Xin đừng buông tay
Michel Bussi
Dịch giả: Nguyễn Thị Tươi
– Buồn là anh con mất quá sớm. Anh con có thể sẽ cứu sống được nhiều người, rất nhiều người. Lẽ ra con có thể tự hào về anh con, con yêu ạ.
Năm con côn trùng khẽ lay động trong bàn tay ấm nóng của anh, như thể chúng vừa mọc cánh. Martial những muốn thời khắc này kéo dài mãi mãi.
Trên đầu họ, một chiếc trực thăng đang bay qua.
Chương 29
Imelda trong tủ lạnh
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
9 giờ 50
Đứng trên bãi xe của đội cảnh sát Saint Gilles, Quentin Patché đang nhìn xuống những ngón chân của mình giống như một học sinh bị bắt quả tang hút thuốc trong nhà vệ sinh. Tuy nhiên, anh cao một mét tám mươi, đã có đến đai nâu môn aikido và không có điều gì phải chê trách về ý thức trong suốt hai mươi mốt năm làm việc trong ngành cảnh sát của đảo. Cô gái trước mặt kém anh mười tuổi, hai mươi xăngtimét và ít nhất là ba mươi kilôgram.
Ấy thế nhưng anh không đáng kể gì.
– Chỉ có độc một gã, mẹ kiếp! – Aja hét lên. – Với một đứa bé sáu tuổi ở đằng sau. Không giấy tờ! Và anh để cho hắn đi qua!
Quentin Patché sắp lúng búng nói lời xin lỗi. Aja không cho anh có thời gian. Cô biết rõ điệp khúc đó, cái xác bà già trên ghế phụ lái, Sofa cải trang thành con trai, gã lái xe bộ dạng ngớ ngẩn không giống lắm với ảnh chụp Bellion… Thông báo qua bộ đàm tới tất cả các đội lục soát đã đến muộn mất vài phút, đa số cảnh sát có lẽ đều sẽ bị lừa, cả gã ngốc Patché này cũng như người khác. Nhưng điều đó không ngăn cản nữ đại úy tiếp tục gào thét với anh:
– Chúng ta đang nắm giữ hắn, trung úy ạ. Chỉ cần mở mắt ra…
Patché là một cảnh sát đã được rèn luyện tốt. Ở đội cảnh sát cũng như ở câu lạc bộ aikido, anh đã học được cách bình tĩnh chịu đựng. Aja còn tuôn hàng tràng trách móc trong nhiều giây nữa.
Cô cần được giải tỏa. Nhất là cần gây ấn tượng với đại tá Laroche.
Anh ta đứng cạnh họ, dưới bóng cây phi lao. Anh ta đến trước đó mười phút, trong một chiếc Ecureuil AS350 mới coóng đã gây ra một trận bão cát khi đậu xuống bãi biển được cảnh sát giải phóng vài phút trước.
Christos im lặng tham dự cảnh tượng ngay từ đầu. Cuối cùng, ông cũng quyết định can thiệp, theo cách tế nhị. Ông nghiêng đầu thì thầm vào tai viên đại úy:
– Được rồi, Aja. Chú nghĩ cháu làm thế là đủ rồi đấy. Quentin đã ở mặt trận từ gần mười ba giờ qua. Anh ta cũng chỉ có giới hạn thôi, đúng không?
Aja gật đầu.
Cô liền quay sang Laroche trong khi Quentin Patché đi xa dần. So với hình ảnh mà Aja mường tượng ra khi nghe điện thoại, viên đại tá có vẻ cao hơn. Và cũng hấp dẫn hơn. Vóc dáng của một anh chàng điển trai tuổi bốn mươi, nhẵn nhụi và sạch sẽ, với chút hài hước cần thiết trong đáy mắt khiến ta đoán chừng anh ta là một nhà ngoại giao khôn khéo cố giấu mình sau cái nếp quan liêu lạnh lùng. Một gã làm quản lý cho tổ chức phi chính phủ, chủ ngân hàng trong lĩnh vực tài chính vi mô, hoặc tư vấn xã hội chủ nghĩa. Thông minh. Nghị lực. Khiến người khác tin tưởng. Và khiến người khác căng thẳng.
Laroche chờ Patché vào trong văn phòng đội cảnh sát rồi mới lên tiếng:
– Chúng ta không sửa lại lịch sử được, đại úy Purvi ạ. Patché chỉ làm mất của chúng ta vài phút. Thông tin tìm kiếm đã được đưa ra: một chiếc Nissan Micra màu vàng mà thực tế là Bellion không có thời gian để thay biển số. Hắn sẽ không thể đi xa, chúng ta đã huy động toàn bộ trực thăng của ComGend, mười một chiếc EC145 đang quần thảo trên vùng trời của đảo. Cô đã làm tốt, Purvi ạ, tôi nói rất chân thành. Trước hết là bao vây hắn, sau đó buộc hắn phải ra khỏi hang. Hắn nhanh hơn ta chưa đầy ba mươi phút. Nhưng hắn không có cơ hội nào đâu.
Vừa nói, Laroche vừa di gót giày thành những vòng tròn nhỏ trên lớp sỏi rải ở nền nhựa đường của bãi đỗ xe. Mặc dù bề ngoài anh ta có vẻ tự tin, Aja vẫn nhận thấy vẻ căng thẳng kín đáo. Trước khi leo lên trực thăng, viên đại tá mặc chiếc quần bằng vải gai thô, áo gilê chống đạn và đi giày bảo hộ. Đủ bộ của một lính đặc công ra trận. Ngay lúc đầu, hẳn là viên đại tá cảm thấy bỡ ngỡ khi phải tháo bỏ cà vạt và quân hàm để bay bằng chiếc Ecureuil lần đầu và đến thăm những người Créole. Nhưng trong thâm tâm, chắc chắn anh ta không mong chờ gì kế hoạch Papangue như món quà chào mừng đến đảo.
Aja nhíu đôi lông mày cho đến khi chúng giáp nhau, để cho thấy rõ là cô không để mình bị vài lời khen lấy lệ dỗ dành.
– Thế trong lúc này thì sao, đại tá? Trong lúc chờ trực thăng quay lại. Chúng ta khỏa lấp sự im lặng bằng cách lôi nhạc cụ ra và chơi bài “Đoàn kỵ binh của Walkyries?”
Laroche khiến nữ đại úy ngưỡng mộ vì hàm răng hoàn hảo của mình. Một nụ cười có thể xem là thẳng thắn và chia sẻ.
– Chúng ta im lặng và cầu nguyện thánh Expédit[39], đại úy Purvi ạ. Ở đây người ta nói thế đúng không?
9 giờ 57
– Aja, chú nói chuyện với cháu được không? Nói riêng thôi.
Christos kéo tay áo Aja, dẫn cô đi cách xa những người khác một chút.
– Có quan trọng không chú?
– Có.
Christos quan sát Laroche đứng cách đó ba mét, anh ta đang bận tìm nơi tốt nhất trên bãi đỗ xe để bắt sóng cho chiếc iPhone.
– Nói riêng thôi, – Christos nhấn mạnh. – Không phải trước mặt Laroche. Cháu thì có thể hiểu được. Còn anh ta thì không… Ta vào tủ lạnh được không?
Tủ lạnh là một căn phòng nhỏ mười mét vuông không có cửa sổ, nơi tài liệu lưu trữ trong suốt ba mươi năm của đội cảnh sát được xếp xung quanh hai chiếc ghế sắt và một chiếc bàn bằng kim loại. Cảnh sát Saint Gilles đặt tên phòng này như thế bởi vì đây là phòng mát nhất của tòa nhà, nhưng chủ yếu là vì phòng không có cửa sổ nên có thể tận dụng để làm nguội vài kẻ bị tạm giữ không chịu mở miệng.
Christos đóng cửa lại. Ấn công tắc. Một cái tủ lạnh hiện đại sáng lên khi có người vào bên trong.
Một phụ nữ đã ngồi chờ sẵn trong căn phòng mát mẻ. Một người Cafre. To lớn. Khỏe mạnh. Trang điểm theo kiểu Créole có phong cách, môi son đỏ và lông mày màu chàm.
Christos đảm nhận việc giới thiệu.
– Aja, đây là Imelda. Một người bạn. Chú đã nói với cháu sáng nay. Cháu đã trả lời là cô ấy có thể đến, cháu nhớ không? Cháu nên nghe cô ấy nói, cô ấy đã suy nghĩ rất nhiều về vụ này. Với độ lùi lớn hơn chúng ta, nếu cháu hiểu ý chú… Cô ấy không…
– Cháu nhớ, – Aja cắt ngang rồi nói thẳng với Imelda. – Vậy ra chị là người phụ nữ duy nhất trên thế giới bắt được nhà tiên tri tự do Christos Konstantinov phải làm thêm giờ. Và nếu tôi nhớ không nhầm, chị là một người nghiệp dư rất giỏi trong việc suy đoán tội phạm. Kiểu Harlan Coben đúng không? Xin thứ lỗi cho tôi, thưa chị, và nhất là hãy thứ lỗi cho chú Christos, lẽ ra chú ấy phải hỏi tôi trước, hẳn tôi sẽ khẳng định với chị rằng chị không cần phải đến đây. Ít ra thì cũng không phải ngay lập tức. Martial Bellion hiện đang bị hơn chục chiếc trực thăng theo sát. Mọi chuyện có thể xảy ra chỉ trong vài giây sắp tới…
Christos nài thêm:
– Cháu thực sự nên nghe cô ấy…
– Chú làm phiền cháu quá, chú Christos.
Aja di chuyển trong phòng, máy móc xếp lại tấm bìa bị xộc xệch trên một hộp tư liệu. Cô đưa ánh mắt thương hại nhìn người phụ nữ Cafre.
– Tôi rất tiếc, Imelda, tôi không giận chị. Nhưng…
– Không có gì đâu, – Imelda mỉm cười. – Cô đừng bận lòng. Tôi hiểu, tôi đã qua tuổi bị mếch lòng rồi.
Cô đứng dậy và quay sang Christos.
– Sếp anh nói đúng, em đi thôi. Em đã nói với anh là em không có việc gì ở đây cả. Lũ trẻ đang chờ em ở nhà, em còn những ba tấn quần áo phải giặt, rồi lại còn ra Saint Paul mua rau nấu cà ri, và…
Christos ngước mắt nhìn lên trần nhà lốm đốm nốt rộp, đột nhiên ông đấm tay xuống mặt bàn. Một làn mây bụi bốc lên trong phòng.
– Rốt cuộc, khỉ thật, Aja, cô mất gì mà không nghe cô ấy năm phút chứ? Imelda là một nhân chứng, chỉ là một nhân chứng chết tiệt. Cô ấy quan sát và ghi vào trí nhớ từng tin vặt nhỏ nhất trên đảo từ lâu rồi, trước khi người ta sáng tạo ra đĩa cứng và các phần mềm tìm kiếm…
Aja thở dài, nhìn đồng hồ.
– OK, năm phút, không hơn.
Christos kéo một chiếc ghế, lấy tay lau. Bụi lại bốc lên thành một đám mây trong chốc lát, gần như vô hình vì không có ánh mặt trời. Aja bật ho. Christos hắng giọng. Trong tủ lạnh có mọi thứ trừ bia và đá lạnh.
– Nói đi, Imelda…
Imelda bước lên. Đứng dưới chiếc bóng đèn duy nhất, vóc dáng đồ sộ của cô khiến Aja chìm trong bóng tối.
– Từ đầu vụ này, tôi đã thấy thái độ của Martial Bellion không lô gích.
Theo sự di chuyển của Imelda, khuôn mặt Aja hết chìm trong bóng tối lại nhô ra ánh sáng, như thể chính cô mới đang bị hỏi cung.
– Nói rõ hơn đi, Imelda.
– À thì, ta có cảm giác như, nói thế nào nhỉ, như đang làm việc với hai người khác nhau. Theo những gì báo chí nói. Và theo những gì Christos nói với tôi.
Aja nhăn trán, đôi lông mày kéo thành một đường thẳng, giống như vạch chỉ dẫn đường cấm màu đen gạch ngang mắt, nhưng cô không ngắt lời Imelda.
– Trước hết, tất cả đều khiến ta nghĩ đây là một vụ vớ vẩn. Một trận cãi nhau. Một tai nạn. Martial Bellion hoảng hốt, gọi cảnh sát, thú nhận…
– OK, – Aja sốt ruột. – OK.
– Sau đó, quay ngoắt 180 độ. Bellion bỏ trốn. Hắn thoát khỏi tay cảnh sát. Biến thành một kẻ giết người không thể bắt giữ, có tổ chức, như thể đang theo một kế hoạch đã được lập chi tiết từ trước, hoặc ít ra, là một mục đích nhất định…
– OK, Imelda, xin lỗi tôi nói thẳng, nhưng chúng tôi đã nghĩ đến tất cả những chuyện đó.
Christos tựa người vào đống tư liệu ố vàng. Mắt ông nhìn hết người này sang người khác.
– Tôi cũng nghĩ thế, – Imelda vội xin lỗi. – Tôi cũng nghĩ thế, thưa cô. Thế nên tôi sẽ đi thẳng vào vấn dề, tóm tắt toàn bộ trong chỉ một câu hỏi: có chuyện gì xảy ra từ 16 giờ thứ Sáu ngày 29 tháng Ba đến Chủ nhật ngày 31 tháng Ba, chính xác là bốn mươi tám tiếng sau?
