Bản Lác

Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Nhớ năm nào trên chuyến tàu từ Nha Trang đi Hà Nội, có đôi vợ chồng trẻ cùng chung toa. Cô vợ thấy tôi chụp ảnh dọc đường, biết là người du lịch đó đây, đã gợiï chuyện: “Chú lên Bản Lác chưa”? Trong khi mãi mê chụp “đàn cò trắng bay về đồng xanh”, tôi trả lời cho qua chuyện: “Chưa”. Một lúc sau sực nhớ “Bản Lác”, tôi quay lại thì người đàn bà đã đi đâu mất.

Vùng Tây Bắc có nhiều tên Bản rất lạ, nào Huổng Len, Mường Tè, Nà Lọ… nhưng chưa nghe Bản Lác bao giờ.. Tôi cho là mình kém nhạy bén, có thể gọi là “dốt”, để sẩy một thông tin hay, chưa chừng còn mang tiếng bất lịch sự, kém “galant” nữa. Bản Lác ám ảnh tôi và khuôn mặt người khách lạ cứ theo mãi không rời.

Về Hà Nội, đến gội đầu ở tiệm quen đầu phố Trần Quí Cáp, cạnh ga B, sực nhớ Bản Lác, tôi hỏi cầu may:

– Cháu ở Hòa Bình có biết Bản Lác không?

– Cháu ở mãi tận Kim Bôi cơ, nhưng cháu đã đi Bản Lác rồi.

Tôi mừng quá hỏi ngay:

– Bản Lác ở đâu, có đẹp không?

– Bản Lác ở Mai Châu, cách Hòa Bình mấy mươi cây (số). Ðẹp xấu cháu không biết nhưng Tây và sinh viên các trường Ðại Học thường lên tham quan.

– Bình (tên cô gái) có thể nói sơ về Bản Lác được không?

– Vâng, Bản Lác cách thị trấn Mai Châu 2 cây thôi. Chú muốn đi, ra bến xe Hà Ðông, mua vé đi Bản Lác luôn, không phải sang xe. Bản Lác toàn người Thái, nhà sàn ngăn nắp, sạch sẽ, văn minh. Ban đêm có đội văn nghệ trình diễn phục vụ khách.

– Còn gì nữa không?

– Dạ, nhiều chứ chú, hàng thổ cẩm, cơm lam, thịt rừng…

Thế mà trên tàu mình lại làm lơ, không lấy tin ở người đàn bà tốt bụng…

Thời gian qua mau, mãi đến Tết năm nay tôi mới đi. Ðầu năm chắc chắn có nhiều thứ hấp dẫn.

Bốn giờ sáng tôi ra ngả tư Quốc Tử Giám Tôn Ðức Thắng, đón xe buýt số 2 đi Hà Ðông. Trời lạnh, đường ít xe, phần nhiều xe của giới lao động chuyển hàng. Những chiếc xe máy chở gà vịt heo, hoặc những thùng hàng chất cao quá đầu người. Tại ngã tư đèn đỏ, một chiếc xe máy chẳng hiểu chở gì, toàn thùng giấy cao nghệu bị chiếc ô tô trờ tới chạm nhẹ, mất thăng bằng, chiếc xe nghiêng xuống đường, hai bên cãi vã chưởi nhau một lúc, đèn xanh, ô tô bỏ chạy. Chị chở hàng phải nhờ người đi đường giúp dựng xe lên. Luật lệ xứ mình “đơn giản, dễ dãi, nhanh chóng”, cũng là cách thể hiện “tình làng nghĩa xóm”. Không việc gì phải “insurance” với “report” cho lôi thôi.

Ðầu xuân trời Hà Nội rét khủng khiếp, chờ mãi mới thấy chiếc xe buýt số 2. Những ai đi Hà Ðông ùa nhau lên. Ngày trước đi xe buýt chen lấn, thế nào cũng bị rạch túi, ngày nay, tuy xã hội lắm tệ nạn nhưng đi xe buýt tôi lại yên tâm, nhất là những lúc đón xe trái giờ, ngồi xe ôm rất ngại, vừa lạnh vừa không làm chủ được tình thế.

Xe ngang qua bến Hà Ðông, khách xuống, tôi xuống theo và băng qua đường vào bến tìm xe đi Bản Lác. Trời còn mờ mờ, bến xe như quá tải, xe lui, xe tới, san sát chiếc nọ cách chiếc kia chỉ gang tay mà không cọ quẹt. Phải công nhận tài xế xứ mình thật cừ khôi.

