Mặt trời bắt đầu làm khó anh em ngồi đồng, đứa dời ghế, đứa kéo bàn núp bóng cây vú ngoại vì già nua như bà ngoại. Thình lình đứa cháu tôi đạp xe xuống quán cà phê để báo tin cho biết chú có điện tín, nhưng người đưa thư không chịu đưa cho con, chú ấy muốn gặp chú để trao tận tay cho yên tâm với tin khẩn mới đánh điện tín.
Đù cha thằng anh em khốn nạn. Trước biến cố thì anh em trong xóm như con chú con bác với nhau, đi học chung trường, đá banh cùng sân, tắm sông cùng buổi; thậm chí đánh lộn ngoài sân banh với xóm trên, xóm dưới thì anh em cũng về nhà xứt dầu u đầu sứt trán cho nhau. Ai mà biết sau hoà bình, ba nó không phải lính tử trận như má nó khai gian với chính quyền cũ để được giúp đỡ nhà ở, cấp đất cày bừa. Cha nó theo Việt cộng vô bưng và đã chết trong chiến tranh nên nhà nó được cấp bằng “Gia Đình Vẻ Vang” để trên bàn thờ. Bạn bè bất mãn mới châm chọc nó là nhà nước đã ghi sai công trạng của cha nó, phải ghi là “Gia Đình Vắng Vẻ” mới đúng! Vì cha nó mới lấy vợ được vài năm đã thoát ly gia đình vô bưng, mẹ nó ôm con trốn về bên ngoại nương nhờ, cũng không ổn với an ninh quân đội dò theo tông tích nên trốn đi xa và dừng chân ở xóm tôi như định mệnh có sẵn. Nhà chỉ có hai mẹ con lủi thủi bên nhau vài năm thì hoà bình. Sau hoà bình như cháy nhà ra mặt chuột, hàng xóm biết ra nội tình nên chẳng ai qua lại với mẹ con nó nữa.
Nhưng cũng nhờ vậy mà nó xin được cái chân đưa thư cho bưu điện ở địa phương. Chỉ ngần ấy thôi đã trở mặt với cả xóm làng, nhà nào có giấy báo đi nhận quà nước ngoài gởi về thì nó chỉ thông báo cho biết thôi chứ không giao ra giấy báo của hải quan phi trường. Nó chờ người ta đi vay mượn được tiền đi đóng thuế hải quan thì mới nhận được quà ở sân bay Tân sơn nhất, nó nhận tiền hối lộ đầy đủ theo yêu cầu mới đưa cho người ta cái giấy báo nhận quà, là sống còn của những gia đình có người vưọt thoát được ra nước ngoài. Nhà nào đi nhận được thùng quà hay gói quà nước ngoài gởi về thì nó cũng lại mò mặt tới để xin thứ này thứ khác, nói xa nói gần không cho thì lần sau có giấy báo nhận quà nước ngoài, nó sẽ không cố gắng bảo quản, tranh thủ đưa cho bà con trong xóm, bưu điện không chịu trách nhiệm mọi sự thất lạc… Tới anh em trong xóm đã lớn, thời vượt biên mà có điện tín tức có chuyến. Nó phải trao tận tay người nhận nhưng không vì tình anh em xưa cũ mà để thương lượng hẳn hoi là bao nhiêu thì nó mới chịu giao ra cái điện tín thời không có nội dung nào ngoài việc có chuyến vượt biên gấp nên mới phải đánh điện tín, chứ gởi thơ tay thì chín mất một còn, và thơ đến thì đã quá muộn.