Sau một khoảng ngạc nhiên, Aja trả lời, giọng vỡ ra:
– Không! Không có gì cả! Sau đó mọi thứ mới ồ ạt diễn ra, khi chúng tôi muốn bắt Bellion.
Imelda không phật ý. Cô vẫn tiếp tục thể hiện, càng lúc càng hào hứng.
– Tôi sẽ giải thích với cô lập luận của tôi. Thứ Sáu, bắt đầu từ 16 giờ, ngay sau khi vợ mất tích, Martial Bellion hợp tác với cảnh sát, đề nghị cảnh sát tìm kiếm vợ hắn, thậm chí xin được bảo vệ bản thân hắn. Ngày hôm sau, mọi chuyện thay đổi…
Aja đưa mắt ngán ngẩm nhìn đồng hồ đeo tay.
– Giữa hai khoảng thời gian đó, Imelda ạ, cô cũng biết đấy, bởi vì Christos hình như không phân biệt được giữa bí mật nghề nghiệp và tâm sự trong chăn, chúng tôi đã thu thập các chứng cứ. Máu. DNA. Cái chết của Amaury Hoarau. Vũ khí gây án… Bellion bị dồn vào chân tường…
– Hắn đã bị như thế từ trước, thưa cô. Dồn sát chân tường! Bellion không ngốc, hắn đã biết trước kết quả xét nghiệm máu, DNA và dấu vân tay chắc chắn sẽ được tìm thấy trên cán dao. Tôi bảo đảm những gì tôi nói, đại úy Purvi ạ, Bellion đã thay đổi chiến thuật, một cách toàn diện, và chúng ta không biết lý do của việc đổi hướng đó. Xin nói rất thật, câu chuyện này khiến tôi nhớ đến câu chuyện của con tôi, thằng lớn nhất, Nazir, cách đây ba năm, khi trường Jean Lafosse gọi cho tôi vì nó đã lấy cắp một chiếc MP3 của bạn.
Aja căng thẳng nhìn đồng hồ nhưng Christos ra hiệu cho cô hãy kiên nhẫn.
– Lúc đầu, Nazir ngoan như một con cừu trước các giám thị của trường, thậm chí nó còn nhận đã lấy cắp. Cho đến khi một đứa bạn để lộ bí mật: Nazir đã lấy cắp không chỉ chiếc MP3. Nó còn tổ chức một đường dây buôn bán thực sự trong trường. MP3, MP4, điện thoại di động, đồ chơi điện tử, cần sa… Ngay khi biết một thằng đồng phạm đã mách lẻo, con trai tôi đã trốn đến vùng bình nguyên Makes. Lúc ấy nó mới chỉ mười hai tuổi. Cảnh sát đã mất ba ngày mới tìm thấy nó…
Aja đứng dậy, cuối cùng cô đã thấy quan tâm. Cô cố gắng tìm mối liên hệ giữa cách lập luận đó với những vùng tối trong vụ án. Đề nghị của Liane Bellion ở đội cảnh sát Saint Philippe, chuyến đi của Bellion đến sân bay và vụ đổi ngày về không thành. Cả quá khứ của Bellion nữa, gái đẹp, rượu, cần sa…
– Chị muốn nói gì, Imelda? Rằng Maltial Bellion còn giấu chúng ta điều gì khác nữa sao? Tệ hơn điều hắn đang bị kết tội? Hắn đã bỏ trốn để không bị phát hiện ư?
Christos mỉm cười, tự hào vì Aja đã bị cách lập luận thu hút, ông huýt sáo qua kẽ răng. Tệ hơn ba vụ giết người… Hay đấy, đúng không? Cũng đáng để tìm hiểu sâu hơn về quá khứ của Bellion.
Imelda giơ tay lên trời như một cử chỉ diễn kịch. Nhưng cô không có cơ hội nói thêm lời nào nữa, cánh cửa tủ lạnh đột nhiên bật mở.
Laroche hiện ra, tóc gần như rối tung. Áo gilê chống đạn cài khuy đến tận cổ.
– Ta định vị được họ rồi, Purvi!
– Sao cơ?
– Sau bình nguyên Cafres, trên đường lên núi Lò Lửa.
– Đó là đường cụt! Ta tóm được họ rồi. Tôi đến ngay.
Một chiếc ghế sắt lại đổ xuống trong đám mây bụi. Laroche để cho tiếng vang va vào bốn bức tường kéo dài mãi.
Rõ ràng là anh ta đang khó xử.
– Tất cả trục thăng đều được trưng dụng rồi, đại úy Purvi ạ. Không… không còn chỗ nào dành cho cô cả! Những người sắp đổ xuống đó đều là những người chuyên nghiệp, đơn vị hỗ trợ trên không và trung đội tác chiến vùng cao. Đội của cô phải tiếp tục công việc điều tra ở Saint Gilles. Đó là việc mấu chốt, còn không ít điểm tối trong vụ án này. Cái chết của Chantal Letellier, và còn cả…
Aja nổ tung:
– Anh không thèm đếm xỉa gì đến tôi sao?
Đằng sau Laroche, hai cảnh sát mặc quân phục, đứng chật cả cửa, ngọ nguậy như thể đang buồn tiểu.
– Đại úy Purvi, một tá trực thăng sẽ sà xuống chiếc Nissan của Bellion. Ba mươi người. Đa số là các thiện xạ bắn tỉa. Mỗi người trong số họ chỉ là một thành viên trong kế hoạch Papangue, đã được rèn luyện hoàn hảo và không hề có cái tôi. Không hề có cái tôi, cô hiểu điều đó không, Purvi? Bây giờ tôi phải đi đến đó…
Những tiếng gót giày vang lên, rồi đi xa, để lại cánh cửa tủ lạnh mở ra trống rỗng và im lặng. Christos cắn môi, Imelda lùi sát vào một hàng giá, áp lưng vào những hộp tài liệu lưu trữ. Cả hai đều chung một cảm giác buồn tiếc.
Chiếc bàn sắt trong tủ lạnh bỗng bay vụt, nảy lên, gây ra thứ âm thanh ầm ĩ khi va vào các chân kim loại của mấy chiếc giá.
– Lũ khốn kiếp!
Aja lao ra ngoài, xông vào trong phòng chính của trụ sở đội cảnh sát. Morez né người trước cấp trên, với vẻ thanh lịch của một hậu vệ không muốn phá rối. Aja không nhìn thấy sợi dây điện chạy ngang phòng, hoặc không kịp tránh nên vẫn bước tới. Ngay sau đó, chiếc máy chiếu nối vào đường dây mắc tạm thời vỡ tung trên sàn. Hàng trăm ngôi nhà màu vàng và cam của Saint Gilles biến mất vào hư không.
Tám trăm sáu mươi euro. Một phần tư ngân sách hoạt động hằng năm của đội cảnh sát.
– Thật là một lũ khốn kiếp! – Aja bình luận. Cô chạy đến tận bãi đỗ xe của đội cảnh sát.
Bão cát và sỏi.
Chiếc Ecureuil AS350 B của Laroche đậu trên bãi biển cao hơn đầu cô chưa đầy ba mươi mét, đang khuấy động những tán lá phi lao trong một trận cuồng phong kéo dài mười lăm giây.
– Lũ khốn kiếp!
Aja đưa mắt nhìn theo đường chạy của chiếc Ecureuil, hết sức căng thẳng.
10 giờ 14
Chiếc trực thăng của Laroche chỉ còn là một con ruồi ở phía chân trời. Aja đi vòng vòng, làm di chuyển số lượng sỏi tương đương với gót giày của cả một đoàn quân bị nhốt trong trường luyện ngựa. Không cảnh sát nào trong đội dám lên tiếng. Christos dựa vào cây phi lao và châm một điếu chuốc, chờ lúc thuận lợi để có chiến thuật phá vỡ sự im lặng.
Để cho cơn bão qua đi.
Được một lúc rồi, viên đại úy tiếp tục nhìn chăm chăm vào khoảng trời trống không, tuyệt vọng giống như con chim nhỏ bị đóng đinh vào tổ. Đột nhiên, Aja đưa điện thoại di động lên miệng. Cô hét lên, không chút kín đáo:
– Jipé đấy à? Ừ, Aja đây. Khẩn cấp tuyệt đối! Cậu có còn chiếc trực thăng nào dùng được bây giờ không?
Im lặng chỉ trong vài giây, rồi Aja lại hét lên:
– Cậu có một cái à! Tuyệt, cậu đúng là đáng yêu! Là… là một chuyến dã ngoại hơi đặc biệt. Đừng đi đâu, hai phút nữa tớ sẽ gọi lại.
Aja gác máy.
Christos nhìn cô, kinh ngạc.
– Anh chàng Jipé đó là ai? Người yêu cũ ư?
– Gần như thế. Người mà cháu đã bay cùng nhiều nhất trong suốt cuộc đời.
– Người tình của cháu sao?
– Không. Người hướng dẫn bay của cháu…
Chương 30
Nấm mồ lộ thiên
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
10 giờ 17
Một bó hoa đủ màu sắc, ba đã nói thế. Càng to càng tốt! Dành cho bà già tóc xanh lơ đã chết. Giống như ở nghĩa trang. Người chết rất thích hoa.
Ba đã nói tôi hái hoa dưới gốc cây, không đi quá xa nhưng cũng không ở quá gần cái hố. Còn hơn cả một cái hố nữa, đó là một thứ giếng khổng lồ như thể sâu xuống tận trung tâm trái đất. Vô cùng nguy hiểm! Hàng rào bằng gỗ phía trước đã bị gãy hỏng. Có cả những dải băng nhựa màu cam và những tam giác to tướng màu vàng.
Tôi quay lại để không bị lạc giữa những bụi cây. Ba đứng gần chiếc xe màu vàng, cách tôi ba mươi mét.
Tôi đã hiểu.
Ba đã rời khỏi con đường ngay khi nhìn thấy chiếc trực thăng. Ba đã lập tức quay xe rồi đi tiếp trên một con đường đất, vừa chú ý để luôn chui dưới tán cây. Chiếc trực thăng không thể bay theo chúng tôi, hoặc có thể nó đã phải hạ cánh, nhưng chúng tôi đã đi xa. Sau đó, ba đã dừng xe cạnh cái hố này. Ngay trước tấm biển treo trên hàng rào mục nát. Tôi nhận ra mấy chữ: Miệng núi lửa Commerson.
Chỉ có mình chúng tôi.
Chúng tôi ra khỏi xe, thực ra là ba và tôi, không phải bà già, chắc chắn rồi.
Tôi đã ngay lập tức muốn lại gần miệng hố, nhưng ba không đồng ý.
– Đây là một cái vực sâu gần ba trăm mét, – ba giải thích. – Nếu ta thả tháp Eiffel xuống đây, nó sẽ gần như không nhô ra chút nào, có lẽ chỉ trừ chóp đỉnh.
Tôi thấy khó tin, nhưng nếu không cúi xuống, thì không thể nhìn thấy gì khác ngoài miệng giếng và những vách đá đen đầy hố giống như những miếng giẻ lau bị khô kiệt.
Rồi ba bảo tôi đi hái hoa…
Bây giờ, tôi đã hái được khá nhiều, thậm chí tôi phải khó khăn lắm mới cầm hết được từng ấy cành hoa trong hai bàn tay. Tôi đi về phía chiếc xe màu vàng, vẫn chú ý luôn ở dưới bóng cây. Ba đang cởi trần. Đúng là mặc dù chúng tôi đang đi lên núi, nhưng trời vẫn rất nóng, còn nóng hơn cả ở bờ phá, vì gần như không có gió. Ba đã lôi tất cả đồ đạc ra khỏi xe. Túi, nước, bản đồ.
Thật kỳ cục.
Hình như chiếc xe đang chuyển động.
Tôi bước về phía ba, tay cầm hoa.
– Đừng đi nữa, Sofa!
– Ba làm gì thế?
Người ba đẫm mồ hôi. Hai bàn tay đang đặt trên xe.
– Ba làm gì thế, ba?
Ba ngồi xuống ngang tầm mắt tôi trước khi trả lời. Tôi rất thích ba làm thế.
– Con đã nhìn thấy những ngôi mộ trong nghĩa trang chưa, Sofa? Người ta đào hố để người chết có thể ngủ yên, không bị quấy rầy bởi tiếng động, mưa, nắng… Ngủ mãi mãi, con hiểu chứ?
Tôi lúc lắc đầu. Tôi hiểu. Chết không phải là ngủ, mà là không bao giờ tỉnh dậy nữa.
– Con yêu ạ, trên hòn đảo này, không cần phải đào đất, đã có sẵn những cái hố lớn, những cái miệng do núi lửa tạo thành. Những ngôi mộ hạng năm sao, giống như ở khách sạn, con hiểu không?
Tôi gật đầu thay cho câu vâng.
– Con lùi lại đi, Sofa…
Ba xê dịch những tam giác màu vàng, rồi lại tiếp tục đẩy chiếc xe. Ba không đẩy nó về phía rào chắn gỗ, mà thấp hơn một chút, thẳng về phía cái hố, qua những bụi cây. Bằng tất cả sức lực. Chiếc xe khẽ trượt đi…
Bà già đang ở trong xe, tôi thoáng nhìn thấy mái tóc xanh lơ của bà lướt qua.
Một tay ba giật đứt dải băng nhựa màu cam. Nỗ lực cuối cùng. Chiếc xe lật nhào.