Cẩn thận để không bị “bán qua bán lại” dọc đường, tôi tìm cho được xe Bản Lác mới lên, nhưng mãi chẳng thấy. Một anh lơ chỉ cho xe Cô Lương, tôi không tin, hỏi một vài người mới biết, xe về Cô Lương cùng một tuyến đường với Mai Châu Bản Lác. Tôi thương lượng để được ngồi ghế số 1, thuận tiện cho máy ảnh hoạt động, dù có phải thêm tiền chút đỉnh. Bẩy giờ xe rời bến. Ðoạn đường từ Hà Nội đi Hòa Bình tôi đã qua nhiều lần, nhưng khi lên thị trấn Lương Sơn, cảnh trí núi non thấy cũng lạ. Núi vôi từng đụn chơ vơ hoặc liên kết hai, ba làm một, trông chẳng khác gì những dã sơn của tay nghệ nhân tài hoa trong vườn cảnh. Qua thị trấn Kỳ Sơn, vùng sản xuất Rượu Cần. Nhiều lò rượu có bảng hiệu hai bên đường: “Rượu Cần Gia Truyền Chất Lượng Cao”, vò 5 lít 3 lít, xếp lên nhiều lớp, xe ngang qua nhìn rất hấp dẫn. Không thấy ai dừng mua. Không là tay sành rượu, tôi không rõ Rượu Cần Tây Bắc có khác Tây Nguyên? Nhiều người bảo Rượu Cần là do một loại lá cây rừng ủ men, khi rượu đã dậy men, đem pha với nước suối. Nghe có vẻ đơn giản hơn lối nấu rượu dưới miền xuôi. Vùng này “người Dân Tộc” cũng trồng chè, nhãn, theo triền đồi, nhiều tre bương mọc xen lẫn.

Gần đến Hòa Bình, cảnh ruộng đồng lơ thơ dân cày cấy. Trời rét căm căm, người đàn ông cầm cày, người đàn bà đi trước dắt trâu, cảnh tưởng như của đầu thế kỷ 20. Thế mới có bài học ngày xưa:

Trâu ơi ta bảo trâu rày

 Trâu ra ngoài ruộng tâu cày với ta

 Cấy cày vốn nghiệp nông gia

 Ta đâu trâu đấy ai mà quản công

Xe qua phố Cù Chính Lan thị xã Hòa Bình, tôi hỏi thăm người ngồi cạnh:

– Hòa Bình đi Mai Châu bao xa hả ông?

– Khoảng 60 cây.

Chừng hai tiếng nữa là đến, trời hanh nắng, qua ngã ba đi Kim Bôi, tôi lại nhớ bài “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải và hứa bận về sẽ ghé vào thăm. Kim Bôi nghe nói cũng là “khu du lịch sinh thái”, là nơi an dưỡng, nơi có nước khoáng Kim Bôi.

Ðường bắt đầu lên nhiều dốc (đèo), như lên Hà Giang, Ðồng Văn, núi rừng lớp lớp, mờ ảo đổi thay. Có một đèo thật cao và dài, bác tài cho biết “đây là Dốc Cun”. Xuống hết Dốc Cun là đi vào thung lũng Mai Châu. Thị trấn nằm dựa vào sườn núi, phía trước có cánh đồng. Quốc lộ 15 qua Mai Châu về Cô Lương là bến cuối. Quá thị trấn một tí, xe thả tôi xuống ngay trước một nhà nghỉ lớn. Tôi hỏi bác tài chiều mấy giờ xe quay ra, “Hai giờ xe có tại đây”, phòng hờ nhỡ không có gì để ở lại thì cũng có xe về. Xe đi vùng sâu vùng xa mỗi ngày chỉ một chuyến thôi.

Nhà nghỉ vắng tanh, tìm quanh không thấy ai, lát có một thanh niên bước ra cho hay “Mới mồng 6 Tết, chưa làm việc”. Tôi hiểu, đây cũng chỉ là một cơ quan hành chính, bày ra để kiếm thêm. Anh ta cho biết, vào trong Bản không thiếu gì chỗ nghỉ lại đêm.