Nó ác ôn nên có kết thúc không có hậu, cũng không rõ người anh em nào trong xóm đã quá tay dạy dỗ nó nên nó khùng khùng điên điên sau khi có tiền hối lộ thì đi nhậu, đêm về chả biết ai cho nó một gậy vô đầu ở đoạn đường vắng, mãi tới sáng hôm sau người đi chợ sớm mới phát hiện ra nó giở sống giở chết bên mộ thằng tây. Thôi thì cứ xem như nó say rượu, đâm đầu vào cái mộ hoang của thằng tây vô phước nào đó chết ở Việt nam cho tiện việc giao lại công việc phát thư béo bở một thời cho người khác, người đã ra tay với nó không chừng là một trong những thế lực thù địch của nhà cầm quyền thực sự vì những thế lực thù địch như bọn phản động, đám tàn dư Mỹ Ngụy, Phục quốc quân bên rừng Cao Miên, Phục quốc quân ở hải ngoại… không còn nghe ai nói tới nữa ngoài những thế lực thù địch giữa những đám mgười, những cá nhân có ô dù trong chế độ mới hãm hại lẫn nhau để tranh ăn.
Thôi quên nó đi như cái mộ hoang bên đường của một thằng tây không chịu ở nhà, đi quấy nhiễu thiên hạ nên chết ở Việt nam. Tôi đọc bức điện tín đã chờ từ lâu, “Em đua Ma len Sai gon mo gap. Anh Hai ra ben xe đon ma toi nay…” Nội dung bức điện tín chẳng có em nào đưa má lên Sài gòn mổ gấp tối nay mà phải hiểu là: Tối nay phải về tới miền tây, có chuyến đi… gấp.
Thời buổi vượt biên tính vàng cây trong khi tôi chỉ có cái khâu một chỉ vàng lận lưng, không dám xài gì hết vì đó là lộ phí đường xa khi có điện tín. Nội dung đã nói nhau trước nên lẽ ra không cần thằng phát thư, chỉ cần biết mình có điện tín là đủ, nhưng ngặt nỗi biết mình có điện tín nhưng điện tín của thằng bạn dưới miền tây đánh lên hay thằng ngoài Vũng tàu đánh vào? Thằng đưa thư ba đầu sáu tay ăn hối lộ thì đâu ngu tới nói rõ điện tín từ đâu? Đành bán đi cái khâu vàng sinh tử để có tiền cúng dường cho thằng quỷ đỏ, tiền tàu xe về miền tây hay ra Vũng tàu.
Bái lạy bàn thờ gia tiên hai mươi tám tết chưa có hoa quả, nhang đèn lạnh tanh. Tôi lấy bộ quần áo duy nhất ngoài bộ đang mặc trên người, cái cùi chải đánh răng vì cái bàn chải đã xài từ bao giờ không nhớ nữa, không có kem đánh răng mà hũ muối ở nhà cũng đã trơ đáy. Tất cả bỏ vào cái giỏ xách cũ kỹ mà tôi thường đựng đôi giày đá banh khi ra sân,
Từ giã đôi giày đá banh vạt gót như người bạn trên từng sân cỏ, cây đàn guitar mối ăn lỗ chổ thùng đàn treo trên tường mang vết tích của biết bao kỷ niệm. Hai người bạn tuổi trẻ ở lại nhà. Bái biệt gia đình lặng lẽ bước chân đi theo lá bay ven đường, tới đâu tới vì chẳng biết đến đâu nhưng nhu cầu rời đi không thể hoãn. Trời hanh khô giáp tết làm vạn vật buồn hơn hay lòng buồn với cuộc chia tay thầm lặng nên hoa nắng tung toé trên đầu những đứa trẻ trên đường tôi đi vẫn rách rưới, lem luốc như hoà bình, không đứa nào có quần áo mới dù đã hai mươi tám tết. Chúng gầy trơ xương, lõ mắt đứng bên đường như những que diêm xài rồi chờ gió mưa hoá kiếp…
Xa cảng miền tây đã hết những háo hức theo bạn về quê chơi cho biết như ngày xưa. Lần đi này là vĩnh biệt, Sài gòn vĩnh biệt không hẹn ngày trở lại. Ngồi trên chiếc xe đò cô đơn xâm chiếm hết linh hồn vì thiếu tiếng nói cười của bạn bè cùng nhau về quê bạn, quê tôi… Chuyến đi gặp gỡ thần biển lại đơn độc, hoang hoải như tết đã về đến nơi đã mất tất cả, miền nam trống hoác nhà trước vườn sau dọc theo quốc lộ 4, chỉ còn sự bẽ bàng ngự trị trên những mái lá nghèo ven đường quốc lộ về miền tây ẩn hiện sau những khóm dừa, ruộng đồng sau mùa gặt trơ gốc rạ, những chiếc xe đạp thồ nhọc nhằn và những người lam lũ ốm tong đang cố hết sức đạp xe ngược gió để thồ than, thồ lu, khạp da bò kiếm sống sau hoà bình là hình ảnh sau cùng về quê hương khi màn đêm buông xuống.