Thật buồn cười, lúc đầu không có tiếng động nào, như thể đúng là cái hố không đáy, giống như khi Alice rơi vào trong hang thỏ, suốt nhiều giờ liền.
Và rồi đột nhiên, tất cả nổ tung. Cũng mạnh như tiếng sấm khi nó nổ sát bên tai, một lúc sau khi chớp lóe, đúng lúc ta không ngờ tới nhất. Tôi có cảm giác dường như các vách đá sẽ tách ra và cái hố tự bít lại do đất rung.
Tôi lùi ra sau hai bước. Tôi kém dũng cảm hơn Alice nhiều.
10 giò 22
Martial kéo Sofa lùi tiếp đến tận dưới rặng cây thấp và ngước mắt nhìn lên trời. Bây giờ, anh nhìn thấy rõ ba chiếc trực thăng, ở khá xa; hai chiếc bay phía trên đỉnh Lò Lửa, còn một chiếc, ngược lại, hướng về phía đỉnh núi Tuyết. Anh tưởng tượng cảnh sát đang cúi xuống khoảng không, mắt dán vào ống nhòm, tìm kiếm bất cứ dấu vết nhỏ nào để định vị hai cha con anh trong rặng cây hoặc khu rừng Tamarins. Một chiếc xe, hai kẻ chạy trốn, đâu đó giữa sườn núi lửa và sông Remparts: vòng tìm kiếm của cảnh sát đã thu hẹp lại đáng kể.
Đó chính là kế hoạch của anh!
Thu hút đám trực thăng giống như lũ ruồi khi cùng chiếc Nissan đi lộ liễu ngược lên đường Núi lửa. Vung vẩy một mảnh vải đỏ để khiến họ phấn khích. Rồi, giống như ở Saint Gilles, đột ngột làm chiếc xe biến mất, làm rối các hướng điều tra, tiếp tục đi bộ… Chạy sang bên kia núi lửa, nhằm hướng đỉnh Sainte Rose, đại dương, vịnh Thác.
Martial mỉm cười với Sofa rồi nhét đồ đạc vào trong túi, vừa cố nhớ từng chi tiết trên tấm bản đồ của IGN, những đoạn dốc, khoảng rừng, khe nước, buộc bản thân phải hình dung ra mô hình 3D từ những đường bình đồ.
Ngay khi rời khỏi rừng cây bụi trên miệng núi lửa Commerson, họ sẽ vấp phải hai vấn đề lớn. Trước hết là phải đi qua bình nguyên Cát, hai kilômét đường tro đen, dưới ánh mặt trời, không một bóng râm, một công suất phản chiếu kỷ lục, hấp thụ gần như toàn bộ tia nắng mặt trời mà không phản chiếu lại. Một cái lò than có kích thước bằng năm trăm sân bóng, đủ rộng để nướng xúc xích cho tất cả dân trên đảo trong một thế kỷ. Hai cha con sẽ phải đi lộ liễu trên bình nguyên Cát, có thể bị định vị dễ dàng như lũ kiến trên một tấm vải trắng.
Nếu nhờ phép mầu mà họ qua được, hai cha con sẽ phải dấn thân vào sườn núi lửa cho đến khi xuống tới biển.
Mười lăm cây số. Một nghìn bảy trăm mét đường dốc… Sofa sẽ không bao giờ theo kịp anh…
10 giờ 25
– Giờ thì lại gần đây nào, con gái. Bó hoa của con đẹp quá.
Tôi ngần ngại. Tôi ôm sát những cuống hoa vào ngực. Tôi có cảm giác cái hố vẫn còn rung rinh.
– Lại gần đây, con yêu, con không bị chóng mặt chứ?
– Không…
– Đưa tay cho ba. Con sẽ ném hoa xuống đáy hố để bà già tóc xanh lên thiên đường.
Tôi muốn nói với ba rằng nếu ba không giết bà già, chúng tôi đã không phải làm tất cả những trò này, nào thiên đường, nào hoa, nào đẩy xe, nhưng tôi không muốn ba lại nổi cáu.
Tôi bước đến. Chân tôi cách cái hố mười xăngtimét. Bàn tay ba ẩm ướt.
Cái hố giống như một cái miệng lớn. Một cái miệng đói khát muốn nghiến ngấu không chỉ bó hoa của tôi, mà cả tôi nữa, giống như những chiếc răng ngựa to tướng nhe ra khi người ta đưa cỏ qua hàng rào cho chúng.
Chúng muốn cả các ngón tay. Bàn tay. Cánh tay.
Tôi dựa vào vách đá sát miệng hố, tôi muốn hoa của tôi rơi tận xuống đáy.
– Ba giữ con chắc nhé, ba!
Nếu mẹ mà ở đây thì mẹ không bao giờ để tôi làm như thế này.
Tôi cúi xuống, gần như ngay trên miệng hố. Ba giữ tay trái của tôi, trong khi tay phải tôi vẽ thành một vòng tròn, rồi đột ngột tôi ném bó hoa xuống.
Hoa tan tác như mưa.
Chúng rơi xuống, không tiếng động. Tôi cúi đầu, muốn nhìn theo càng xa càng tốt, cho đến tận trung tâm trái đất.
Tôi chỉ nghe tiếng gió thổi trong lá, và tiếng đám côn trùng kêu vo vo, cao tít trên trời; hoặc có thể đó là những chiếc trực thăng.
– Ba ơi, đừng buông tay con, nhé!
Chương 31
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
10h32
Tất cả đều đã bay…
Còn lại một mình Christos giữ thành ở văn phòng đội cảnh sát Saint Gilles, như một thằng ngốc, như một con mèo vào tháng Tám khi chủ nhân đã đi nghỉ mát. Căn nhà lớn và khu vườn rộng chỉ của riêng mình.
Một mình, không hẳn thế.
Vẫn còn Imelda. Người phụ nữ Cafre đang ở trong văn phòng của ông tra cứu toàn tập Cảnh sát Réunion, tập san hằng tháng của ComGend là vài ba trang báo được những chuẩn úy lấy cảm hứng từ vinh quang của nền cộng hòa, của đội cảnh sát hải ngoại và các sĩ quan biên tập… Christos gần như không bao giờ mở nó ra. Có biết bao tạp chí viết về đảo với những cô nàng ngực trần trên trang bìa… Ai mà muốn đọc tờ tạp chí vàng và xanh cùng lắm chỉ ca ngợi mấy cô nàng mặc váy trong ngành cảnh sát.
Sáng nay, Christos có những ý tưởng bẩn thỉu. Cô bé tiếp viên hàng không đã khiến ông nhộn lên. Ông nhìn chiếc võng và cố tưởng tượng bằng phép mầu trọng lực nào đó, ông có thể khiến Imelda trèo lên võng, rồi, bằng phép mầu thứ hai, trèo lên cùng cô… Chỉ để vui vẻ một chút thôi.
Ông đã không nài nỉ để có được một chỗ bên cạnh Aja trong chiếc trực thăng của anh chàng Jipé. Thế nhưng đây lại chính là cơ hội để đóng vai du khách, bay qua đảo, qua Trou de Fer, vọng lâu Maїdo, Mafate và Salazie…
Trải nghiệm duy nhất của con người trước thiên nhiên hoang dã. Miễn phí!
Phải có ai đó trông nhà chứ. Nhất là Christos không hề muốn tham gia với vai trò quan sát viên trước vũ điệu chính xác đến từ milimét của các thiện xạ bắn tỉa của Laroche. Ba mươi gã được vũ trang cho một cuộc đi săn. Từ trên trời rơi xuống giống như những ác thần hủy diệt. Đối diện với họ là một gã khốn khổ và một đứa bé gái sáu tuổi.
Quá ít đối với ông.
Christos đi lấy cho mình một chai Dodo trong tủ lạnh, tủ lạnh thực sự, cái có thể làm mát được, đặt trong bếp. Ông gặp lại Imelda trong văn phòng nơi ông ngồi chung với Aja. Cô đã bỏ cuốn Cảnh sát Réunion để đọc những cuốn sách về tội phạm học. Say sưa.
– Em đọc được chứ? Đừng ngại. Hôm nay là ngày mở cửa… Thư viện cho tất cả mọi người.
Imelda không ngại! Christos hơi chán nản bên cạnh cô. Ông phải chấp nhận điều hiển nhiên, viễn cảnh chơi trò truyền giáo trên võng trở nên bất khả thi. Tuy nhiên, vẫn còn một vài khả năng hợp lý. Những chiếc còng tay trong ngăn tủ thứ nhất bên phải, những thanh chắn phòng giam trong phòng đầu tiên bên trái lối ra, những thứ đó có thể thêm gia vị cho một lần ngẫu hứng kiểu chó mà sáng nay ông đã bỏ lỡ.
– Anh nghĩ gì thế, Christos?
– Chẳng nghĩ gì cả.
Imelda đặt một cuốn sách bìa cứng xuống, Hồi ký của RID, và đưa ánh mắt thèm muốn nhìn những hồ sơ chất đống trên bàn làm việc của Aja.
Christos nốc cạn chai bia và trả lời với vẻ mệt mỏi:
– Lấy đi, cứ mở hồ sơ nào em muốn. Hôm nay là open bar.
10 giờ 45
Imelda ngồi vào chiếc ghế da của Aja. Trước mặt cô, bên tay phải, hai đứa trẻ đang chơi đùa trong khung ảnh hình chữ nhật. Chắc chắn là con gái của viên đại úy. Cũng những khuôn mặt như các con cô, nhưng có một điểm khác biệt đáng kể, là hai đứa trẻ này có một ông bố để chúng có thể rúc vào trong vòng tay, hớn hở.
Những tài liệu đáng tin cậy do đội cảnh sát thu thập đang trải ra trước mắt cô. Imelda chăm chú xem toàn bộ chi tiết. Những cuộc trao đổi với các khách hàng và nhân viên khách sạn Alamanda. Lời khai của các nhân chứng có quan hệ xa gần với Martial Bellion. Phân tích ADN. Ảnh chụp những nơi được giả định là bối cảnh vụ án, phòng 38, ngôi nhà của bà Chantal Letellier; hoặc những bức ảnh khác do những người không chuyên cung cấp, bãi đỗ xe của khách sạn Alamanda vào buổi chiều Liane Bellion mất tích, bến cảng Saint Gilles vào giờ giả định xảy ra vụ giết hại Rodin, vườn Địa đàng nơi chắc chắn Bellion và con gái đã ẩn náu trong vài giờ.
Imelda cố gắng ghi nhớ hết. Trái với suy nghĩ của Christos, cô chưa từng nghĩ mình có chút khả năng suy đoán nào. Chỉ là cô không quên gì cả. Cô cóp nhặt, phân loại, sắp xếp, và tìm lại rất nhanh trong trường hợp cần thiết.
Bên cạnh, Christos đang chúi mũi đọc. Trên tay ông là trang giữa của Cảnh sát Réunion, nơi những cô gái hiếm hoi của đội cảnh sát cơ động biển đang tạo dáng. Ông tự thuyết phục bản thân. Imelda ngon lành, ma lanh, dâm dục… nhưng cổ điển. Ngoài giường của cô ra, làm tình là một nhiệm vụ bất khả thi.
Về mặt chuyên môn, điện thoại không hề reo trong văn phòng đội cảnh sát đã từ hơn hai mươi phút. Mọi người đều đã trốn. Mọi người đều không quan tâm.
10 giờ 51
Đúng lúc đó ông ta bước vào.
Thoạt nhìn, Christos không nhận ra ông ta với cặp kính Ray Ban, bộ cánh bằng lanh trắng và những giọt mồ hôi đang tô điểm thêm cho chòm lông màu muối tiêu dưới cằm.
– Tôi muốn nói chuyện với đại úy Aja Purvi.
Nhưng viên thiếu úy lại nhận ra giọng nói ngay lập tức. Armand Zuttor, giám đốc khách sạn Alamanda.
– Rất tiếc, cô ấy có việc phải đi…
Christos phác một động tác bằng bàn tay mà chỉ có ông mới có thể diễn giải được là một chiếc trực thăng đang bay.
– Chết tiệt, – Zuttor buột miệng.
– Có chuyện gì thế? Ông lại mất thêm một bà khách nữa à?
Viên giám đốc đưa tay lau chòm râu.
– Hai.
Christos thả mình xuống chiếc ghế gần nhất.
– Chúa ơi… Chỉ còn thiếu nước đấy thôi. Chúng tôi có biết họ không?
– Cũng biết đôi chút đấy. Là Jacques và Margaux Jourdain!
Hai bàn tay viên thiếu úy co quắp trên lớp giấy trơn láng của tập san Cảnh sát Réunion. Ông đưa ánh mắt khó hiểu nhìn sang Imelda trong khi Zuttor hình như còn không nhận ra sự hiện diện của người phụ nữ Cafre trong phòng.
– Vợ chồng nhà Jourdain biến mất ư? – Christos nhắc lại một cách ngu ngốc.
Zuttor không có vẻ hoảng sợ. Ông ta ngồi xuống, thủng thẳng ngắm nghía cặp kính Ray Ban, lấy ra một chiếc khăn lụa màu be và chấm mồ hôi trên thái dương.
– Không, không hẳn, thiếu úy ạ. Nói chính xác thì họ chỉ rời khỏi khách sạn Alamanda thôi. Họ cho tôi biết là họ quyết định đến đảo Maurice vào cuối kỳ nghỉ.
