Gặp Hoàng Cầm

tác giả với Hoàng Cầm

Bài và ảnh: Trần Công Nhung

 

Hoàng Cầm với nàng Tiên Nâu

Nghe tên Hoàng Cầm là nhớ “Lá Diêu Bông”. “Lá Diêu Bông” như thế nào, chắc không ai biết mà ngay tác giả tìm suốt đời cũng không thấy “Lá Diêu Bông”, cho dù đôi lần có tìm ra thì “người tình” cũng bảo không phải. “Lá Diêu Bông” mãi mãi là một huyền thoại. Huyền thoại không có trong đời thường mà sao ai cũng thương cũng nhớ, cũng muốn hiểu muốn tìm:

Váy Ðình Bảng buông chùng cửa Võng

Chị thẩn thơ đi tìm

 Ðồng chiều

 Cuống rạ

 Chị bảo

 Ðứa nào tìm được Lá Diêu Bông

 từ nay ta gọi là chồng

 Hai ngày Em tìm thấy lá

 Chị chau mày

 đâu phải Lá Diêu Bông

 Mùa đông sau Em tìm thấy lá

 Chị lắc đầu

 trông nắng vãn bên sông

 Ngày cưới chị

 Em tìm thấy lá

 Chị cười

 xe chỉ ấm trôn kim

 Chị ba con

 Em tìm thấy lá

 Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

 Từ thuở ấy

 Em cầm chiếc lá

 đi đầu non cuối bể

 Gió quê vi vút gọi

 Diêu Bông hời…

 … ới Diêu Bông…!

 

Hơn mười năm trước trong chuyến về chơi Bắc Giang, tôi được nghe một đoạn nhà thơ Hoàng Cầm trả lời đài BBC, đài này hỏi về ẩn ý trong bài “Lá Diêu Bông”, vì có nhiều người lý giải và gán cho bài thơ, nội dung mang màu sắc chính trị, trong số có nhạc sĩ Phạm Duy. Nhà Thơ Hoàng Cầm đã trả lời chẳng có ẩn dụ gì cả, nó là mối tình của Nhà Thơ lúc còn bé (1). Mười ba năm sau, tình cờ tôi có dịp thăm tác giả “Lá Diêu Bông”, vào một ngày sau Tết con Gà (2005).

Tôi đi với một người quen đến hẻm 43 Lý Quốc Sư, từ khách sạn tôi ở, đi bộ mất 20 phút. Vừa đến đầu hẻm, thấy có chiếc xe lăn, một người đàn ông theo sau đẩy. Anh bạn nói ngay:

– Cụ vừa đi đâu về.

– Cụ Hoàng Cầm?

– Vâng, tôi quên nói ông, Cụ bị té gãy chân, phải ngồi xe lăn. Chúng tôi vào tới thì chiếc xe lăn vừa khuất và cửa đã khóa lại. Người bạn lên tiếng gọi, sau khi nhận ra giọng quen, một chiếc chìa khóa buộc dây dài từ cửa sổ trên cao vứt xuống. Chúng tôi lên gác, căn phòng bề ngang vừa kê một giường đơn, một bàn tròn nhỏ. Ðây là nơi ăn ngủ làm việc của nhà thơ, cũng là nơi đặt bàn ăn của cả nhà. Sau cánh cửa ngăn là phòng vợ chồng con trai Cụ. Giang sơn Cụ xếp gọn trên chiếc giường rộng mét hai…

Cụ Hoàng Cầm năm nay đã 84 tuổi, cụ vẫn viết, vẫn sáng tác đều đặn. Ăn uống đạm bạc, Cụ ăn mỗi bữa một bát cháo lớn, nhưng món không thể thiếu là thuốc đen. Mỗi ngày Cụ tiêm hai cữ. Nhà thơ phải thuê riêng một người để tiêm thuốc và theo giúp đỡ Cụ lên xe xuống xe mỗi khi cần đi đâu.

Người phụ tá đang chuẩn bị bàn đèn. Xưa giờ nghe nói giới viết lách thường giao du với nàng Tiên Nâu, nhưng, chưa hề một lần thấy tận mắt. Hôm nay là lần đầu tôi được nhìn rõ bộ khay đèn và theo dõi cung cách làm thuốc, tiêm thuốc, chuyện không ngờ. Trong khi chờ thuốc, tôi nhác thấy trên vách có treo một bức ảnh chụp 3 người: Văn Cao – Hoàng Cầm – Phạm Duy, ảnh chụp rõ ràng bình thường nhưng cách sắp xếp rất ý nghĩa (theo tôi). Ảnh xếp theo tam cấp, Phạm Duy dưới cùng. Tôi khen ẩn ý của người chụp, cụ hiểu ngay va nói một cách tự nhiên “Phạm Duy là nghệ sĩ có tài nhưng thiếu tư cách”.