Chiếc xe đò cũ kỹ ì ạch trong màn đêm bao la như tương lai vô định, cuối cùng cũng về tới Rạch sỏi lúc nửa đêm. Những người đồng hành trên chuyến xe về quê ăn tết buồn bã đã nhanh chóng tan biến vào màn đêm xa lạ với người thị thành. Một quán nước bán muộn còn sáng đèn bình ắc quy hay quá sớm nên lẻ loi nơi hàng quán bến xe tỉnh lẻ. Tôi đến đó tìm ly cà phê cho tỉnh táo, gặp cô gái quê còm cõi đang ngủ ngồi nhưng bị đuổi đi, tôi đã làm phiền cô bị phá giấc, bị đuổi khỏi chỗ ngủ, thật phiền quá.
Cô gái nhếch nhác mà tôi không hiểu được cô làm gì vào giờ này nơi bến xe khi cô không có biểu hiện của người chờ xe, hay đón người thân ở bến xe. Thì ra cô đón tôi. Có cô trò chuyện qua đêm nơi xa lạ là một ân sủng. Sáng ra, cô đi lấy vé số và bán dạo ở bến xe. Tối ngủ đâu cũng được vì không có nhà để về… Không biết cô có hiểu tôi lại đang không có nơi để đến. Tôi đi hú hoạ, đi cầu may, đi vượt biên hôi, đến đâu hay đến đó miễn ra khỏi Việt nam tôi mới tính tiếp được. Nhưng đó là chuyện trong lòng tôi, không phải chuyện nói ra được với một người xa lạ.
Tôi chỉ biết điều cô hiện có ngoài sức tưởng tượng của tôi là một cái tên quá đẹp, cái tên nói lên cô không phải người địa phương, một sinh linh trôi dạt từ một hoàn cảnh bi thương nào đó bởi hoà bình. Bàn tay, gót chân có thể nhìn ra thân thế một người nên tôi tin cô ấy tên là Quỳnh Hương. Mới chia tay Quỳnh Giao ban sáng thì đêm tối đã gặp Quỳnh Hương, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười như trong truyện Kiều.
Cảm ơn cô cho tôi hay tới sáng, anh xuống tắc ráng về chợ Minh Lương. Kinh Tắc cậu về Minh Lương hơi xa nhưng vỏ lãi chạy nhanh lắm. Nếu không gặp bạn anh ra đón thì hỏi thăm tiếp nhà bạn anh chứ em cũng không biết. Xin lỗi anh nha. Cảm ơn anh đã mời em ăn sáng… Chúc anh may mắn.