Christos ngước mắt nhìn lên, cuốn Cảnh sát Réunion trong tay ông cứng như chiếc dùi cui.
– Phải hiểu cho họ, – viên giám đốc khách sạn nói tiếp bằng giọng chán chường. – Kế hoạch Papangue đâu có được đưa vào cuốn hướng dẫn các hoạt động du lịch trên đảo.
– Lũ khốn kiếp, – Christos buông thõng.
Armand Zuttor mỉm cười trong khi viên thiếu úy nhớ lại trò tiêu khiển ưa thích của Jacques Jourdain, sưu tập ảnh gợi cảm của các cô gái mà hắn ta gặp, trong đó có cả ảnh của Liane Bellion. Ông đột ngột đứng dậy.
– Dù là luật sư hay không, Jacques Jourdain và vợ sẽ phải nghỉ kỳ nghỉ ở Maurice tại nơi mà tôi nghĩ. Họ là những nhân chứng chủ chốt. Chừng nào Bellion còn đang trốn chạy, họ không được rời khỏi đảo.
Viên giám đốc khách sạn gục gặc đầu, như thể ông ta đang phân vân giữa ngại ngần và nhẹ nhõm.
– Tanguy Dijoux, người làm vườn, đã chở họ ra sân bay sáng sớm hôm nay.
Ông ta ngừng lại và nhìn đồng hồ.
– Giờ này họ đang trên máy bay. Họ không có điều gì để tự…
– Đồ khốn kiếp! – Christos cắt ngang.
Nụ cười thỏa mãn của Armand Zuttor sững lại. Giống như một thác nước đột ngột đổ từ trên cao xuống sông, những giọt mồ hôi lại lấp lánh tại mỗi nếp nhăn trên khuôn mặt ông ta.
Viên thiếu úy nhấn mạnh:
– Họ đã trả ông bao nhiêu để không nhả thông tin ra trước khi máy bay cất cánh?
Chiếc khăn mùi soa màu be thanh nhã của Zuttor chỉ còn là một miếng giẻ lau nhà dùng để chấm mồ hôi trên hai thái dương điểm bạc và đám lông dưới cằm. Viên thiếu úy cúi người về phía tay giám đốc khách sạn, ông cao hơn ông ta một cái đầu.
– Khách hàng là thượng đế, tôi hiểu, xin bỏ qua cho tôi bài ca về khủng hoảng. Ông đừng lo, Zuttor ạ, chúng tôi sẽ chờ họ trên lớp nhựa đường phủ sân bay Sir Seewoo. Viên luật sư và người đẹp tóc vàng của ông ta nên hợp tác nếu không muốn bị dán kế hoạch Papangue phiên bản Maurice vào mông.
Zuttor vẫn nhìn đồng hồ.
– Ông phải nhanh lên, thiếu úy ạ. Họ sẽ hạ cánh trong mười phút nữa.
Viên thiếu úy huýt sáo qua kẽ răng và tỏ vẻ hoan nghênh.
Không còn gì để nói, Zuttor, căn giờ giỏi đấy. Đảo Maurice là một nước cộng hòa độc lập bảo hộ khá tốt đối với các khách hàng nước ngoài giàu có.
Christos ném cuốn Cảnh sát Réunion vào sọt rác bằng inox như ném một mũi lao.
Keng!
Ông lại quay sang viên giám đốc khách sạn Alamanda.
– Chỉ trừ việc Maurice cũng không phải là một trong những đảo Caїman. Ở tất cả các đảo Mascareigne chúng ta đều có thỏa thuận chống nhập cư trái phép. Các thẩm phán và cảnh sát rất hợp tác. Cặp đôi khách hàng yêu quý của ông không nên nuôi bất cứ ảo mộng nào, vì chúng tôi sẽ có tất cả các giấy phép cần thiết để mang bữa sáng đến cho họ ngay sáng mai. Ông có biết họ trú ở đâu tại Maurice không?
Zuttor nhăn mặt. Ông ta vặn vẹo cặp kính Ray Ban giữa các ngón tay.
– Khách sạn Blue Bay. Chính tôi đã tìm địa chỉ cho họ.
– Tại sao lại là khách sạn đó?
– Blue Bay gồm năm mươi ngôi nhà sàn, cất trên mặt phá. Khách hàng của tôi không do dự lâu.
– Thứ Hai của kỳ lễ Phục sinh. Ở đó vẫn còn chỗ sao?
– Cùng là quản lý khách sạn, chúng tôi cứu nguy cho nhau…
Christos có một mong muốn điên cuồng là để viên giám đốc khách sạn nguội bớt trong tủ lạnh vài giờ rồi sau đó cho ông ta lên bếp nấu nhỏ lửa, chỉ để cho vui, nhưng có chuyện gấp hơn.
– OK. Cho tôi địa chỉ và số điện thoại của Blue Bay rồi biến đi.
Zuttor đứng dậy chậm rãi đeo cặp kính mát lên. Lần đầu tiên, ông nhận thấy sự hiện diện của Imelda đằng sau bàn giấy. Viên giám đốc nhìn người đàn bà Cafre chăm chăm.
– Thế còn cô này, đây là…?
Cách nói ấy không khiến Christos hài lòng. Trong các khách sạn ở bờ phá, mấy tay giám đốc hẳn quan tâm đến hàng dừa, ghế gấp và dù nhiều hơn là đến những người Cafre, Malgache hoặc Comore đang làm việc để giữ gìn cảnh quan. Toàn những cái bóng vô hình. Ông quyết định thêm dầu vào lửa.
– Chuẩn úy Imelda Cadjee. Ông đừng tin vào sự im lặng của cô ấy, đó là bộ não của đội cảnh sát.
Zuttor nhìn cô với vẻ nghi ngờ. Rồi đi ra.
11h09
– Khách sạn Blue Bay phải không? You speak French?
Gã ở đầu dây bên kia nói giọng Anh của một sinh viên Erasmus lạc trong khu La Tinh.
– Có. Chỉ chút ít thôi, thưa ông. Xin được phục vụ ông. Tôi giúp gì được ông?
– Nối máy cho tôi với giám đốc khách sạn!
Giọng nói ngần ngừ, rồi uốn éo:
– Ông có thể cho tôi biết về việc gì…?
– Cảnh sát Saint Gilles ở Réunion! Đây là vấn đề sống còn. Ở đây chúng tôi có một kẻ giết người đang bỏ trốn, đã triển khai kế hoạch Papangue, hẳn là ở đó các anh đã nắm được thông tin ở chỗ chúng tôi?
Anh chàng nhân viên lễ tân người Maurice tỏ vẻ không thể bị ấn tượng mạnh hơn.
– Tất nhiên rồi, thưa ông, tôi sẽ hỏi xem bà giám đốc có rảnh không.
Sự điềm tĩnh của anh ta khiến Christos khó chịu. Qua ống nghe, ông thấy gã nhân viên lễ tân nói chuyện với một người khác, rõ ràng là cũng không thể căng thẳng hơn.
– Mike, is Miss Doré in the office?
Ra thế.
Christos hét vào điện thoại:
– Graziella Doré? Cô ấy là giám đốc của Blue Bay à?
– Yes, mister, but…
Chết tiệt, cho tôi gặp cô ấy!
Lần này, tiếng chân hoảng hốt vang lên trong ống nghe. Những bước chân đi xa dần. Christos nhìn qua cửa sổ. Không còn dấu vết nào của con chồn Zuttor.
Ông chờ chưa đầy một phút.
Những bước chân chậm rãi hơn tiến lại gần, nhẹ hơn những bước chân lúc trước. Christos nhận ra tiếng giày cao gót nện trên sàn nhà, có thể là bằng đá cẩm thạch. Bước chân dừng lại. Im lặng kéo dài một giây, rồi đột ngột bị phá vỡ bởi một giọng khô khan:
– Vâng?
– Bà Graziella Doré phải không?
– Chính tôi đây.
– Tôi là thiếu úy Christos Konstantinov. Tôi phụ trách vụ điều tra về chồng cũ của bà, Martial Bellion.
Sau một tiếng thở dài khó chịu, Graziella Doré trả lời:
– Hôm qua tôi đã nói hết với người ở lãnh sự quán đến khách sạn hỏi tôi rồi. Anh ta đã chứng thực với tôi là đang hợp tác với ComGend ở Réunion.
Christos ra hiệu cho Imelda đưa cho ông bộ hồ sơ Bellion. Đưa một tay lật các trang. Gần nhưng ngay lập tức, ông nhận thấy ba tờ giấy được đính kèm. Lời khai của Graziella Doré, được nhân viên lãnh sự Daniel Colençon ghi lại vào Chủ nhật ngày 31 tháng Ba lúc 21 giờ 17, ở Blue Bay, đảo Maurice. Daniel Colençon… Christos chỉ quen anh ta sơ sơ, một cựu cảnh sát thuộc sở cảnh sát trung tâm Saint Denis, sở này đã rơi vào tình trạng sa sút sau những vụ bạo động ở Chaudron, cuối cùng anh ta đã tìm được chỗ yên ổn ở lãnh sự quán trên đảo Maurice. Biên bản được fax đến sáng nay, do ComGend gửi đến ngay trước khi họ đổ bộ vào nhà bà Chantal Letellier. Chưa ai đọc. Không có thời gian. Chỉ nhét vào trong tập hồ sơ… Mọi người đều không quan tâm. Bellion chính là thủ phạm. Chỉ có vụ truy đuổi là đáng kể.
– Ông vẫn ở đó chứ, thiếu úy?
Christos ngước mắt khỏi tờ khai. Những thứ giấy tờ này khiến ông bực bội, ông phải tranh thủ thời gian.
– Vợ chồng nhà Jourdain đến chỗ bà làm gì?
Lại thở dài, lần này là ngạc nhiên.
– Cảnh sát các ông nói thẳng quá!
– Đúng hơn là chúng tôi đang vội.
– Vợ chồng nhà Jourdain, nghĩa là ông luật sư người Paris và bà vợ ấy hả? Armand Zuttor vừa gọi cho tôi lúc nãy, đó là một người bạn cũ, tôi đã để trống một phòng cho ông ấy. Phải trả phí. Tôi không nên làm thế sao?
– Có. Tôi chỉ thấy ngạc nhiên vì trùng hợp thôi.
Cùng lúc đó ông nghĩ rằng Armand Zuttor hẳn đã điều hành khách sạn Alamanda vào thời điểm Graziella Doré đang làm chủ quán bar – nhà hàng Cap Champagne ở Boucan Canot. Cùng đẳng cấp.
Christos lướt ngón tay trên tờ khai đặt trên bàn. Những dòng chữ nhảy múa trước mắt ông.
– Bà Doré, bà có thể tóm tắt cho tôi biết hôm qua bà đã kể gì với nhân viên Colençon không?
– Ông cứ yên tâm. Ở trong ngành cảnh sát, các ông có trao đổi với nhau chứ?
– Tiếc là chúng tôi hơi quá tải từ hai ngày nay. Câu chuyện của bà là gì?
– Xin lỗi?
– Bà đã theo dõi qua tivi vụ bỏ trốn của chồng cũ, tôi giả định là như thế.
Đến lúc này đã có ba xác chết rồi.
– Ông muốn nghe ý kiến của tôi? Đúng vậy không?
– Đúng vậy.
– Tôi đã nói với nhân viên lãnh sự từ hôm qua. Các ông nhầm rồi. Trong toàn bộ hướng điều tra. Martial chẳng có liên quan gì đến các vụ án mạng đó, anh ta còn chẳng thể làm đau dù chỉ một con ruồi.
Martial Bellion? Không thể làm đau dù chỉ một con ruồi? Christos rủa thầm. Lẽ ra ông phải dành thời gian đọc lời khai của Graziella Doré. Anh chàng Daniel Colençon là một loại rau tự mọc dưới ánh mặt trời, nhưng trong ký ức của ông, anh ta khá ranh ma khi hỏi cung các nhân chứng.
– Chồng cũ của bà đã bị kết án gây tai nạn chết người. Cái chết của con trai bà.
Lần đầu tiên, giọng nói bình thản của Graziella Doré lên cao một quãng, lanh lảnh, giống như chiếc micro bị chỉnh hỏng đột ngột ré lên:
– Ông đã đọc cái gì? Báo cáo của thẩm phán Martin Gaillard? Báo chí thời đó? Ông biết gì về chuyện đã xảy ra đêm đó? Ông dựa vào những nhân chứng nào?
Christos ngừng một lát rồi mới trả lời. Ông có cảm giác lạ lùng là toàn bộ việc điều tra đang bị lung lay. Ông cân nhắc từ ngữ:
– Martial Bellion không phải chịu trách nhiệm về cái chết của Alex con trai bà. Có phải bà đang nói với tôi điều đó không?
– Hôm qua tôi đã nói điều đó với đồng nghiệp của ông. Martial không liên quan gì. Anh ta đã gánh chịu tất cả. Phải có một thủ phạm mà…
Christos cố gắng suy nghĩ càng nhanh càng tốt. Thế nếu họ đã lập luận ngược ngay từ đầu? Nếu Martial không phải chịu trách nhiệm về cái chết của con trai, mà ngược lại, tìm cách trả thù, kiểu như bá tước Monte Cristo? Nếu như anh ta đến Réunion vì việc đó? Christos những muốn có thời gian để xin lời khuyên từ Imelda.
– Có… có người khác trên bãi biển Boucan Canot sao?