Nhà thơ nằm dài trên giường nghỉ ngơi, người đàn ông đứng tuổi soạn khay đèn, mới nhìn qua đã thấy ngay “bàn đèn không chuyên”, nghĩa là bộ khay đèn kết hợp bởi nhiều thứ vật dụng ngày nay. Khay không phải khay gỗ chạm trỗ ngày xưa mà cái chậu nhựa vuông, nông, dùng để bê bia Carlsberg trong nhà hàng. Ðèn cũng loại chế tạo từ lon, chai, dọc tẩu lớn bằng ngón chân cái, dài chừng 50cm, có gắn nồi thuốc như chiếc bình độc ẩm da chu, một cái ly cao cắm nhiều que đồng để vê và tiêm thuốc.

Người tiêm dùng que đồng xắn nhỏ một viên thuốc nguyên cỡ hạt tiêu, hơ nóng rồi lăn qua lại nhiều lần trên cái đĩa con. Khi thuốc đã “chín” nở nhuyễn, anh ấn viên thuốc vào miệng nồi, anh nằm xuống sàn nhà, quay đầu giọc tẩu cho Cụ ngậm, rồi châm lửa. Nhà thơ hít một hơi dài, từ từ nhả khói trong trạng thái tâm hồn lơ mơ. Có lẽ đây là lúc “đi mây về gió” mà giới văn nhân thi sĩ mô tả xưa nay. Nhìn cảnh cụ Hoàng Cầm nằm hút, tôi mới hiểu rõ lời giải thích câu “Tửu tứ trà tam a phiến nhị” của nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển. A phiến phải hai người và chỉ hai người thôi. Người tiêm người hút hoặc hai người tiêm cho nhau.

Tôi quen một người, trước 75 anh là phi công, thường đưa các ông tỉnh trưởng đi công tác, và đã có dịp giao du với nàng Tiên Nâu, anh bảo : “Khi hít hết một hơi là người cứ như đang lái máy bay, mà lái một cách bay bướm, nghĩa là lượn một cách đẹp mắt. Ðúng như các cụ nói, đi mây về gió. Các cụ có lái may bay đâu mà nói không sai”.

Người tiêm lại nạo hết “xái “ trong nồi, trộn thành một viên lớn, tiếp tục cắt thuốc vê lên miệng nồi đã hơ nóng, khi thấy được, lại tiêm cho Cụ. Một cữ Cụ hút cũng đến 10 điếu, nhưng chỉ có một điếu nguyên, còn thì “xái”. Anh bạn cho biết, vì hút “xái” mới sinh nghiện, còn hút thuốc nguyên thì bình thường. Các dân tộc Tây Bắc trồng thuốc họ hút như ăn cơm, không ai nghiện cả.

Xong cữ thuốc đen, đến thuốc Lào, Cụ ngồi tựa lưng vào thành giường, tự nhồi thuốc, tự châm hút. Từ lúc mới vào, tôi đã xin, Cụ cho phép chụp ảnh thoải mái. Cụ hít một lúc mấy hơi thuốc Lào. Trông cụ thế mà hơi khá dài, tiếng nước trong điếu cày reo ọc ọc hòa với tiếng hít kéo dài, tôi có cảm tưởng như cụ sắp hết hơi, nhưng trông nét mặt cụ khá bình tĩnh, mắt lim dim nghe hơi thuốc đi vào từng huyết mạch. Ðến khi đầy ắp khoái cảm, cụ nhả ống điếu phà lên không trung đám mây bạc lượn lờ, làm cho khuôn mặt của nhà thơ bồng bềnh chơi vơi… trông hay hơn khi cụ nằm có người tiêm thuốc.

Tôi ngộ ra điều mà lâu nay mình thầm chê trách, “sao những văn nhân thi sĩ lại hay nghiện ngập”. Ðấy là chìa khóa để họ mở ra khung trời lồng lộng của riêng mình, là ngõ đi vào thế giới riêng, tha hồ múa bút, tha hồ “nhả ngọc phun châu”, khác với nghiện ngập của hàng phàm phu tục tử…

– Thưa Cụ, mỗi ngày tính ra tiền thuốc khoảng bao nhiêu?

– Trăm nghìn.

– Thưa, nếu không hút thì cụ thấy thế nào?

– Không ăn uống được, không làm việc được.

– Như vậy hút cũng như uống thuốc bệnh, để có sức sáng tác?

– Ðúng thế.

– Thưa, nhỡ gặp khi khó khăn khan hiếm thì lấy thuốc đâu ra?

– Ðiều này không lo, đã có người đủ thẩm quyền giúp mua.

