lỗi cho Mạ. Chuyện bây giờ rất khó xử. Mạ chắc chắn khi nghe tin gặp lại con, Hoan sẽ từ chối Đoan Trang để ngay tức khắc quay lại với con.”

Hằng gục đầu lên vai mẹ che giấu suy nghĩ đang đối chọi nhau trong tâm trí. Hai người mẹ im lặng nhìn nhau, chẳng biết phải nói gì làm gì vào lúc này. Im lặng nặng nề bao trùm căn phòng nhỏ đến độ có thể nghe rõ tiếng thở dù cố kiềm hãm thật nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng Hằng ngồi thẳng người nhìn lên trần nhà rồi nhìn hai mẹ với đôi mắt vô hồn. Không biết đến bao lâu sau, Hằng đột nhiên rời vai mẹ bước đến ghế ngồi, rót nước uống, rồi nói với giọng cương quyết:

“Con nghĩ ra rồi, hai Mạ đừng cho anh Hoan con biết đã gặp lại con.”

Hai người mẹ nhìn nhau, chẳng biết nên khen ngợi tán thưởng vì Hằng đã giải quyết một việc khó giải quyết hay nên khuyên Hằng phải làm thế nào khác. Mẹ Hoan e dè nói:

“Ý con là sao?”

Hằng nhấp thêm ngụm nước rồi nói, giọng chắc nịch:

“Con nghĩ kỹ rồi, con không muốn làm tan vỡ hạnh phúc của anh Hoan con và nhất là của Đoan Trang. Không ai có lỗi gì trong chuyện này.”

Mẹ Hoan nói:

“Con tha lỗi cho Mạ. Mạ thật không biết phải nói thế nào vì chẳng biết tại sao ý Chúa lại để xẩy ra như vậy. Phải chi Chúa cho hai con gặp lại nhau một năm về trước, vẫn khó xử nhưng không phải không có lối thoát.”

Hằng cắn môi, nhìn hai mẹ:

“Vậy là đã quyết. Xin hai gia đình tuyệt đối không lộ ra cho anh Hoan con biết đã gặp lại con.”

Mẹ Hoan nói:

“Mẹ cám ơn con đã hy sinh để khỏi phải gây phiền toái nếu Ba Mạ phải từ hôn Đoan Trang. Con biết chuyện cưới xin hệ trọng với đời một người con gái, cách riêng con gái Huế.”

Hằng nói:

“Con quyết định rồi, hai mạ yên tâm.”

Hằng im lặng nhìn hai mẹ rồi nhẹ nhàng hỏi:

“Ngày nào cưới vậy hai mạ?”

“Ngày mai, lúc 11 giờ tại nhà thờ Gia Hội vì gia đình Đoan Trang ở gần đây cạnh chùa Diệu Đế.”

Hằng ngước mắt nhìn hai người mẹ:

“Đây là chuyện trời xui đất khiến, số phận con như vậy con đành chịu vậy không thể cãi lại mệnh trời.”

Hằng suy nghĩ rồi nói tiếp:

“Hai mạ nghĩ có nên cho hai ba biết đã gặp con không hay để sau đám?”

Hai người mẹ nhìn nhau chẳng biết phải làm thế nào. Không cho biết thì ấm ức trong lòng dù chỉ một ngày phải giấu kín. Cho biết thì hai người đàn ông có thể không giữ bình tĩnh được để lộ ra ngoài. Thấy hai mẹ không trả lời, Hằng quả quyết:

“Con nghĩ hai mạ giấu luôn cho hết ngày mai để hai ba khỏi lo lắng mất bình tĩnh. Riêng anh Hoan con thì tuyệt đối không cho biết gì cho đến chết để anh con sống được hạnh phúc. Anh con mà biết tin đã gặp con thì nhất quyết không thể ở yên, và suốt đời không thể có hạnh phúc.”

Mẹ Hằng nhìn con chua xót:

“Mạ nghĩ con đúng, đã hi sinh thì hi sinh cho trót. Tối mai xong mọi chuyện hai mạ mới cho hai ba biết.”

Suy nghĩ một lát, mẹ Hằng nói tiếp:

“Mạ nghĩ mãi vẫn không biết làm sao giấu được Hoan nếu Mạ ở lại với con ngay sau đám cưới.”

Hằng nói ngay như đã tính toán sẵn:

“Ba mạ cứ về, con mua vé máy bay gửi vào ba mạ ra với con sau, như vậy anh Hoan con chẳng biết gì.”

Sau khi lấy hết bình tĩnh để giải quyết chuyện cần thiết, Hằng lại khóc:

“Đời sao quá éo le, ngày ở xa mà hai con lại gần nhau, giờ bên nhau mà chẳng được gần nhau, cũng chẳng bao giờ lại được gặp nhau.”

Mẹ Hằng vuốt tóc Hằng, an ủi:

“Thôi con đừng buồn nữa, cũng là phận số thôi con.”

Hằng bực bội nhìn hai bà mẹ:

“Phận số? Hai mạ nghĩ coi phận số gì lạ lùng đến độ con may áo cưới cho người sắp là vợ của người yêu con và của cả người con yêu?”

Hai người mẹ òa khóc trong khi Hằng ngồi yên như một pho tượng nhìn lên trần nhà với đôi mắt rảo hoảnh và vô hồn.