– Đó là một câu chuyện cũ, thiếu úy ạ. Chúng tôi đã để thời gian làm liền sẹo.
– Cần nói thêm với tôi, bà Doré ạ.
– Thế chuyện đó thay đổi được gì? Sự thật về cái chết của Alex thì làm thay đổi được gì trong kế hoạch Papangue của các ông?
– Chúng tôi mới là người phải tìm ra những mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, bà Doré ạ. Bà chưa trả lời tôi. Có người nào khác trên bãi biển Boucan Canot không?
– Hôm qua, tôi đã nói hết với nhân viên lãnh sự quán rồi.
Christos đóng tập hồ sơ Bellion lại. Nếu có chi tiết nhỏ nào thú vị trong lời khai của Graziella Doré, hẳn là ComGend đã lưu ý họ.
– Bà không nói với anh ta điều gì hết! Không gì hết về các nhân viên của Cap Champagne. Không gì hết về các nhân chứng có thể có về cái chết của Alex. Không gì hết về những lý do thúc đẩy bà đóng cửa nhà hàng hai tháng sau thảm kịch đó, và rời đảo sau đó vài tuần.
– Ông làm việc trong ngành tâm lý sao?
Christos nở một nụ cười tòng phạm với Imelda.
– Tôi đang thử. Tôi học lớp buổi tối.
– Hay đấy, thiếu úy ạ, hãy tiếp tục đi. Tất cả những gì tôi có thể nói với ông, tôi nhắc lại lần thứ ba, đó là các ông đi sai đường rồi. Martial không giết ai cả. Anh ta không thể làm việc đó.
– Bà Doré, tôi cần nhiều hơn để minh oan cho chồng cũ của bà. Ngay lúc này, mười một trực thăng và hơn ba mươi người đang đuổi theo anh ta.
– Với một cái vợt à? Người của ông đang đuổi theo một kẻ nguy hiểm như một con bướm.
– Với súng, bà Doré ạ. Họ sẽ không sơ sẩy chút nào đâu. Họ sẽ hạ anh ta.
Lần đầu tiên, Graziella Doré có vẻ lưỡng lự. Christos hiểu rằng ông cần tặng cho cô ta một lối thoát. Ông nhớ đến mấy giả thiết điên rồ mà ông và Aja đã tranh luận với nhau.
– Bà Doré, bà có thể chỉ cần cho tôi biết tên các nhân viên của bà ở Cap Champagne, những người làm ở đó vào thời điểm Alex đuối nước được không?
– Lâu rồi… Họ khá đông.
– Chúng tôi sẽ tìm ra những cái tên đó, bà Doré ạ, bằng cách này hay cách khác.
– Ông kết nối nhanh đấy, thiếu úy ạ. Rất nhanh.
– Giờ đến lượt bà đấy. ComGend sắp tóm được con bướm xinh trong vài phút nữa.
– Tôi sẽ suy nghĩ. Cho tôi số điện thoại liên hệ của ông.
– Họ có bảy người, bà Doré ạ. Tôi muốn bảy cái tên.
– Chính xác, thiếu úy ạ. Bảy người Créole. Ông có nhiều thông tin hơn anh chàng cảnh sát hôm qua đấy.
– Đó là công việc của chúng tôi. Lục lọi, đào bới, tiến triển. Còn việc khác nữa. Bà có tin gì về vợ chồng nhà Jourdain không?
– Không. Đến lúc này thì không. Hai ly rượu pân vani và một bó hồng môn đang chờ họ trên chiếc bàn kính trong nhà sàn.
– Thiên đường! Ngay khi vợ chồng nhà Jourdain đặt vali xuống chỗ bà, hãy báo cho Colençon, anh chàng cảnh sát ở lãnh sự quán. Hoặc những ngôi nhà sàn của bà có nguy cơ bị đám trực thăng của những con sói hung dữ đội ComGend thổi bay mái đấy.
Giọng nói của Graziella Doré lại lấy lại vẻ ôn hòa và lạnh lùng của giám đốc một khách sạn hạng sang:
– Tôi sẽ nghĩ đến điều đó, thiếu úy ạ.
11 giờ 11
– Thế nào, người đẹp, em nghĩ thế nào?
Christos vừa gác máy và sốt ruột chờ ý kiến phán đoán của Imelda. Người phụ nữ Cafre đã nghe toàn bộ cuộc đối thoại qua loa.
– Có vẻ hấp dẫn đấy…
Viên thiếu úy tròn mắt ngạc nhiên.
– Cái gì?
– Blue Bay! Nhà sàn lợp tranh trên phá. Bó hồng môn. Có vẻ hấp dẫn. Anh có thể dẫn em tới đó…
– Đến Maurice?
Christos đặt mông lên chiếc bàn nơi người phụ nữ Cafre đang ngồi.
– Đó chẳng phải là thứ dành cho những cặp tình nhân trẻ sao?
Imelda vớ được một cục tẩy trên bàn rồi ném về phía Christos. Viên thiếu úy vừa tránh vừa cười.
– Và không có bọn trẻ!
Trong khi Imelda tìm thứ khác để ném, Christos đưa mắt nhìn xuống người cô. Những đường cong của làn da đen mất hút trong phần cổ khoét sâu của chiếc váy đang để mở. Ông biết cách để dụ dỗ Miss Marple da đen của ông.
– Thế còn vụ Bellion, người đẹp? Em đã có đầu mối nào để gỡ mớ bòng bong chết tiệt này chưa?
Imelda bỏ dở cuộc chiến và suy nghĩ thành lời:
– Em không biết, em phải xử lý đã. Vợ chồng nhà Jourdain, Armand Zuttor, nhân viên của Cap Champagne cách đây mười năm, nhân viên của khách sạn Alamanda ngày nay, mối quan hệ giữa Martial Bellion và vợ cũ, với vợ mới. Với Alex, Sofa…
Christos tranh thủ đưa một tay ra. Mong muốn bật tung một hoặc hai chiếc cúc trên váy của Imelda bào mòn ông, cốt chỉ để cho vui mắt. Người phụ nữ Cafre không nhìn thấy gì, cô vẫn đang chìm trong các giả thiết.
– Có một mối liên hệ giữa tất cả những thứ này, – Imelda tiếp tục. – Bạo lực không ngẫu nhiên sinh ra, luôn có đất cho nó nảy mầm.
Viên thiếu úy càng cúi thấp hơn và thổi vào cổ cô.
– Và ở đây không thiếu các loại phân bón. Tiền phân bổ không đều. Mọi người đều thất nghiệp. Kể cả nạn phân biệt chủng tộc, nếu ta đào sâu hơn.
– Không, không phải thế. Đó chỉ là cách lý giải của các anh! Nhưng không phải là động cơ dẫn đến bạo lực trên đảo.
Christos máy móc đáp lại, mũi ông gần như dính vào giữa hai bầu vú của người tình. Ông muốn bổ sung thêm tình dục vào danh sách dài những động cơ khiến người trên đảo sát hại đồng loại của mình.
– Thế thì là gì, người đẹp?
– Em không biết… Ngày nào em cũng xem xét tỉ mỉ những tin vặt trên tờ Nhật báo. Tội ác ở khắp nơi, trẻ em bị bỏ rơi, phụ nữ bị đánh đập, hàng xóm giết nhau bằng kiếm… nhưng nguồn gốc của nó lại ở chỗ khác… Bị che giấu.
Imelda theo đuổi dòng lập luận, trong một lát cô lại nghĩ đến những người cha kế tiếp nhau của lũ con. Vòng xoáy quen thuộc, luôn luôn giống nhau. Không việc làm. Nghèo đói. Say rượu. Dữ tợn. Trong khi phụ nữ trên đảo được nhận và dùng tiền trợ cấp bánh mì để chi tiêu, thì những người cha và cha dượng dần dần mất hết phẩm cách của mình.
Cô gần như thì thầm, tựa một điều bí mật:
– Che giấu trong mỗi người đàn ông.
Christos không nghe thấy. Ông giơ tay còn lại lên và cúi xuống; ngón tay ông nhằm vào chiếc cúc đầu tiên trên cổ áo, nhưng mông ông trượt trên bàn. Ông chỉ lấy lại được cân bằng nhờ một cú bám tuyệt vọng, tay phải bám vào vai Imelda, tay trái ở chính giữa ngực cô.
Imelda lùi lại:
– Bỏ tay xuống, đồ hư hỏng. Em đã ở đây lâu quá rồi. Bọn trẻ đang chờ em về nấu món cà ri…
11 giờ 23
Imelda đã đậu chiếc Polo gần bãi đỗ xe của bưu điện, sau đại lộ Roland Garros, cách đội cảnh sát năm mươi mét. Cô vừa đi vừa đếm tiền lẻ trong túi. Gần như hằng ngày, ông già người Créole ở Grand Fond đều đỗ chiếc xe tải nhỏ ở đây và bán su su với giá thách thức mọi cạnh tranh. Khách du lịch chỉ bị lừa một lần. Thông thường, họ ghét su su bao nhiêu thì người ở Réunion thích chúng bấy nhiêu.
Imelda đi qua phố.
Ba chiếc xe đậu ngay trước bưu điện. Chiếc xe tải nhỏ của ông chủ trang trại. Một chiếc Picasso xanh lơ. Một chiếc 4×4. Chevrolet Captiva. Màu đen.
Imelda không thể nào rời mắt khỏi chiếc xe địa hình đó: một loại xe không mấy phổ biến trên đảo, lại càng hiếm với ống xả kép và bộ càng chắn bằng crôm bọc ngoài thanh chắn sốc đằng trước, đèn pha và mui xe.
Imelda đóng túi lại, bàn tay run rẩy. Quả là hết sức khó tin, nhưng trí nhớ thị giác khiến cô không còn chút nghi ngờ nào.
Cô đã từng nhìn thấy chiếc 4×4 này! Chưa đầy một giờ trước, trên một bức ảnh trong tập hồ sơ Bellion của đại úy Purvi.
Theo bản năng, cô bước sang bên để nấp sau cây phượng đang tỏa bóng rợp một góc phố. Người bán su su đã dừng sững nụ cười móm mém bên dưới vành mũ và nhìn cô vẻ ngạc nhiên. Thói nghiện tiểu thuyết trinh thám đã dạy cho Imelda không bao giờ tin vào những sự trùng hợp. Nhưng dù vậy, cô vẫn phải chấp nhận sự thật hiển nhiên.
Chiếc Chevrolet đang đậu trước mặt cô, cách đội cảnh sát Saint Gilles vài bước chân, đã được đỗ tại bãi đỗ xe khách sạn Alamanda cách đây ba ngày, chính xác là buổi chiều mà xác Liane Bellion biến mất và Rodin bị sát hại.
Chương 32
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
11 giờ 24
– Phải đi tiếp, con yêu ạ.
Martial nheo mắt chăm chú nhìn chân trời. Hút tầm mắt, anh chỉ nhìn thấy quang cảnh như trên cung trăng, một đại dương tro tàn bị những ốc đảo dung nham màu lửa và những khối đá bazan có hình dáng như lũ quái vật hóa đá phá vỡ. Anh đã ước lượng một cách chính xác khoảng cách trên bản đồ. Kể cả cắt ngang theo đường thẳng nhất, đi qua bình nguyên Cát cũng mất hai ki lô mét. Hai cây số giữa thanh thiên bạch nhật để rời khỏi trảng đất lác đác vài lùm cây của bình nguyên Lũy và đến trảng đất thuộc trảng Nghĩa địa.
Bước chân họ để lại phía sau những vết tro lún xuống. Gió không đủ mạnh để thổi bụi lấp đầy những dấu giày, nhưng lại khá mạnh để đập vào mũi, vào mắt họ, vào từng lỗ hổng. Họ bước đi, miệng ngậm chặt.
Phía trước, Martial nhận thấy một con đường chạy ngoằn ngoèo giữa bình nguyên. Những cục xỉ nhỏ màu đỏ chất đống trên các sườn dốc, phủ lên lớp nhựa đường, khiến con đường trông như một vũng sắt gỉ mênh mông.
Họ phải đi qua đó. Rồi đi tiếp. Đi thẳng.
– Nóng quá, ba ơi…
Sofa bị nghẹn lại. Cô bé ho. Không chịu đi tiếp. Martial hiểu, con gái anh đã qua cơn thất thường, quả là điên rồ khi yêu cầu một đứa trẻ đi qua vùng sa mạc này.
– Phải đi tiếp, Sofa ạ. Phải thế…
– Cho đến tận đâu?
Trước mặt họ, đất đen như đã bị một trận cháy rừng nghiến ngấu, từng cái cây bị nhổ tung, đốt cháy đen, toàn bộ địa hình bị san phẳng. Giống như Chúa trời nổi giận muốn chắc chắn rằng không sinh vật nào có thể còn sống sót trên bình nguyên này. Thậm chí không thể đi qua để làm ô uế sự tĩnh lặng. Sofa hét lên như thể thách thức trời xanh:
– Con không thở được nữa, ba ơi!
– Ba sẽ cõng con, con yêu. Ba sẽ cõng con trên lưng. Chúng ta phải đi qua. Một khi đến được chỗ có cây, chúng ta sẽ được cứu…
Không có cây! Bên tay trái, trên đầu họ, Martial nhìn thấy thấp thoáng bãi đỗ xe dưới chân núi Lũng xinh. Đến đó, con đường đỏ mất hút vào bờ hõm chảo của ngọn núi lửa: ngay sau đó, trải ra một vùng lòng chảo hơn ba trăm mét, vùng Fouqué bị rào kín, ở trung tâm nơi đó là miệng núi lửa Dolomieu đang cháy. Đến giờ họ đã đi bộ trong bình nguyên được nửa tiếng, Martial đã nhìn thấy ba chiếc trực thăng hạ cánh xuống bãi đỗ. Đằng xa, một chiếc khác ngang dọc trên bầu trời, phía sau đỉnh núi Tuyết.