Con đường nhựa vào Bản, chừng nửa dặm, qua một cánh đồng, trong xa nhìn thấy một cổng xây, mái ngói không có vẻ gì “Dân Tộc”. Từ đầu đường có hồ nước rộng, mấy nhà thủy tạ Karaoke, phên nứa mái tranhï, cửa đóng kín, tiếng nhạc xập xình. Karaoke ngày nay vào tận rừng sâu bản làng, như môn giải trí phổ thông nhất. Tôi thả bộ vào bản. Bản đầu tiên lại là Bản Pòm Coọng. Tên bản khó đọc và chẳng hiểu ý nghĩa, lối viết tên hai chữ oo thường gặp trên vùng cao, thác Roọm ở Bắc Cạn cũng thế. Bản Pòm Coọng, nhà sàn khang trang, canh cãi nhiều nét mới: Sàn cao quá đầu người, cột gỗ vuông rất chắc. Dưới sàn để những đồ vật sạch sẽ ngăn nắp, không nuôi trâu bò lợn gà như xưa kia. Hầu như nhà nào cũng có tấm bảng “Nhà Nghỉ”. Dân Bản tỏ ra hiếu khách, thấy tôi họ mời lên giới thiệu chỗ nghỉ ngơi. Nhà sàn trông chắc chắn nhưng sàn lát bằng cây bương (họ tre) đập dẹp, bước chân đi nhún nhún, không quen thấy sợ. Sàn thông từ đầu này đến đầu kia. Tôi hỏi ông chủ:

– Khách nghỉ lại bao nhiêu một đêm?

– Sinh viên 10 nghìn, du khách 15 nghìn (1 dollar).

– Rồi ngủ như thế nào?

– Trải chiếu treo màn, có chăn gối.

Tôi nhìn xuống những khe hở của sàn bương, nghĩ đến cái “rét hại” đêm nay mà ái ngại. Hà Nội còn rét hại thì Bản Lác phải “rét hại cấp 2”, rét luồn qua chiếu chun vào chăn thì ngủ ngáy làm sao.

– Cảm ơn chủ nhà, tôi đi thăm Bản một vòng, nếu không về Hòa Bình hôm nay, tôi sẽ trở lại.

Mới hơn 10 giờ, tôi hỏi một người đàn ông đứng cạnh chiếc xe máy:

– Bản Lác đi lối nào anh?

– Chú đi thẳng xuống dốc con đường trước mặt qua bên kia là Bản Lác.

– Bản có rộng không?

– Rộng lắm, chú đi xe em chở.

– Thế anh chạy xe ôm?

– Không ạ, em vào thăm bố, nhà em ngoài quốc lộ.

– Anh đưa tôi đi quanh vùng rồi về lại Bản Lác, bao nhiêu?

– Chú cho 20 (nghìn).

Không phải mặc cả, tôi giục anh chạy nhanh. Anh đưa tôi vòng ra quốc lộ, lên phía thị trấn, chạy qua cánh đồng khô bỏ hoang, qua một vài xóm nhà nghèo nàn lụp xụp. Những con đường đất quanh co, nhiều tre bương, thấy thì đẹp mà nghèo xơ xác. Tôi hỏi anh sao ruộng đồng bỏ hoang. Anh bảo hạn hán không nước nên không làm mùa được, chứ mỗi đầu người chỉ có 300 mét vuông, không đủ ăn. Ðiện thì dư dả, kéo về tận bản thôn.

Trở lại Bản Lác, tôi thong thả dạo qua các “phố”. Ðường trong bản không vuông theo lối bàn cờ, nhưng cũng dễ đi. Trừ con đường chính, tráng nhựa và tương đối rộng, xe du lịch vào được, còn thì đường đất, sạch sẽ. Ða số nhà sàn song không đồng đều, nhìn ngoài là biết giàu nghèo khác nhau. Có những ngôi nhà dưới xây trên ván, gỗ véc ni bóng loáng, có nhà thì ọp ẹp, vách nứa mái tranh. Nhà nào cũng có giếng trước sân và lớn nhỏ gì cũng có một cửa hàng bán đủ các mặt thổ cẩm. Thổ cẩm của người Thái, màu sắc đậm đà không sặc sỡ chói mắt, họ dùng màu tương cận, nền đen thì thường thêu màu xanh trắng đỏ. Họ dùng đường gãy, đường răng cưa nhiều hơn nên hình tượng có vẻ mạnh, trong khi thổ cẩm Tây Nguyên được trang trí bằng đường nét mềm mại, nhuyễn hơn, gần với cái nhìn Tây Phương hơn. Có nhà còn thêm Rượu Cần, hàng tạp hóa, quán ăn, có chỗ treo nguyên tấm bảng quảng cáo Wrigley’s Chewing Gum: “Sing-Gum số 1 của Hoa Kỳ”. Tôi hơi buồn cười và tự hỏi: Người kẽ tấm bảng này có biết đây là “tên đế quốc đầu sỏ” đã bị “quân đội Việt Nam anh hùng” đánh cho bỏ chạy!

(Còn tiếp)

 Trần Công Nhung

Tin sách

Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50%). Ðã có hai tác phẩm mới: Vào Ðời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả: email:trannhungcong46@gmail.com

Tel. (657)296-8727, (816)988-5040 hoặc địa chỉ:

1209 SW. Hopi St.

Blue Springs, MO. 64015 (USA)

 

 

More Stories...