Tôi không biết trong tận cùng ánh mắt nhìn theo, cái vẫy tay tạm biệt khi chiếc tắc ráng tách bờ Rạch sỏi, theo dòng kinh Tắc cậu về Minh Lương đã và sẽ dõi theo tôi đến bao giờ. Nhưng những địa danh đã ở lại trong tôi từ khi tóc xanh đến nay đã bạc đẩu vẫn nhớ mãi nhị Quỳnh mà tôi đã gặp trong đời. Hơn bốn mươi năm không quên Minh lương, Tắc cậu, Tà niên, Rạch sỏi cùng ánh mắt ước gì được gặp lại trong đời ánh mắt chia chung sự cô đơn cùng tận mà tôi từng đối mặt, khoảnh khắc chia xa khó cất bước đi nhất mà tôi từng trải. Lời chị chủ quán như những vết kim châm mỗi khi nhớ đến…, “Đừng tin nó nói gì với anh. Người ta như nó thì giờ đã có chồng con. Ai như nó chớ, lớn tồng ngồng vậy rồi mà hỏi nhà ở đâu cũng không nhớ; có người nhà hay không cũng không biết. Thấy tội nghiệp nên tui cho ngủ nhờ qua đêm ở quán tui sáng đèn, chứ lang thang ra ngoài kia ngủ bụi thì tụi lơ xe đò nó làm thịt liền… rồi bụng mang dạ chửa ai lo…”
Tiếng thở dài của chị chủ quán như vận nước đã theo tôi những đêm dài hải ngoại đến bao giờ.
…
Ngày hai mươi chín tết tôi ở vùng sông nước mênh mông, rừng tràm, rừng đước um tùm; dừa nước bạt ngàn theo những con sông, con rạch. Không ngờ cái không khí tết cũng len lỏi về đến nơi hoang dã như thị thành dù không hề có áo xanh áo đỏ du xuân dạo phố. Buồn không thể tả dưới chiếc ghe con tồi tàn, còn phải lủi sâu vào đám dừa nước rậm rạp cho không ai thấy. Bạn để cho tôi nồi cơm nguội ăn dở, nồi cá kho nửa vời, không muỗng chén ăn cơm gì hết vì mọi sự cấp bách và bí mật. Đến nước uống cũng không mà nó lại dặn tôi không được nhóm lửa nấu nước sông để uống vì khói bốc lên trời là chết chắc…
Một ngày hai mươi chín tết dài như thế kỷ, một mình cô đơn hơn cả lá dừa còn có gió xào xạc cho đỡ buồn. Con chim sâu bằng ngón cẳng cái cũng tò mò tọc mạch sau hoà bình, nó thật phiền như đời lắm dư hơi, thích chõ mỏ vào chuyện người khác. Cứ chập chờn ngủ ngồi thì nó vụt đến như công an biên phòng xuất hiện làm hú vía; rồi nó chợt đi không từ giã để chợt về hú hồn mãi cho tới hoàng hôn đổ xuống đàn muỗi rừng kinh khủng, chỉ có khói mới xua nổi chúng chừa cho chút không gian để thở nhưng không được đốt lửa là sống còn nên chịu chết ngồi cho muỗi đốt tới bóng đêm đã phủ trùm không gian thì bạn tôi đến. Nó đem cho chai nước uống, uống ngon hơn bia Sài gòn vì đã quá khát mà không dám uống nước sông, sợ đau bụng lại phiền; dù hồi nhỏ tắm sông bị uống nước hoài có sao đâu, nhưng hoà bình đã cướp đi tuổi nhỏ ấy mất rồi.
“Có thể là đêm nay, trễ lắm là đêm mai… mày kiên nhẫn, chịu khó.”
Bạn tôi yên tâm được nửa đường là sự xuất hiện của tôi ở Minh lương không ai hay, hàng xóm và người quen với nó không ai biết. Nó giấu tôi vô vạt dừa nước rậm rạp là ém quân, chờ xuất phát. Chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau cho cụ thể để hành động: Đêm nay hay đêm mai taxi sẽ đưa người ra cá lớn vì càng cận tết thì biên phòng càng lơ là canh bắt vượt biên bởi ăn nhậu tất niên. Trời cũng thương bước đường cùng của người bỏ nước ra đi là đêm trừ tịch thường biển lặng gió êm, thuận lợi khởi hành. Điều quan trọng nhất là có biến thì hồn ai nấy giữ, nó người địa phương nên tẩu thoát không khó, nhưng không thể vì anh em mà chịu bị bắt chung là hai đứa tiêu luôn. Nếu tôi có bị bắt giữ thì còn nó ở ngoài, sẽ có cách cứu tôi.
