The Vietnamese Newspaper in Canada

Trước ngày em đến 

Trước ngày em đến 

Jojo Moyes 

Dịch giả: Lê Trung

“Em nghĩ chúng ta có thể làm mọi thứ. Em biết đây không phải một chuyện tình dễ dàng. Em biết có đủ thứ lý do mà em thậm chí không nên nói ra suy nghĩ của mình. Nhưng em yêu anh. Chân thành. Em biết điều đó khi em rời bỏ Patrick. Và em nghĩ có lẽ anh cũng yêu em một chút”.

Anh không nói gì. Anh nhìn sâu vào mắt tôi, có nỗi buồn thật nặng nề trong đôi mắt ấy. Tôi vuốt tóc anh khỏi thái dương, như thể bằng cách nào đó tôi có thể lấy đi nỗi buồn của anh, và anh nghiêng đầu ngả vào lòng bàn tay tôi, để nó nghỉ trên đó.

Anh nuốt vào. “Anh phải nói với em một điều”.

“Em biết”, tôi thì thầm. “Em biết hết”.

Will im lặng giữa chừng. Không khí quanh chúng tôi chừng như đông đặc lại.

“Em biết về Thụy Sỹ. Em biết… vì sao em được thuê với hợp đồng sáu tháng”.

Anh nghiêng đầu khỏi bàn tay tôi. Anh nhìn tôi, rồi ngước lên trời. Vai anh so lại.

“Em biết cả, Will. Em biết mấy tháng rồi. Và Will, hãy nghe em…” Tôi nắm bàn tay phải của anh trong tay tôi, áp lên má mình. “Em biết chúng ta có thể làm chuyện này. Em biết đây không phải cuộc đời anh đã chọn, nhưng em biết em có thể khiến anh hạnh phúc. Và tất cả những gì em có thể nói là anh biến em… anh biến em thành một người em thậm chí chưa từng tưởng tượng ra. Anh khiến em hạnh phúc, dù anh rất nhiêu khê. Em muốn ở bên anh – dù đó là con người mà dường như anh nghĩ là rất vô dụng – hơn bất kỳ ai trên thế giới”.

Tôi cảm thấy các ngón tay anh hơi siết lại quanh tay mình, điều đó cho tôi dũng khí.

“Nếu anh nghĩ chuyện em làm việc cho anh quá kỳ cục, thì em sẽ đi làm việc ở chỗ khác. Em muốn nói với anh – Em vừa nộp đơn theo học một đại học. Em đã nghiên cứu rất kỹ trên internet, nói chuyện với rất nhiều người liệt tứ chi và người chăm sóc cho họ, và em đã học được rất nhiều, rất nhiều về việc làm thế nào để chuyện này êm đẹp. Em làm được, và sẽ chỉ ở bên anh. Giờ em là con người như thế đấy. Đó là lỗi của anh. Anh đã thay đổi em”. Tôi thoáng cười.

“Anh đã biến em thành em gái em. Chỉ có điều có thẩm mỹ thời trang tốt hơn”.

Anh đã nhắm mắt lại. Tôi ấp đôi tay quanh tay anh, nâng những khớp ngón tay anh lên môi và hôn chúng. Tôi cảm thấy da anh áp vào da mình, và tôi biết rất rõ rằng tôi sẽ không bao giờ để anh đi.

“Anh nghĩ sao?” tôi thì thầm.

Tôi nhìn vào mắt anh chừng như cả thế kỷ.

Anh đáp rất nhỏ, tới nỗi trong một hồi lâu tôi không dám chắc mình có nghe chính xác.

“Gì cơ?”

“Không, Clark”.

“Không?”

“Anh xin lỗi. Thế không đủ”.

Tôi thả tay anh xuống. “Em không hiểu”.

Anh chờ rất lâu mới cất tiếng, như thể anh đang đánh vật một cách khó nhọc để tìm từ ngữ chính xác. “Thế là không đủ với anh. Thứ này – thế giới của anh – kể cả khi có em trong đó. Hãy tin anh, Clark, cả cuộc đời anh đã tốt lên từ khi em đến. Nhưng vẫn không đủ với anh. Đây không phải cuộc đời anh muốn”.