Tôi hỏi như thế là nghĩ đến sức khỏe Cụ, hết thuốc là hết xăng, xe dù có đắt giá bao nhiêu cũng chỉ là đống sắt vụn. Vừa chuyện trò vừa bấm máy, có thuốc vào nét tinh anh sắc bén lộ hẳn trên gương mặt Nhà Thơ. Cụ luôn luôn cười, thịt da trên mặt đầy đặn hơn trong khi thân mình chân tay teo tóp. Thân già mà đầu óc rất trẻ.

Hoàng Cầm với Lá Diêu Bông

Trong kho tàng văn chương của nhà thơ Hoàng Cầm, bài Lá Diêu Bông vừa lãng mạn vừa bí hiểm: một cậu bé cứ ngày ngày lẽo đẽo theo gót cô thôn nữ tuổi trăng tròn chỉ vì vẻ đẹp của chị đã làm xiêu lòng cậu bé mới lên tám.

Nghĩ thế, mà thật thế nên tôi định hôm sau sẽ trở lại cho Cụ xem mấy bức ảnh chụp cô gái Liêu Trai. Qua chuyện “Lá Diêu Bông”, tôi hỏi thẳng Cụ:

– Thưa Cụ, cháu đọc được một bài viết về “Lá Diêu Bông” ở hải ngoại, bảo rằng, nội dung bài thơ là mối tình của Cụ chứ không ám chỉ gì cả.

– Ðúng như vậy, anh nào viết chắc có nghe cuốn băng tôi nói chuyện.

– Thế nhưng Cụ đã phải tù tội vì “Lá Diêu Bông”?

– Vâng, không những tù mà còn bị cấm in tác phẩm suốt 30 năm. Thành thử nhiều thế hệ không biết Hoàng Cầm là ai.

– Cụ có thể cho cháu biết sơ tình tiết của “Lá Diêu Bông”.

Nhà Thơ thẳng người dậy, hít một hơi thuốc Lào rồi trầm ngâm mấy giây như hồi tưởng:

– Vào khoảng tháng 8 năm 82, tự nhiên Công An đến lục xét rồi bắt tôi đi mà không cho biết lý do. Tôi bị nhốt vào nhà giam và buộc làm kiểm điểm. Tôi không hiểu kiểm điểm về việc gì, nhưng mỗi ngày phải viết kiểm điểm. Tháng này qua tháng nọ, rồi họ đưa cho tôi tập thơ Về Kinh Bắc, bảo kiểm điểm từng bài, từng chữ trong đó. Sau nhiều ngày tháng suy gẫm kiếm tìm, tôi thấy có gì sai trái đâu, toàn những bài thơ tình. Một hôm tôi chợt nghĩ, có lẽ bài “Lá Diêu Bông”, do ý nghĩa mơ hồ tạo ra mối nghi ngờ chăng. Tôi viết kiểm điểm ngay bài thơ, và quả nhiên, anh thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn tôi, còn nói thêm: “Tết này thế nào anh cũng được về”.

Nhưng tôi vẫn tiếp tục bị giam. Không còn viết kiểm điểm, tôi nghĩ là chuyện đã giải quyết xong, vậy mà tôi phải trả thêm 1 năm tù nữa, một món nợ tôi không hề vay bao giờ.

– Trước sau Cụ bị giam bao lâu?

– Mười tám tháng.

– Thực sự thì do đâu Cụ bị oan?

– Do bài thơ chưa in nhưng lọt ra hải ngoại, có người đem bình luận diễn giải, tuy không đúng với chủ đích của tác giả nhưng lại đúng với thực tế. Người ta bảo Hoàng Cầm làm bài “Lá Diêu Bông” là ám chỉ Ðảng. Chị là Ðảng, em là Nghệ Sĩ, Nghệ Sĩ được Ðảng yêu thương, Ðảng bảo gì nghe nấy, nhưng chẳng bao giờ được gì (dù có bỏ xác vì Lá Diêu Bông).

Ðến lúc bị tù, làm đúng bài kiểm điểm, sắp được ra, lại cũng do hải ngoại có thư gửi chính phủ yêu cầu thả tự do cho Hoàng Cầm. Tố Hữu nổi cơn thịnh nộ phán: “Nhốt nó thêm 1 năm nữa vì tội có nước ngoài can thiệp”.