Mồ hôi Martial chảy ròng ròng bên dưới chiếc mũ in số 974 mà anh đã chụp lên đầu để che bớt khuôn mặt. Phía trên chân núi Lũng xinh, hàng chục ngôi sao nhấp nháy đang phản chiếu những tia nắng mặt trời.
Cửa kính? Ống nhòm? Kính ngắm súng trường?
Martial đưa tay về phía Sofa.
– Phải tiếp tục, Sofa ạ, nếu con muốn gặp lại mẹ. Con có nhớ không? Chúng ta không nên lỡ hẹn.
11 giờ 26
Đại tá Laroche thả rơi chiếc ống nhòm trên ngực. Bằng mắt thường, anh đã nhìn thấy rõ Martial Bellion và con gái. Anh quay sang Andrieux, chỉ huy đội GIPN, người đứng đầu mười sáu thiện xạ đang chờ lệnh trên bãi đỗ xe ở chân núi Lũng xinh. Khách du lịch đã được dồn lại ở nơi xa hơn, phía sau những chiếc trực thăng, gần khu nhà nghỉ màu xám nơi phục vụ đồ ăn nhẹ, nghỉ chân và đi vệ sinh. Những người khác không lên cao nữa, đường đã bị cắt ở Bourg Murat. Chỉ huy Andrieux hướng khẩu SAKO TRG-42 về phía bình nguyên Cát.
– Có vẻ Bellion không có vũ khí. Ở khoảng cách này, tôi có thể hạ anh ta mà không ảnh hưởng đến cô bé. Mọi chuyện sẽ kết thúc trước cả khi anh ta kịp nhận ra.
Laroche phóng tầm mắt về phía hõm chảo trong khu Fouqué có rào chắn, nhìn đăm đăm vào núi lửa nhỏ Formica Leo. Đã ba lần anh đi vòng quanh thế giới theo những đợt tác chiến, thế nhưng hòn đảo này không giống với bất cứ thứ gì anh đã biết. Bụi xám, những hẻm vực, những địa hình vụn vỡ, mọi thứ đều nhắc nhớ đến một quang cảnh phương Tây, hoặc tệ hơn là những truyền thuyết ly kỳ hậu tận thế. Điều khó nhất bây giờ không phải là bắt Martial Bellion, mà là tránh sai lầm.
– Ta phải bình tĩnh, Andrieux. Cô bé không phải là con tin của Bellion, đó là con gái hắn. Nếu ta hạ người cha trước mắt cô bé, ta có nguy cơ gây ra không ít tổn hại trong đầu óc cô bé… Đấy là tôi còn chưa nói đến chỉ một viên đạn lạc. Chúng ta có mấy chục người, chúng ta đang nắm Bellion ở trong tầm ngắm, ở một vùng trống và vắng người rộng năm kilômét vuông. Chúng ta chỉ cần bao vây để bắt sống hai cha con hắn.
11 giờ 29
“Phải đi tiếp nếu con muốn gặp lại mẹ,” ba đã nói thế với tôi.
Phải đi tiếp nếu con muốn gặp lại mẹ! Không đúng. Ba chỉ là một kẻ nói dối!
Tôi không thể đi tiếp được. Tôi nóng quá, không còn sức lực, tôi dừng lại và hét lên:
– Con không tin ba nữa! Ba nói dối! Ba lúc nào cũng nói dối. Mẹ chết rồi, ba đã giết mẹ giống như đã giết bà già tóc xanh lơ. Ba sẽ làm gì bây giờ. Giết cả con vì con không thể đi được nữa đúng không?
Ba đưa tay về phía tôi như thể muốn bế tôi. Tôi sẽ không để ba làm thế.
Tôi ngồi xuống, vẩy tung đôi giày rồi đặt chân trần lên nền cát đen. Cả hai tay nữa.
Nóng bỏng! Tôi có cảm giác da tôi tan chảy đến thấu xương. Mặc kệ. Những hạt cát đen đâm vào da giống như tôi đang ngồi trên hàng ngàn con kiến. Tôi không nhúc nhích. Tôi chờ cho chúng ăn thịt tôi. Sẽ chỉ mất vài giây.
Tôi muốn chết…
Tôi muốn…
Bỗng nhiên, tôi bay lên, không hề biết trước. Tôi thấy mình ở trên vai ba.
Tôi đập chân nhưng ba mặc kệ. Ba cúi xuống, nhặt đôi giày của tôi. Ba bước đi, sải những bước dài, gần như vừa đi vừa nhảy, giống một du hành gia trên mặt trăng.
Ba nói với tôi, hổn hển:
– Con phải tin ba, Sofa. Ba không giết ai cả, ba hứa đấy.
– Thế thì tại sao họ lại đuổi theo ba?
Hai chiếc trực thăng nữa bay qua bầu trời.
Khắp nơi, giống như đá đang thức dậy, những bóng đen động đậy và quây tròn quanh chúng tôi.
Ba thật điên rồ với câu chuyện về cuộc hẹn. Chúng tôi tiêu rồi. Cảnh sát sẽ không bao giờ để chúng tôi đi.
– Ba, ba làm con đau đấy, ba ôm con chặt quá.
– Ta phải đi nhanh hơn, Sofa. Con nhìn xem, họ sát gần rồi…
Tôi không trả lời, chỉ lấy hai chân đá vào bụng ba. Tôi muốn làm ba càng đau càng tốt.
11 giờ 33
Bước chân Martial lún sâu vào lớp tro giống như trong cát ẩm. Người anh ướt đẫm mồ hôi. Sofa nặng quá, con bé quẫy đạp nhiều quá, anh sẽ không thể vác nó được lâu. Để có được một cơ may rất nhỏ, anh phải bằng mọi giá thuyết phục con bé tin anh, và đi bên cạnh anh.
Tranh thủ thời gian.
– Con phải nghe ba, Sofa. Nếu cảnh sát bắt được chúng ta, con sẽ không bao giờ gặp lại mẹ nữa. Không bao giờ.
Hai chân Sofa thúc vào da anh như đánh trống thay cho câu trả lời.
– Nói dối! Nói dối!
Martial quan sát chân trời lúc nhúc những bóng quân phục sẫm màu. Không có cách nào khác. Anh nhẹ nhàng đặt con gái đang không ngừng giằng co xuống, rồi ngồi thụp xuống và nhìn vào mắt con bé. Anh biết mình không có quyền sai lầm.
Thế nhưng anh đang lừa bịp. Chẳng có gì trong tay, không có con bài mạnh nào, thậm chí một cặp bài cũng không.
Đành vậy!
– Nghe ba này, Sofa. Con nghe rõ đây. Mẹ không chết. Nếu ta qua được núi lửa, nếu ta sang được phía bên kia, mẹ đang chờ con, Sofa ạ. Con hiểu không, mẹ đang chờ con. Còn sống!
Sofa sững lại, nghi hoặc.
Lại thêm ba chiếc trực thăng bay qua.
Bình nguyên thu hẹp lại, đá tiến về phía họ, cắt mọi đường thoát. Martial nài nỉ:
– Mẹ còn sống, Sofa ạ, ba hứa với con.
Và trong đầu, anh cầu xin đó là sự thật.
Chương 33
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
11 giờ 34
Hang đá bazan nhô ra trên Ấn Độ Dương. Sóng lừng đập vào vách đá đen, không mệt mỏi, như thể đại dương đang ra sức đòi lại vài mét đất bị núi lửa đánh cắp sau mỗi đợt phun trào. Đôi khi những cơn sóng cao nổi lên và vài giọt bọt táo bạo bắn vào tận bên trong hang núi. Ngay khi đập vào vách đá, chúng đã bốc hơi hết, tạo thành một làn mây hơi nước.
Cuộc chiến vĩnh viễn giữa nước và lửa. Phòng tắm hơi của các công chúa Danaïde. Liane sẽ chết ở đây.
Hai tay cô bị trói quặt ra sau lưng còn hai chân bị cột bằng một sợi cáp sắt. Cô tỉnh dậy như thế, trong cái hang động nhô ra Ấn Độ Dương này. Cùng lắm thì cô cũng chỉ trườn được ra đến cửa hang, quỳ gối xuống và nhìn thấy đại dương trải ra vô tận. Gieo mình xuống nước sẽ là tự sát, sóng biển sẽ đập cô vào vách đá chỉ trong vài giây.
Điều đó sẽ chấm dứt nỗi khổ đau dai dẳng này. Tuy nhiên, cô phải trụ lại. Vì Sofa.
Cô đã không ngừng suy nghĩ từ khi tỉnh dậy. Có vẻ như cô đang ở giữa Sainte Rose và Saint Philippe, hướng chính Đông, tại một trong vô vàn kẽ nứt tạo thành bởi dung nham núi lửa chảy ra đến tận biển sau khi cắt ngang con đường ven biển, chỉ có thể tiếp cận bằng đường biển. Lần phun trào gần nhất là từ tháng Mười hai năm 2010. Không nhà địa chất nào thích vẽ bản đồ với những địa hình tạm thời như thế.
Liane có kêu gào thì cũng không ai nghe thấy cô. Tiếng sóng đập liên tục vào hang che lấp mọi âm thanh khác. Thế nhưng cô vẫn thử, nhiều giờ liền. Cô không còn sức nữa. Cổ họng cô chỉ còn là một ống khói rát bỏng, hơi nước có chứa điôxít lưu huỳnh gặm nhấm thanh quản cô theo từng hơi thở.
Nhiệt độ có thể là bao nhiêu? Năm mươi độ? Hay cao hơn? Mồ hôi nóng bỏng chảy liên tục trên làn da trần của cô. Mặc dù cô cố gắng cựa quậy thật ít. Cố gắng giữ đầu óc minh mẫn. Tự đặt cho mình hàng loạt câu hỏi.
Thật ra chỉ là một câu duy nhất. Sofa đang ở đâu? Martial có ở với con không? Có ở một mình với con không?
Sofa đang bị nguy hiểm. Liane đã tua lại trong đầu chuỗi các sự kiện, mười lần, một trăm lần. Lúc này mọi thứ đã rõ ràng. Mạng sống của cô không quan trọng. Không còn quan trọng. Cái chết của cô chỉ là một cái cớ. Thân thể cô chỉ là một miếng mồi, một mảnh thịt rách thối rữa trong đáy cái lồng được gài bẫy.
Sofa mới là mục tiêu thực sự.
Liane không sợ chết, nhưng cô điên cuồng vì phải chết ở đây, bất lực. Cô phải trụ thêm, chừng nào vẫn còn một cơ hội mong manh.
Sofa đang ở đâu?
Cô đã sống sót trong suốt những giờ qua chỉ để biết câu trả lời. Cô nằm dài trên nền đá nóng bỏng, rồi dùng chân đẩy về phía đại dương những hòn sỏi bở nhất, từng hòn một, từng xăngtimét một, để đào thành một cái khe nhỏ và mở rộng dần thành một cái chậu nhỏ xíu. Rồi cô lại tiếp tục, ngay bên cạnh, để tạo thành khoảng chục cái đĩa lõm sâu trong đá.
Cô đã chờ đợi.
Khi những con sóng mạnh nhất dội lên, làm bắn vào hang những đám bụi nước nhanh chóng chuyển thành hơi nước nóng bỏng, vài giọt nước bị mắc vào những cái lỗ trên đá, tạo thành hốc nước ấm sâu chừng vài milimét. Liane liền áp mặt, miệng, lỗ mũi, mắt vào đó, chớp lấy bề mặt nhỏ bé đó trước khi nó bay hơi. Liane lại bắt đầu lại, một lần, mười lần, để làn da khỏi bị nứt rạn như đất sét nung quá lửa.
Tốn công vô ích. Cô đã nhanh chóng hiểu ra rằng như thế sẽ là không đủ. Dù bị mắc bẫy, nước vẫn trốn quá nhanh qua hàng nghìn thớ nứt. Chẳng khác nào dập lò lửa bằng kim tiêm. Vài hốc nước tạm thời sẽ chỉ giúp cô sống sót được thêm vài giờ.
Liane ngồi dậy để suy nghĩ, để tìm kiếm một ý tưởng khác, trước khi vĩnh viễn phát điên.
Sofa đang ở đâu?
Liane đã xé rách quần áo bằng răng và bằng đôi tay bị trói quặt sau lưng, chiếc váy xòe, chiếc áo cánh bằng vải cotton màu trắng, áo ngực. Cô vặn vẹo người suốt nhiều phút. Chiếc quần lót bằng lụa rách tơi tả do bị cào vào đá. Thế là cô như đang khỏa thân, ngoại trừ những mảnh vải cuối cùng còn dính trên da thịt, chúng tan chảy thành một thứ mắc ma duy nhất, giống như giấy bị vón thành một cục bỏ quên trong đáy túi.