* * *

Người giữ nhà thờ Gia Hội quen gọi là ông Từ ngạc nhiên thấy một người con gái vóc dáng thon thả mặc trang phục đen, đầu trùm một chiếc khăn cũng đen đến dự Thánh Lễ hôn phối của đôi bạn sáng thứ bảy. Ông đã chứng kiến biết bao nhiêu Thánh Lễ hôn phối với biết bao nhiêu phụ nữ tham dự trong trang phục đủ kiểu đủ màu nhưng chưa từng thấy một ai trong trang phục màu đen. Cô gái không đến nhà thờ sớm như mọi người để gặp nhau trò chuyện mà chỉ đến khi cô dâu chú rể đã tiến lên bàn thờ trong tiếng đàn tiếng hát bắt đầu Thánh Lễ. Càng ngạc nhiên hơn, ông nhận thấy cô gái không ngồi vào ghế khách tham dự mà đứng nép mình sau chiếc cột cánh trái cuối nhà thờ. Trong khi Thánh Lễ diễn ra, ông chú ý quan sát thấy người con gái thỉnh thoảng lấy khăn lau nước mắt. Ông tự hỏi:

“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng? Dự Lễ hôn phối răng lại khóc?”

Ông chú ý là vì ông biết gia đình Đoan Trang, cô dâu trong Thánh Lễ hôm nay. Gia đình cô dâu ở gần đây; mẹ cô dâu là một trong những người thỉnh thoảng giúp đỡ ông về tài chánh vì đồng lương ông nhận được từ nhà thờ không là bao nhiêu. Thánh Lễ hôn phối diễn tiến như mọi Thánh Lễ khác với các bài đọc Lời Chúa và bài giảng của linh mục chủ tế rồi đến phần chính, phần cô dâu chú rể tuyên bố lời thề hôn nhân và trao nhau nhẫn cưới. Sau lời thề của chú rể Nguyễn Hân Hoan, cô dâu Phan Đoan Trang nói:

“Em, Têrêxa Phan Đoan Trang, nhận anh Phaolô Nguyễn Hân Hoan làm chồng và hứa giữ lòng chung thủy với anh khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày trong suốt đời em cho đến khi sự chết chia lìa chúng ta.”

Sau lời hứa là nghi thức trao nhẫn cưới, Hoan vừa đeo nhẫn vào ngón áp út của Đoan Trang vừa nói:

“Em, Têrêxa Phan Đoan Trang, xin nhận chiếc nhẫn này làm bằng chứng tình yêu của anh. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”

Ông Từ mở tròn mắt khi thấy cô gái trong trang phục toàn đen hình như cũng mấp máy môi đọc lời hứa chung thủy như Đoan Trang đang đọc, và khi Hoan trao nhẫn cho Đoan Trang, hình như cô gái cũng móc từ túi mình ra một chiếc nhẫn, tự đeo vào ngón áp út của bàn tay trái mình, miệng lẩm nhẩm gì đó ông không thể nhận ra được. Ông Từ lau lại đôi kính lão trễ trên sống mũi vì nghĩ ông nhìn lầm do kính ố mờ. Đeo kính lên mắt, ông lẩm bẩm:

“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”

Ông Từ không thể không kín đáo quan sát người con gái kỳ lạ, định bụng sẽ hỏi cho biết khi tan Lễ. Quay xuống từ bàn rước Thánh Thể, ông đi thẳng đến cuối nhà thờ, dáo dác tìm nhưng chẳng thấy cô gái đâu nữa. Không nén được tò mò, Lễ vừa xong, ông đi vội ra cổng hỏi mấy bà bán hàng rong xem có người nào thấy một cô gái như vậy không. Bà ngồi sát cổng nói ngay:

“Có, cô ấy đi về rồi, ra khỏi cổng cô ấy rẽ trái theo đường Chi Lăng, vừa đi vừa khóc thút thít.”

Ông Từ hỏi lại:

“Rứa nghĩa là răng? Bà nói chắc không? Cô nớ răng mà khóc?”

Bà khác nói thêm:

“Tui rõ ràng thấy cô nớ khóc, mà còn nhận ra cô nớ là ai nữa đó.”

Các bà chung quanh nhao nhao hỏi:

“Ai rứa? Đi đám cưới răng mà khóc?”

Người đàn bà ra bộ khoan khoái vì khám phá được một chuyện bí mật:

“Tôi thấy hình như đó là cô chủ tiệm may Hương Loan.”

Nhiều tiếng ồ rộn lên rồi một bà nói:

“Rứa nghĩa là răng? Cô nớ che khăn đen kín mặt răng bà nhận ra chắc được?”

Ông Từ trở lại cổng đi vào Nhà Thờ, vừa đi vừa lẩm bẩm:

“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”

* * *

Thánh Lễ đã xong. Chụp hình đã xong. Cô dâu chú rể đang tươi cười hớn hở đứng trên bục trước cửa nhà thờ nhận lời chúc mừng của mọi người trong tiếng pháo nổ vang rền. Xác pháo tung tóe nhuộm đỏ sân nhà thờ. Khách dự đám cưới vui vẻ chào hỏi trò chuyện, không ai để ý đến ông Từ lủi thủi đi vào Nhà Thờ, miệng không ngớt lẩm bẩm:

“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”

 Trần Hữu Thuần

(Grand Rapids Michigan. Khởi sự viết vào 1 tháng 2, 2016)

 

Tin tức khác...