Giờ đến lượt tôi co người lại.

“Vấn đề là, anh hiểu đây có thể là một cuộc sống tốt. Anh hiểu rằng với em ở bên, có thể đây thậm chí còn là một cuộc đời rất đẹp. Nhưng nó không phải cuộc đời của anh. Anh không giống những người em nói tới. Cuộc đời này chẳng hề giống cuộc đời anh muốn có. Dù chỉ một chút”. Giọng anh đứt quãng, vỡ òa. Gương mặt anh khiến tôi thấy sợ.

Tôi nuốt khan, lắc đầu. “Anh… anh có lần đã nói với em rằng đừng để cái đêm trong mê cung ấy định hình con người em. Anh đã nói em có thể lựa chọn cái gì làm nên con người mình. Ôi, anh không được để cái… cái xe lăn ấy định hình anh”.

“Nhưng nó định hình anh, Clark ạ. Em không biết về anh, không biết rõ. Em chưa bao giờ thấy anh trước khi bị như thế này. Anh yêu cuộc đời anh, Clark.

Yêu vô cùng. Anh yêu công việc, du lịch, yêu con người anh trước đây. Anh yêu cảm giác được làm người khỏe mạnh. Anh muốn thắng thế người ta trong hợp đồng làm ăn. Anh thích làm tình. Làm tình thật nhiều. Anh đã sống một cuộc đời rộng lớn”. Giờ đây giọng anh trở nên gay gắt. “Anh không sinh ra để tồn tại trong thứ này – và bất chấp mọi ý định và mục đích, giờ đây cái xe này định hình con người anh. Nó là thứ duy nhất định hình anh”.

“Nhưng anh thậm chí không cho nó một cơ hội”, tôi thì thầm. Giọng tôi chừng như không cất lên nổi khỏi lồng ngực. “Anh không cho em cơ hội”.

“Đây không phải vấn đề cho em cơ hội. Anh đã quan sát em sáu tháng qua để thấy em trở thành một con người hoàn toàn khác, một con người chỉ vừa mới bắt đầu nhận ra nhiệm vụ của mình. Em không biết điều đó khiến anh vui sướng bao nhiêu đâu. Anh không muốn em bị trói buộc vào anh, vào những cuộc thăm khám ở bệnh viện, vào những hạn chế của cuộc đời anh. Anh không muốn em bỏ lỡ biết bao nhiêu thứ mà một ai đó khác có thể mang lại cho em. Và thật ích kỷ, anh không muốn một ngày nào đó em nhìn anh và cảm thấy dù chỉ một chút xíu hối hận hay tiếc nuối vì…”

“Em sẽ không bao giờ nghĩ thế”.

“Em không biết được đâu, Clark. Em làm sao biết được chuyện này sẽ dẫn tới đâu. Em không biết dù chỉ sáu tháng nữa thôi em sẽ cảm thấy thế nào. Và anh không muốn nhìn thấy em mỗi ngày, nhìn em trần truồng, nhìn em lang thang trong khu nhà phụ với những bộ đồ kỳ cục mà không… không thể làm điều anh muốn làm với em. Ôi, Clark, giá em biết ngay lúc này anh muốn làm gì với em. Anh… anh không thể sống được với suy nghĩ đó. Anh không thể. Đó không phải là anh. Anh không phải kiểu người cứ thế… chấp nhận…”

Anh liếc nhìn xuống xe lăn, giọng anh vỡ vụn. “Anh sẽ không bao giờ chấp nhận thứ này”.

Tôi đã khóc. “Làm ơn đi Will. Làm ơn đừng nói thế. Cho em một cơ hội.

Cho chúng ta một cơ hội thôi”.

“Suỵt. Nghe nào. Em, hơn bất kỳ ai khác. Hãy nghe điều anh đang nói. Thứ này… đêm nay… là thứ tuyệt diệu nhất em có thể làm cho anh. Điều em vừa nói với anh, điều em đã làm là đưa anh tới đây… biết được điều đó – từ con người anh ban đầu vốn rất tệ bạc, em đã khai quật được chút gì đó để yêu – chẳng hiểu sao khiến anh rất ngạc nhiên. Nhưng…” Tôi cảm thấy tay anh khép lại quanh tay mình “… anh cần kết thúc ở đây. Không xe lăn nữa. Không còn viêm phổi.