Liane lê người ra tận cửa hang. Trong một lát, cô phơi thân hình trần truồng trong khí biển, rồi đặt mớ quần áo rách vào những hốc đá. Dần dần, vải ngấm nước, và giữ lại chút hơi ẩm dính dấp thêm được một lát trước khi nước trốn vào trong lòng đá bazan. Lập tức, Liane áp mảnh vải ẩm lên mắt, giữa hai bầu vú, lên vùng kín, trước khi mảnh vải lại bị khô và trở nên cứng ngắc.
Cô lại tiếp tục. Cô lặp lại mãi những cử chỉ máy móc đó. Rồi thêm những cử chỉ khác. Để không hóa điên.
Ra sức vặn vẹo người, cô cũng bẻ được một mẩu đá, một thứ măng đá. Rồi cô nhanh chóng từ bỏ ý nghĩ có thể cắt đứt sợi dây trói bằng sắt với mẩu đá đó, nhưng vẫn kiên trì mài nó vào đá, mài mãi, để cho nó nhọn. Liane đã tính toán để mũi nhọn đó, với chiều dài chưa đầy mười xăngtimét, có thể cầm được trong lòng bàn tay mà không ai đoán ra được. Một thứ vũ khí.
Nếu có lúc nào đó được giải thoát, có thể cô sẽ dùng đến nó. Cô buộc mình phải tin tưởng, để không gục ngã.
Sofa đang ở đâu?
Liane nhận ra rằng cô đã lựa chọn sai, rằng tất cả các nỗ lực của cô chỉ đẩy nhanh thêm cơn hấp hối. Vũ khí vớ vẩn này là một ý tưởng nực cười; do mài nhọn mẩu đá đó, hai cổ tay cô lúc này đang chảy rất nhiều máu. Lẽ ra cô cũng không nên cởi bỏ quần áo. Những mảnh vải rách cứ co dần lại thành giẻ sau mỗi lần cô áp chúng vào cơ thể mình, với cái giá phải trả là những lần vặn vẹo điên cuồng. Lúc này, mỗi lần va chạm giữa làn da trần của cô với vách đá là một lần tra tấn.
Bỏng giãy.
Hai chân cô như bị than nóng xâu xé. Mồ hôi chảy dọc chân tay cô tạo thành những vệt lửa. Vùng kín của cô bị phá hủy, tóe máu từ bên trong.
Liệu trước khi cô cởi quần áo mọi thứ có tệ hơn không? Cô không còn nhớ nữa.
Tuy nhiên cô phải trụ vững.
Tìm ra câu trả lời. Cô phải tìm lại Sofa. Còn sống.
Chương 34
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
11 giờ 35
– Kia!
Jipé đưa ngón tay chỉ hai dáng người, một lớn và một nhỏ, đang hiện rõ mồn một trên biển cát. Lát sau, chiếc Eurocopter Colibri vẽ một vòng cung ngắn, rồi lao thẳng về phía núi lửa.
Bàn tay Aja bấu chặt vào tay nắm phía trên cánh cửa. Đã lâu rồi cô không bước lên trực thăng. Bảy năm sáu tháng, rất chính xác, ngày mà cô biết mình mang thai Jade. Mặc dù từ đó đến giờ Jipé đã nhiều lần nài nỉ để kẻ đầu bò đầu bướu này lại bay cùng anh. Cô đã quen anh chàng phi công này từ khi còn học tiểu học tại bình nguyên Sỏi, anh thường ở trên cây me hoặc các mái nhà chung cư nhiều hơn là trên sân chơi của trường. Anh đã thành lập hãng Hisse & Haut vào năm hai mươi tuổi, khi Aja đang học luật ở chính quốc. Trong vòng vài năm, được sự giúp đỡ của mạng lưới bạn bè, Jean Pierre Grandin đã tặng cho các du khách thích trải nghiệm những cảm giác mạnh toàn bộ những kiểu bay có thể có trên đảo: bay lượn, ULM[46], dù tam giác, dù lượn, dù bay… và tất nhiên, phải có… dạo chơi bằng trực thăng.
Chiếc Colibri đột nhiên chúi sang phải. Lao thẳng về phía miệng núi lửa Dolomieu. Aja không còn nhớ cảm giác chóng mặt đến thế. Những cái giếng sôi sục ẩn hiện bên dưới mỗi miệng núi lửa, như thể họ đang bay bên trên hang của một con rồng, Mordor de Sauron, một vùng cấm địa nơi mỗi lúc đều có thể phụt ra một ngọn lửa chết người.
Jipé chỉnh lại kính mát và nói đùa:
– Đừng sợ, Aja. Ngọn núi vẫn đang ngủ. Ngược lại, sáng nay có vẻ ta có rất nhiều thiết bị.
Anh đưa mắt chỉ ba chiếc Ecureuil của GIPN đang bay lượn trên bình nguyên Chà Là phía xa.
– Tớ sẽ không thể vờn họ ở khoảng cách quá gần. Họ sẽ quá đỗi hài lòng được thu giấy phép của tớ.
Aja hiểu. Việc bay trên đảo bằng trực thăng bị chi phối bởi hai công ty chính thức dàn xếp với nhau để áp những mức giá kinh khủng. Hơn một ngàn euro mỗi giờ bay. Giá trọn gói cho một kỷ niệm không thể quên. Jean Pierre và hãng của anh bán phá giá. Hisse & Haut không nhằm bất cứ mục tiêu thương mại nào, Jean Pierre hài lòng được dẫn bạn bè đi thăm quan đảo với chiếc trực thăng của riêng anh, giống như những người khác dùng xe hơi… những người bạn cũng là thành viên và nhà tài trợ cho hãng của anh, trung bình khoảng một trăm euro. Mặc cho sức ép từ các công ty chính thức tố cáo việc cạnh tranh không lành mạnh, tòa án thương mại Saint Denis không tìm ra sai sót nào. Thẩm phán không quá lưu tâm, vì Hisse & Haut là một hãng được người dân vùng Thượng và các đại biểu của họ đánh giá tốt. Trong những cơn bão gần đây, Dina hay Gamède, Jean Pierre là một trong những phi công hiếm hoi dám mạo hiểm mạng sống của mình để đi tiếp tế cho các đảo thuộc vòng cung Mafate, những ngôi làng nổi tiếng được xây dựng cách đường nhựa gần nhất nhiều giờ đi bộ, tách biệt hẳn với thế giới, ít ra là nếu ta bỏ qua vũ điệu luân hồi của những chiếc trực thăng với các khách du lịch dán mắt vào màn hình phóng to của máy ảnh Nikon.
– Tớ sẽ thả cậu xuống bãi đỗ xe ở chân núi Lũng xinh, được không Aja? Tớ có cảm giác các bạn của cậu sẽ không chờ cậu để bắt đầu cuộc chơi.
Chiếc Colibri lượn sang trái.
Aja nghiến răng. Vách kính của chiếc trực thăng mở ra một góc nhìn phi thường ba trăm sáu mươi độ. Bên dưới họ, năm chiếc Ecureuil AS350 và bốn xe hòm cảnh sát đang đậu trên bãi đỗ xe. Khoảng chục người có vũ trang đang chạy lăng xăng, hai chục người khác tiếp tục tản ra trên bình nguyên Cát để bao vây hai kẻ trốn chạy. Ở giữa, Aja nhận ra Martial Bellion, anh ta đang cầm tay Sofa.
“Họ tiêu rồi,” cô thì thầm.
Mặc dù vẫn nhớ ba vụ án mạng mà Bellion gây ra, cô vẫn không thể ngăn mình cảm thấy vụ trốn chạy của gã này và con gái anh ta thật thảm thương: hai con linh dương kiệt sức bị bao vây bởi những con dã thú thông minh khi hạ chúng trên một khoảng đất trống và chặn toàn bộ lối thoát. Những kẻ trốn chạy còn phải đi vài trăm mét nữa mới đến được trảng đất đầu tiên có cây cối, nơi họ có thể náu mình; một hàng rào hai chục cảnh sát, tất cả đều được trang bị súng trường, chặn ngang đường đi của họ. Chỉ cần một mệnh lệnh của Laroche là cuộc chạy trốn tuyệt vọng sẽ kết thúc.
Chỉ còn tính bằng giây thôi, Aja nghĩ. Laroche không ngu đến thế, anh ta muốn bắt sống họ. Cô quay sang phía viên phi công.
– Cuộc chơi kết thúc rồi, Jipé ạ. Rất tiếc vì đã quấy rầy cậu, nhưng tớ muốn cậu chở tớ quay về nhà. Tớ cũng chẳng muốn xuống chỉ để khen ngợi tay đại tá ngu ngốc đó lắm.
– Tùy cậu thôi, người đẹp…
Chiếc trực thăng lấy lại độ cao. Aja vừa bám chặt vừa rủa:
– Dù sao cũng lạ là Bellion để mình bị bao vây ở đây, trên sườn núi lửa, ngay giữa bình nguyên Cát. Hắn có biết bao chỗ để trốn, những cánh rừng khuất tầm nhìn, thế mà lại chọn không gian lộ liễu nhất trên đảo.
Jipé mỉm cười.
– Kẻ chạy trốn của cậu là một du khách hay hắn biết rõ Réunion?
– Cả hai… Nhưng đúng thế, theo lý lịch của hắn, hắn biết khá rõ nơi này.
– Cậu làm tớ ngạc nhiên đấy!
Viên phi công bỏ kính mát và nheo đôi mắt to sáng màu. Đột nhiên anh ta có vẻ rất vui thích và quan sát bóng dáng Bellion và Sofa với vẻ ngưỡng mộ.
– Sao lại thế, Jipé, “cậu làm tớ ngạc nhiên” là sao?
– Nếu cậu muốn nghe ý kiến của tớ, thì kẻ thù số 1 quốc gia của các cậu đã giăng ra một cái bẫy nhỏ xinh xắn và toàn bộ cảnh sát trên đảo đang rơi vào đó.
Aja nhìn kỹ các sườn núi lửa. Hàng chục cảnh sát đang vào vị trí. Một mình Bellion ở giữa. Cô không hiểu.
Jipé nâng tiếp độ cao.
– Không phải bên trên chúng ta, người đẹp ạ. Ngay phía sau.
Aja ngoái đầu lại. Cô nhìn thấy hẻm núi sông Remparts. Ánh mắt cô nhìn xuống tận cửa sông, đầu mũi của hẻm núi, những lô nhà ở Saint Joseph gặm nhấm từng khoảng không gian giữa đại dương và các khe nước.
Cô bỗng hiểu ra.
Cô sững người, không thể nhìn gì khác ngoài đáy khe nước sâu nhất trên đảo, một cái khe sâu gần hai nghìn mét.
Chúa ơi… Martial Bellion đã tính toán tất cả. Vị trí chính xác. Giờ chạy trốn chính xác. Anh ta đã khiến toàn bộ trực thăng bị đặt vào một nơi mà anh ta đã chọn. Anh ta đã khiến toàn bộ cảnh sát trên đảo đuổi theo mình đến một điểm, một điểm duy nhất. Gã Laroche ngu ngốc đó đã cắm đầu lao theo, cả gã và đội quân Zoreille của gã. Martial đã chơi được ăn cả ngã về không, nhưng chỉ có mình anh ta biết luật chơi.
Aja hét vào buồng lái:
– Chúng ta phải đỗ xuống, Jipé! Chúng ta phải đỗ xuống ngay lập tức và báo cho họ.
– Tuân lệnh, người đẹp…
Chiếc trực thăng lao thẳng về phía núi lửa. Aja tính toán trong đầu. Cô còn bao nhiêu thời gian nữa?
Tối đa là vài phút.
Sau đó, chiếc bẫy mà Bellion giăng ra sẽ sập xuống đầu người của Laroche trước khi họ kịp nhận ra điều đó.
Chương 35
Thứ Hai
Ngày 1 tháng Tư năm 2013
11h giờ 36
Đã mười phút rồi Imelda không nhúc nhích. Cô tiếp tục đứng dưới bóng cây phượng, nghĩ ngợi, quan sát chiếc 4×4 màu đen.
Trên vỉa hè đối diện, người bán su su nhìn cô vẻ nghi ngờ. Imelda vờ như đang tìm điện thoại trong túi, rồi xem một ứng dụng nào đó. Không ai có thể đoán được rằng chiếc điện thoại cũ của cô không thể làm gì khác ngoài kết nối hai người muốn nói chuyện với nhau.
Imelda suy nghĩ. Chiếc Chevrolet Captiva đằng trước cô đã đậu ở bãi đỗ xe của khách sạn Alamanda vào chiều ngày thứ Sáu, vào thời điểm Liane Bellion mất tích. Theo kinh nghiệm, người phụ nữ Cafre không tin vào sự ngẫu nhiên. Mọi thứ luôn có lý do xác đáng để ở vào vị trí của chúng. Mọi thứ cũng như mọi người.
Cái vỏ ấm của chiếc điện thoại khiến tay cô nóng lên. Imelda lưỡng lự. Theo đúng lô gích, cô sẽ phải gọi cho Christos, giải thích với ông, cho ông biển số đăng ký xe. Vụ việc sẽ được giải quyết và cô có thể cho nó ra khỏi đầu.