Thêm một ngày ba mươi tết trốn trong lùm dừa nước kín bưng. Cơm nguội cá kho ngon chi lạ. Chai nước uống chừa cặn vì nước lu, nước mưa mái lá nên vàng như nước trà, lại có mấy con lăn quăn tung tăng trong ấy thấy ớn… nhưng tới lúc cũng phải uống vì khát khô cổ họng, uống ngon như nước thánh với cầu xin ơn trên đừng cho con cảm gió, cảm nắng với triệu chứng đau khô cổ họng. Uống nguộm nước mưa cuối cùng ở quê nhà đêm ba mươi thay rượu, tự chúc mình thượng lộ bình an trước giờ xuất phát.
…
Chúng tôi chèo êm ra cửa sông, đêm ba mươi làm sao thấy được cá lớn đang chờ ngoài kia không xa, nhưng nghe được tiếng động từ những ghe nhỏ đưa người vượt biên đang tập hợp, nhờ nhiều chiếc taxi lặng lẽ trong màn đêm trừ tịch nên không rõ taxi nào là người đã mua chỗ trước, ghe nào là những kẻ đi hôi như chúng tôi…, ghe biên phòng có súng cũng âm thầm trong đêm cuối năm chờ tới giờ hành động mới rọi đèn sáng trưng để hốt mẻ vượt biên cuối năm tha hồ vàng cây, vàng lá…
Định mệnh đã an bài khi đèn đuốc bỗng sáng trưng lên, những họng súng trong đêm trừ tịch lạnh lùng chĩa vào những người vượt biên trái phép. Ai tháo chạy cũng vào rọ sáng mai thôi vì dân Sài gòn biết đường đâu mà chạy giữa rừng miền tây quanh co sông rạch, lau sậy um tùm tới định hướng còn không xong. Họ mau xét những người khả nghi có vàng trong người để tịch thu, xét hành lý gọn nhẹ vì khả năng có vàng cũng không bỏ qua; chỉ không thèm xét hỏi những người nhìn qua đã biết dân đi hôi. Bắt thì bắt hết cho có vẻ công bằng, nhưng mấy thằng rách như xơ mướp như tôi có bỏ chạy họ cũng không thèm đuổi…
Về sau nghe bạn tôi nói, nó chuồn êm để thoát thân trước rồi tính tới tôi sau như đã thoả thuận với nhau. Nên sáng mùng một tết tôi yên tâm ở đồn cảnh sát biên phòng, ngủ lấy sức cho cuộc vượt ngục chứ vượt biên gì nữa. Có tín hiệu của bạn trên bờ rào kẽm gai đồn cảnh sát biên phòng, nó treo cái nón kết của nó lên giây kẽm gai thì chỉ mình tôi biết! Nhưng chờ hết mồng ba cũng chưa thấy bạn có hành động gì, trong khi kết bạn được với người bị bắt chung là một anh Tàu, nhà ở Chợ Lớn. Chúng tôi tính kế khi bị giải đi thì vượt thoát, ai về được tới Sài gòn trước thì báo tin cho gia đình người kia hay vì nghe lén được công an sẽ giải chúng tôi về trại tù cải tạo gì đó dưới miệt Thứ – đường qua Cà mau.
Cuộc vượt thoát thành công nhờ hiểu ý nhau nên phối hợp nhịp nhàng, nhờ anh bạn Tàu giỏi võ nên hai tôi trốn thoát được, và chia tay để bị bắt lại một cũng hơn hai cùng bị bắt. Sau đó tôi trốn trong rừng ngập mặn chờ cơ may gặp được ghe xuồng qua lại, hay người địa phương nhờ giúp đỡ.