Không còn lửa thiêu đốt chân tay. Không còn đau đớn và mệt mỏi, không còn mỗi sáng thức giấc với khao khát mọi chuyện đã chấm dứt. Khi chúng ta trở về, anh vẫn sẽ đi Thụy Sỹ. Nếu em thực lòng yêu anh như lời em nói, Clark, một điều em có thể khiến anh hạnh phúc hơn mọi điều là đi cùng anh”.

Tôi ngửa đầu ra.

“Gì?”

“Anh sẽ không bao giờ khá lên cả. Vấn đề là anh sẽ chỉ ngày càng ốm yếu và cuộc đời anh, vốn đang đà lao dốc, sẽ ngày một hạn hẹp hơn. Các bác sĩ đã nói đại ý như thế. Sẽ có hàng đống chuyện tệ hại xảy ra với anh. Anh cảm nhận được điều đó. Anh không muốn đau đớn thêm chút nào nữa, hay mắc kẹt trong thứ này, hay dựa dẫm vào mọi người, hay sợ hãi. Thế nên anh đề nghị em – nếu em thực lòng cảm thấy điều em nói rằng em đã cảm thấy – thì hãy làm điều ấy.

Ở bên anh. Cho anh cái kết mà anh mong chờ”.

Tôi nhìn anh sợ hãi, mạch máu đập thình thịch. Tôi không tiếp nhận nổi chuyện này.

“Sao anh có thể đề nghị em điều đó”.

“Anh biết, nó…”

“Em nói với anh rằng em yêu anh và muốn xây dựng tương lai cùng anh, thế mà anh lại đề nghị em tới xem anh tự vẫn?”

“Anh xin lỗi. Anh không muốn tỏ ra vô tình. Nhưng anh không có thời gian để hoang phí”.

“Sao… cơ? Ôi, anh đã đặt chỗ rồi à? Có cuộc hẹn nào anh sợ bị lỡ sao?”

Tôi biết người trong khách sạn đang dừng lại, có lẽ vì nghe thấy chúng tôi cao giọng, nhưng tôi không quan tâm.

“Phải”, Will nói, sau một thoáng ngập ngừng. “Phải, đúng thế. Anh đã nhận được giấy hội chẩn. Bệnh viện đó cho rằng anh là trường hợp phù hợp với họ.

Bố mẹ anh đã đồng ý chọn ngày mười ba tháng Tám. Bọn anh đặt vé bay tới đó trước một ngày”.

Tim tôi chao đảo. Chỉ còn chưa đầy một tuần nữa.

“Em không tin nổi…”

“Louisa…”

“Em cứ nghĩ… Em cứ nghĩ em đã thay đổi được quyết định của anh”.

Anh nghiêng đầu nhìn tôi. Giọng anh êm ái, mắt anh dịu dàng. “Louisa, chẳng có gì từng thay đổi ý định của anh. Anh hứa cho bố mẹ anh sáu tháng, và anh cho họ đúng chừng ấy. Em đã biến thời gian ấy thành khoảng thời gian quý giá hơn em tưởng. Em đã biến nó thành bài kiểm tra sức chịu đựng…”

“Đừng!”

“Sao?”

“Đừng nói gì nữa”. Tôi nghẹn ngào. “Anh quá ích kỷ, Will. Quá ngu ngốc. Làm như có khả năng dù nhỏ nhất rằng em sẽ đi cùng anh tới Thụy Sỹ vậy… làm như anh nghĩ em là người làm được điều đó, sau tất cả những gì em làm cho anh, đó là tất cả những gì anh có thể nói với em sao? Em đã móc trái tim ra trước mặt anh. Thế mà tất cả những gì anh có thể nói là, ‘Không, em không đủ với anh. Và giờ anh muốn em đi xem điều khủng khiếp nhất mà em có thể tưởng tượng.’ Cái điều em khiếp đảm kể từ ngày em phát hiện ra. Anh có biết anh đang yêu cầu em điều gì không vậy?”