Christos có thể sẽ trêu chọc cô, nhưng nếu cô nài nỉ, ông cũng sẽ tiến hành tìm kiếm. Christos không phải là người xấu. Thậm chí đó còn là người đàn ông tốt nhất cô từng quen. Chắc chắn ông là người lười biếng nhất, thiếu thủy chung nhất, cũng già nhất nữa, người đạt cực khoái trong cô nhanh nhất và ngủ thiếp nhanh nhất sau đó, người uống rượu nhiều nhất, người nghiện cần sa nặng nhất, người trắng nhất… Tuy nhiên, không có điều gì là ngẫu nhiên. Cô đã quan sát Christos khi ông không tỏ vẻ gia trưởng, không đóng vai cảnh sát vỡ mộng hoặc người tình vô liêm sỉ; khi trong khoảng một giây, ông máy móc thu dọn búp bê của Joly, lén kiểm tra tình trạng chiếc xe scooter của Nazir, hoặc cả khi cô đọc sách và cảm thấy ánh mắt ông nhìn qua vai.
Không phải là ánh nhìn của một người đàn ông mà mặt trời và rượu làm cho lu mờ. Mà là ánh nhìn dịu dàng không chịu thừa nhận.
Đúng, khi nhìn kỹ, Christos là một người xứng đáng được yêu.
Chiếc Chevrolet Captiva nhấp nháy mắt.
Hai chiếc đèn pha bật sáng ba lần. Imelda lùi thêm ra sau gốc cây, mắt vẫn nhìn chăm chăm vào bãi đỗ xe. Một người đàn ông chĩa chìa khóa điện về phía chiếc xe, một gã người Malbar, một thứ thùng tônô nhồi nhét trong chiếc áo dài và đội mũ kaki có trang trí đầu hổ màu đỏ. Cân nặng của ông ta ít nhất cũng phải bằng cô, nhưng thấp hơn cả hai chục xăngtimét. Ông ta kẹp ở tay trái một chiếc túi màu hạt dẻ rõ ràng là đầy ứ những đồ thực phẩm mua ở Case à Pain.
Lát sau, gã người Malbar biến vào trong xe. Imelda phải nhanh chóng đưa ra quyết định.
Gọi điện cho Christos… và bị coi là một con ngốc. Bỏ qua… và sẽ không ngừng nghĩ về nó.
Lao về phía chiếc Polo cũ của cô đậu cách đó mười mét và đi theo chiếc 4×4 này. Chỉ là chuyện gỡ mối dây một chút…
Không có gì là ngẫu nhiên.
11 giờ 37
In.
Christos cúi xuống máy tính và nhấp vào biểu tượng.
Chiếc máy in cũ kỹ khó nhọc nhả ra những chữ màu đỏ trên một tờ A4. Christos đã phải đổi màu của tập tin PDF mà Graziella Doré vừa gửi cho ông qua email, không còn mực đen trong ống mực mà ông thì chẳng bao giờ biết thay. Nữ giám đốc của Blue Bay đã mất chưa đến nửa giờ để quyết định và gửi cho ông danh sách người làm ở Cap Champagne. Mười năm trước.
Bảy cái tên. Tập tin được ghi ngày tháng. Đóng dấu. Ký tên.
Christos biết rằng ông sẽ phải dành thời gian để xác minh danh sách này, đối chiếu nó với tài liệu của URSSAF[47], liên hệ với từng nhân chứng, khớp nối lời khai của họ.
Để sau…
Chiếc la bàn của ông, đó chính là linh cảm của Imelda. Ông phải tìm mối liên hệ giữa quá khứ và thực tại, giữa nhân viên của Cap Champagne và nhân viên của Alamanda.
Christos giật tờ giấy ra khỏi máy in và rủa thầm. Màu đỏ đã chuyển sang hồng nhạt. Ống mực màu cũng gần như không còn.
Trong văn phòng đội cảnh sát, hai chiếc loa nối với một máy tính liên tục phát đi trên sóng VHF những cuộc trao đổi giữa các đội của ComGend. Christos có thể theo dõi gần như trực tiếp vụ truy đuổi Bellion, việc hắn sắp bị bắt, những mệnh lệnh đang biên đạo vũ điệu của mấy chiếc trực thăng… Tất cả, Aja cũng như Laroche, còn có chuyện khác để làm thay vì quan tâm đến một tai nạn cách đây mười năm và những nhân chứng người Créole mà thậm chí ta còn không biết họ có điều gì để kể không.
Christos đưa tờ giấy ngang tầm mắt. Mặc dù bị mờ một nửa, ông vẫn đọc được bảy cái tên.
Mohamed Dindane René
Paule Grégoire
Patricia Toquet
Aloé Nativel
Joel Joyeux
Marie Josep Insoudou
François Calixte
Hoặc có thể là Françoise Calixte…
Viên thiếu úy đọc lại danh sách lần thứ hai, dừng một chút ở cái tên thứ tư, nhăn trán thành mấy cái rãnh ra chiều suy tư, rồi gấp tờ giấy và nhét vào túi quần.
Ông đã quyết định.
Vì chẳng có việc gì khác hay hơn để làm, ông sẽ đến thăm Armand Zuttor và nhân viên của ông ta. Kể cả là thứ Hai của lễ Phục sinh, chắc hẳn vẫn phải có vài người chăm sóc cho những du khách cuối cùng. Chỗ đó cách văn phòng đội cảnh sát chưa đầy một kilômét, và rượu rum ở đó thì tuyệt vời.
11 giờ 39
Chiếc 4×4 màu đen dừng lại ở lối sang đường, chỗ lối ra của Ermitage. Imelda đã để ba chiếc xe chen vào giữa chiếc Polo của cô và chiếc Chevrolet. Cô đã đi theo nó, nỗi tò mò mạnh hơn hết thảy! Vả lại, cô nhận thấy rằng tiến hành việc theo dõi trên đảo chẳng có gì phức tạp: chỉ có một con đường duy nhất chạy ven biển và các phương tiện nối đuôi nhau suốt nhiều kilômét mà không vượt lên được. Vả lại, thật may! Chiếc Polo cũ màu đỏ của cô đặc biệt dễ nhận biết với cánh cửa sau bên trái màu cam thu được ở hộp đêm tại Source. Christos chưa bao giờ dành thời gian để sơn lại nó.
Chiếc 4×4 đi qua Avirons. Dưới con đường nhô ra bên trên khe núi, vài con dê chia nhau những cụm cỏ hiếm hoi bọc trong giấy dầu. Imelda rủa thầm. Gã Malbar cứ đi thế này đến tận nơi hóng gió biển chăng?
Vừa nắm tay lái bằng một tay, cô vừa bấm số điện thoại ở nhà.
– Nazir à? Mẹ đây.
– Mẹ làm gì thế? Chúng con đang chờ mẹ!
– Có thể mẹ sẽ về muộn một chút.
– Mẹ vẫn về nhà ăn chứ?
– Có thể không. Con có thể trông Dorian, Amic và các em không?
– Ôi, không.
Imelda nén một câu chửi thề trong chiếc xe Polo. Chiếc Chevrolet chạy chầm chậm vào khu Hố Mặn. Cô tưởng tượng ra Nazir, miệng ngậm điếu cần sa, không thể cố gắng chút nào. Cô cao giọng:
– Này, con sẽ làm được, con trai. Có cà ri gà trong tủ lạnh. Không đủ nhưng con sẽ cho thêm rau. Con ra vườn xem có gì không.
Chiếc 4×4 đi vào Saint Pierre rồi rẽ về phía lô nhà Tuyến Thiên đường.
Nazir ho trong điện thoại.
– Chết tiệt, điên mất thôi…
– Một lần này thôi, con sẽ tự xoay xở. Bảo Joly giúp con một tay.
Im lặng.
Một lần này thôi, Imelda nhắc lại trong đầu. Chúng hoàn toàn có thể không cần cô. Cô thấy mình như đứa bé gái đang trèo tường để đến hộp đêm, một nàng nhân tình tim đang đập thình thịch. Cô phải bình tĩnh lại.
– Con sẽ làm được chứ, con trai?
– Mẹ có vẻ phấn khích thế mẹ. Mẹ đã tìm được một gã tốt, đúng không? Một người đàn ông thật sự? Một người Cafre?
Càng đi về phía lô nhà Tuyến Thiên đường, xe cộ càng thưa dần. Imelda phải cảnh giác nếu không muốn bị phát hiện. Cô đi chậm lại.
– Mẹ phải gác máy đây, Nazir. Con đâu có ngốc, con sẽ làm được.
Cô tắt điện thoại rồi kẹp vào giữa hai đầu gối.
Chiếc Chevrolet rẽ trái, rồi rẽ phải. Vài giây sau gã, Imelda rẽ vào một mớ bòng bong những con phố nhỏ bẩn thỉu. Cuối cùng, chiếc 4×4 đi vào đường Sapan. Một ngõ cụt! Cô dừng chiếc Polo bên vỉa hè. Một con chó gầy gò đến hít bánh xe. Một chiếc rèm mở ra ở phía đối diện và một bà già mặc đồ ngủ chăm chú nhìn cô. Mấy đứa trẻ đập một quả bóng giữa hai thùng rác.
Khu nhà nghèo. Bản sao y hệt khu nhà của cô, ở Saint Louis. Cô không bỡ ngỡ. Cô bước ra khỏi chiếc Polo và đi bộ đến tận đầu ngõ cụt.
Chiếc Chevrolet đậu trước một căn nhà nhỏ mái tôn. Chiếc 4×4 sang trọng đối lập hẳn với vẻ nghèo khổ của căn nhà, nhưng Imelda biết rằng một số người Créole thích sống ngoài trời hơn là tự tước bỏ một chiếc xe hơi mới cứng.
Gã người Malbar xuống xe. Biến mất trong căn nhà. Imelda đợi. Một phút. Điện thoại đổ chuông.
– Mẹ, con Nazir đây.
Người phụ nữ Cafre ngước mắt lên trời.
– Mẹ đang bận!
– Mẹ, chúng con có thể dùng gạo thay cho mấy thứ rau chết tiệt trong vườn không? Dorian, Amic và Joly đều đồng ý.
Để xem nào.
– Mẹ đang bận, con trai.
– Con hiểu, mẹ ạ. Thế nghĩa là được ạ?
Imelda thở dài.
– OK. Nhưng từ lúc này, Nazir, con nghe kỹ điều mẹ sắp nói đây. Con không gọi điện thoại cho mẹ nữa. Trường hợp khẩn cấp, con chỉ gửi tin nhắn thôi. Hiểu chưa?
– Hiểu rồi! Con mừng cho mẹ, mẹ ạ. Tận hưởng đi…
– Đồ ngốc!
Nó gác máy.
Một phút nữa. Imelda lại một lần nữa lưỡng lự có nên gọi cho Christos hay không. Trong những cuốn tiểu thuyết trinh thám, cô luôn nguyền rủa mấy người hùng, những người chỉ vì vài lý do hoàn toàn kỳ cục mà luôn từ chối yêu cầu cảnh sát giúp đỡ và cuối cùng chuốc lấy những rắc rối tồi tệ nhất nếu không bị tàn sát.
Và đến lượt cô cũng trở nên ngu ngốc không kém…
Gã người Malbar lại ra khỏi nhà. Hắn đeo một cái túi to gần bằng vòng eo hắn chéo qua vai. Nhồi tất cả vào trong cốp chiếc xe Chevrolet. Một lát sau, chiếc 4×4 rung lên và bộ ống xả kép khạc ra một luồng khí cácbôníc.
Imelda ngần ngại không biết nên trèo lên chiếc Polo để đi theo hắn, hay ở lại điều tra ngôi nhà kỹ hơn. Sự tò mò về ngôi nhà mạnh hơn. Với lại, chiếc 4×4 đã biến mất ở đầu phố.
Imelda chờ thêm nhiều phút nữa. Có thể đây là một cái bẫy. Gã người Malbar có thể đã nhận thấy chiếc xe của cô, nằm tách biệt hẳn so với toàn bộ phần còn lại của khu nhà, bà già đang dán mũi vào ô cửa sổ, con chó đang âu yếm ba chiếc bánh xe còn lại hoặc lũ trẻ đã ném trượt vào thùng xe ít nhất là ba lần. Nhưng chúng đang chơi tốt hơn.
Imelda ra khỏi xe.
Cô đã quyết định chỉ lục soát trong vườn, đưa mắt nhìn qua cửa sổ, có thể sẽ nhìn thấy thứ gì đó. Cô sẽ gọi điện thoại cho Christos nếu có bất cứ chi tiết nào đáng lo ngại.
Hàng rào kêu cọt kẹt khi cô đẩy vào. Imelda lấy cánh tay rẽ một cây bạch đàn khô héo. Cô đi tiếp, những ô cửa sổ bẩn đến nỗi gần như không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì ở bên trong.
Vả lại cũng chẳng cần phải làm thế.
Cánh cửa nhà không khóa. Nó chỉ được khép lại. Ổ khóa hoen gỉ dường như cũng không được dùng đến từ nhiều năm nay.
Imelda ý thức rõ rằng bước vào sẽ là điều ngu ngốc nhất. Cô đã đọc điều đó hàng nghìn lần, những kẻ quá tò mò luôn bị bắt như thế, do tự tin thái quá.
Cô quan sát đường phố. Chuyện gì có thể xảy ra với cô trong khu này? Giữa ban ngày ban mặt. Cô đã lớn lên trong một khu phố giống như thế, và vẫn luôn sống ở đó, cô biết rõ các luật lệ, các thói tục, những bà già do thám, những đứa trẻ ríu rít trên phố, những người đàn ông vô hình trước khi mặt trời lặn.
Imelda nắm chặt chiếc điện thoại di động trong tay và kiểm tra lại cho chắc là nó có sóng.
Rồi cô đẩy cánh cửa nhà.