Tôi phân vân, không hiểu sao ông Tố Hữu oán ghét căm thù người cùng môn phái đến thế. Về sau anh bạn cho biết, do Tố Hữu ganh tỵ tài năng. Nam Cao chết cũng vì Tố Hữu. Hồi còn giữ chức Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, Tố Hữu nắm quyền sinh sát trong tay, giới nghệ sĩ liệu mà giữ gìn “ăn nói”. Nhưng Tố Hữu làm những bài thơ nô dịch, xem rẻ tổ tiên nên nhiều người phản bác, trong số có Hoàng Cầm. Tố Hữu viết:

 Thuở Anh chưa ra đời (ý nói cách mạng tháng 10 Nga)

 Trái Ðất còn nức nở

 Nhân loại chửa thành người

Hoàng Cầm vặn lại: “Anh của ông ra đời năm 1917, thế trước năm 17 “nhân loại chửa thành người” thì là gì? Khỉ à. Con Hồng cháu Lạc, 4000 năm văn hiến của anh đâu”. Câu chuyện đến tai, Tố Hữu ức lắm, tìm cơ hội trù dập Hoàng Cầm. Tôi nghĩ, con người dù cầm bút hay cầm cày, khi đã chấp nhận làm nô dịch cho danh lợi thì nhân phẩm không còn gì để nói, và, họ sẵn sàng làm mọi chuyện tồi tệ vì quyền lợi riêng tư của mình. Tố Hữu tiếp tục ngấm ngầm hại nhà thơ Hoàng Cầm bằng cách không cho in tác phẩm suốt mấy mươi năm. Mãi đến năm 2003 nhà xuất bản Hội Nhà Văn mới sưu tầm in 3 tập Hoàng Cầm Tác Phẩm :

Hoàng Cầm tác phẩm: Thơ

Hoàng Cầm tác phẩm: Truyện Thơ Kịch.

Hoàng Cầm tác phẩm: Văn Xuôi

Hoàng Cầm tác phẩm Thơ là tập hợp các tập thơ, có tập Lá Diêu Bông nhưng không có bài Lá Diêu Bông mà chỉ có bài: Bao giờ nói hết chuyện Diêu Bông (trang 245), bài thơ có 5 đoạn xin trích đoạn 1:

Dẫu anh biết Diêu Bông không thực

 Sao Diêu Bông cứ thức hồn em

 Cứ sao băng mãi đường đêm

 Cứ trăng lên đậu cành mềm xuân quê

 Cứ lơi áo cởi trưa hè

 ngực trần vỗ yếm gọi về tuổi hoa

 Cứ hương thiên lý đường xa

 Cứ lưng chừng đợi ngọc ngà hồ ly

 Cứ môi hôn yên chi chụm cánh

 dẫn anh về chuốt mảnh chiếu gon

 Hương nhu xoải tóc lưng tròn

 cái đêm hôm ấy mắt mòn men tê

Hôm sau tôi trở lại mở laptop cho Cụ xem mấy tấm ảnh chụp cô gái tóc dài, nhân thể nhờ Cụ điểm xuyết mấy câu gọi là “tức cảnh sinh tình”. Cụ xem ảnh, tôi đọc 4 câu thơ, nhưng Cụ không còn nghe, Cụ ngắm nhìn rất kỹ người trong ảnh. Nét mặt Cụ tươi tỉnh và sáng hẳn ra. Cụ bảo “đưa gần lại tôi thấy cho rõ. Tôi để máy slide show, hình ảnh quay lại đến mấy lượt. Tôi biết Cụ thích lắm, Cụ khen nhiều câu… Rồi Cụ bình phẩm. Tôi vừa nghe, vừa chụp ảnh. Nhà thơ và anh bạn trao đổi nhau về nét tuớng nhân dáng người con gái. Và, lần đầu tôi nghe những “Tố mao…chiết yêu… cự huyệt, trường túc tri… lao” Tôi thấy vui, bao nhiêu chuyện khổ ải, thăng trầm, bao nhiêu lợi danh người đời… chúng tôi đều quên, quên luôn cả Thơ, để đi vào cái đẹp lung linh huyền ảo muôn thuở mà có người lên tám đã mê say. Sẵn bút nhà thơ Hoàng Cầm ký tặng tôi 3 bộ sách của ông.

Con người đích thực của nghệ thuật, dù trong hoàn cảnh có cay nghiệt chăng nữa, vẫn một lòng say mê tôn vinh cái Ðẹp, chỉ có cái Ðẹp mới khích lệ vỗ về an ủi người sáng tác. Cái Ðẹp chính là thứ lá dâu tuyệt hảo để Tằm nhả tơ vàng. Xin đa tạ những đóa hoa nghiêng nước nghiêng thành, những đóa hoa rừng, những đóa hoa dại, những người mẫu yêu quí đó đây trên những chặng đường tôi đã đi qua…và xin đứng xa thật xa… kẻo nữa:

Diêu Bông hời…!

…ới Diêu Bông…

 

Trần Công Nhung

___________________________

(1) …bản chất của tôi là đam mê có lúc đến yếu đuối. Tôi vốn đa tình, mới 8 tuổi đã biết mê nhan sắc, 12 tuổi đã biết buồn đau về nỗi trống vắng yêu thương của một người nữ… (Mấy Dòng Tâm Sự trang 619 thư gửi Ðặng Tiến, Phạm Duy, trong Hoàng Cầm tác phẩm Văn Xuôi)

 

 

Tin tức khác...