Giờ tôi đang giận điên người. Đứng trước mặt anh, la hét như người điên.

“Khốn kiếp, Will Traynor. Khốn kiếp. Em ước em chưa bao giờ nhận công việc kinh khủng này. Em ước em chưa bao giờ gặp anh”. Tôi òa khóc nức nở, chạy trên bãi biển về phòng khách sạn, rời khỏi anh.

Giọng anh gọi tên tôi ngân trong tai tôi rất lâu sau khi tôi khép cửa.

Chương 23

Chẳng có điều gì khiến người qua lại phiền lòng bằng việc nhìn một người đàn ông ngồi xe lăn cầu xin một cô gái lẽ ra phải là người chăm sóc anh ta. Rõ ràng tức giận với ông chủ tàn phế không phải là một điều hay ho.

Đặc biệt khi hẳn nhiên anh ta không thể di chuyển, và cứ gọi rất dịu dàng, “Clark. Làm ơn. Lại đây nào. Xin em đấy”.

Nhưng tôi không thể. Tôi không thể nhìn anh. Nathan đã xếp đồ cho Will, và tôi gặp cả hai người họ vào sáng hôm sau – Nathan vẫn còn chếnh choáng sau cơn say – và từ khi chúng tôi lại phải đi cạnh nhau, tôi từ chối làm bất cứ việc gì cùng anh. Tôi tức giận và tuyệt vọng. Có một giọng nói cuồng nộ liên tục vang lên trong đầu tôi, ra lệnh cho tôi phải xa cách Will hết mức. Trở về nhà. Không bao giờ gặp lại anh.

“Cô ổn chứ?” Nathan hỏi, xuất hiện sau lưng tôi.

Ngay khi tới sân bay, tôi đã rời khỏi hai người để đi tới quầy soát vé.

“Không”, tôi nói. “Và tôi không muốn nói về chuyện đó”.

“Mệt vì say à?”

“Không”.

Có một khoảng im lặng ngắn.

“Là điều tôi nghĩ sao?” Nét mặt ông đột nhiên sa sầm.

Tôi không nói được. Tôi gật đầu, và tôi thấy quai hàm Nathan siết lại trong một thoáng. Nhưng ông mạnh mẽ hơn tôi. Nói cho cùng, ông là người chuyên nghiệp. Mấy phút sau ông quay lại chỗ Will, chỉ cho anh thứ gì đó ông vừa thấy trong một cuốn tạp chí, đặt câu hỏi về tương lai của một đội bóng nào đó mà cả hai cùng biết. Quan sát họ, người ta sẽ không thấy biểu hiện của thông tin mà tôi vừa thông báo.

Tôi cố làm mình bận rộn trong cả lúc chờ đợi ở sân bay. Tôi tìm ra một nghìn công việc lặt vặt để làm – luôn tay luôn chân với nhãn dán hành lý, mua cà-phê, chăm chú đọc báo, đi vệ sinh – tất cả việc gì có thể khiến tôi không phải nhìn anh. Tôi không phải nói chuyện với anh. Nhưng thỉnh thoảng Nathan lại biến mất và chúng tôi chỉ còn lại một mình, ngồi bên cạnh nhau, khoảng cách ngắn giữa chúng tôi vang lên chát chúa những mâu thuẫn không nói thành lời.

Mỗi lần như vậy anh lại cất tiếng, “Clark”.

Còn tôi sẽ cắt lời anh, “Đừng. Em không muốn nói chuyện với anh”.

Tôi cũng phải ngạc nhiên với chính mình về khả năng tỏ ra lạnh nhạt. Tôi đã làm các cô tiếp viên ngạc nhiên. Tôi thấy họ trên máy bay, thì thầm với nhau về cái cách tôi quay phắt người khỏi Will, nhét tai nghe hoặc quay hẳn mặt ra ngoài cửa sổ.

Vấn đề là, anh không giận. Đó có lẽ là phần tồi tệ nhất của chuyện này. Anh không giận, và anh không tỏ ra thô lỗ, anh chỉ trở nên lặng lẽ hơn rồi chẳng nói gì nữa. Chỉ còn lại Nathan cố gắng gợi chuyện suốt dọc đường, ông cứ hỏi xem có ai dùng trà hay cà-phê hay những túi đậu phộng rang miễn phí không, hoặc hỏi xem hai chúng tôi thấy phiền không nếu ông trèo qua chúng tôi để đi vệ sinh.