Trời thương cho tôi về tới được Sài gòn với cái đầu trọc bị công an cạo để phân biệt tù vượt ngục với thường dân nơi bến xe đò, bến phà… Nó bị bắt lại vì nó chưa từng sống nơi sông nước như tôi đã từng. Nhưng không sao, tôi cho gia đình nó hay tin thì người nhà của nó tức tốc về miền tây để giải cứu nó. Trời cũng thương cho nhà nó có vẻ khá giả vì ăn tết tươm tất có thể nói là nhà giàu thời bấy giờ nên tôi tin là gia đình nó có vàng để giải cứu nó không khó. Tôi ghé nhà người bạn xin bộ quần áo, mượn nó ít tiền, viết cái thơ tay nhờ nó đem đến nhà tôi để người nhà biết tôi đã thất bại và tạm lánh lên nhà bà con trên cao nguyên, chờ tin gia đình báo ổn tôi mới về lại Sài gòn vì tôi lo ngại hai người áp giải chúng tôi không may thì có thể công an biên phòng Kiên Giang tìm chúng tôi lên tới Sài gòn. Nhưng ơn trên đã che chở, còn tặng tôi cái nón tai bèo để che đi cái đầu trọc bị cạo nham nhở như chó gặm suốt mấy tháng trời mới vứt cái nón đi vì nhìn cái nón, lòng tôi buồn vô lượng…
…
Hơn bốn mươi năm rồi, những địa danh trong tâm khảm vẫn về theo không khí tết: Minh lương, Tắc cậu, Tà niên, Rạch sỏi… những người không quen cũ còn không khi tết lại về nơi phương trời biệt xứ này. Có những người không quen nhưng hết đời không quên tình nghĩa lúc cùng đường. Tên bạn chân quê ngố ngáo khi lên Sài gòn theo học đã cùng tôi kiếm sống qua ngày, mang tiếng thổ địa ở Sài gòn nhưng giúp bạn sống qua ngày đâu có nguy hiểm bằng nó đánh đổi với an nguy của nó và gia đình khi dám đánh điện tín cho tôi về quê nó để đi hôi. Cô gái bán vé số không quen sao nhắc nhở tôi: Anh phải hết sức cẩn thận khi về Minh lương vì công an biên phòng ở đó dữ dằn khét tiếng. Sao cô biết tôi đi đâu, về đâu mà quan hoài. Người Sài gòn về miền tây không có lý do nào tin được ngoài việc vượt biên sao? Rồi người bạn Tàu gặp nhau ở Chợ lớn thì khinh khỉnh nhìn nhau, nhưng lúc hoạn nạn thì chơi tới cùng với nhau như giang hồ thứ thiệt. Hai người công an biên phòng bị chúng tôi làm khó, bây giờ ra sao? Họ không chết đâu vì dân sông nước dễ gì chết đuối, nhưng cuộc đời của họ từ đó khó hanh thông. Xin tha thứ cho nhau.
Trời đã quá nửa đêm giao thừa bên Mỹ, mồng một tết ở quê xa. Tết vẫn về trong lòng người Việt ở bất cứ nơi đâu trên địa cầu. Tết đã về, những đứa trẻ gầy như que diêm tiễn tôi đi vượt biên đã bạc đầu, họ còn lay lất ở quê nhà hay đã thành người thiên cổ, có mộ phần hay không? Những người xe đạp thồ có về kịp với gia đình để đón giao thừa? Những hệ lụy của cuộc chiến đến bao giờ mới buông tha cho người trong cuộc. Ánh mắt Quỳnh Hương còn dõi theo lịch sử quê nhà nữa hay không? Người trong tận cùng ánh mắt ấy vẫn nhớ đến cô từ phương trời cách biệt mỗi độ xuân về. Xuân quỳnh hai nửa giao thoa, làm sao không nhớ quỳnh giao, quỳnh hương lan toả bay vào thiên thu…
Phan
Xuân Giáp Thìn 2024