Nói thế này có lẽ hơi trẻ con, nhưng đây không chỉ là vấn đề lòng tự trọng.

Tôi không chịu đựng nổi. Tôi không chịu được ý nghĩ rằng tôi sẽ buông tay anh, rằng anh quá cứng đầu, quá kiên quyết không thèm biết cái gì là tốt, cái gì sẽ tốt, rằng anh sẽ không thay đổi ý định. Tôi không tin được rằng anh vẫn bám lấy cái ngày đó, như thể nó là một thứ bất di bất dịch. Một triệu câu hỏi thầm nhao nhác trong đầu tôi. Tại sao thế này không đủ với anh? Tại sao em không đủ với anh. Tại sao anh không tin cậy em? Nếu chúng ta có thêm thời gian, chuyện này có khác đi không? Thỉnh thoảng tôi đưa mắt lén nhìn đôi tay rám nắng của anh, những ngón tay vững chãi ấy, chỉ cách tay tôi dăm phân, và tôi lại nhớ cảm giác khi chúng tôi siết tay nhau – hơi ấm của anh, ảo giác về một sức mạnh ngầm ẩn, dù trong sự tĩnh tại – rồi cục nghẹn dâng lên cổ tôi cho tới khi tôi nghĩ mình không thở nổi nữa và tôi phải chui vào nhà vệ sinh, gục xuống lặng lẽ khóc bên bồn rửa dưới ánh đèn nê-ông. Thỉnh thoảng khi nghĩ tới điều Will vẫn quyết tâm thực hiện, tôi thực sự phải kìm nén để không gào lên; tôi cảm thấy ngập lụt trong cảm giác điên rồ và nghĩ tôi có thể ngồi phịch xuống giữa hai hàng ghế mà hú mà hét cho tới khi ai đó ngăn lại. Cho tới khi ai đó đảm bảo rằng anh ấy sẽ không làm điều đó.

Thế nên dù trông tôi có vẻ trẻ con – tuy với tiếp viên trong khoang này thì tôi có vẻ là người phụ nữ tàn nhẫn nhất thế gian (vì tôi từ chối nói chuyện với Will, không nhìn anh, không cho anh ăn) – nhưng tôi biết giả vờ như anh không ở đó là cách duy nhất giúp tôi ứng phó được với những giờ gần như quá sức chịu đựng này. Nếu tin Nathan có thể một mình xoay xở thì tôi đã đổi chuyến bay, thậm chí còn biến mất cho tới khi biết chắc giữa hai chúng tôi là cả một lục địa chứ không chỉ có mấy phân ngắn ngủi.

Hai người đàn ông ngủ, điều đó tạo cảm giác nhẹ nhõm – một quãng nghỉ thoát khỏi nỗi căng thẳng. Tôi nhìn lên màn hình ti-vi, và cứ mỗi dặm về, tôi lại cảm thấy trái tim mình nặng nề hơn, nỗi căng thẳng càng tăng lên. Tôi bắt đầu nghĩ ra rằng thất bại này không chỉ của riêng tôi; bố mẹ Will sẽ vô cùng tuyệt vọng. Có thể họ sẽ đổ lỗi cho tôi. Có thể em gái Will sẽ đi kiện tôi. Và đó cũng là nỗi thất bại của tôi với Will. Tôi đã không thuyết phục được anh. Tôi đã trao cho anh mọi thứ tôi có thể trao, kể cả bản thân mình, thế nhưng chẳng có điều gì tôi trao anh thuyết phục nổi anh rằng có một lý do để sống.

Tôi thầm nghĩ, có lẽ anh xứng đáng với một người tốt hơn tôi. Ai đó thông minh hơn. Một người như Treena hẳn sẽ nghĩ những việc hay hơn để làm. Có thể họ sẽ tìm ra một thông tin về nghiên cứu y học hiếm hoi nào đó hoặc một thứ có thể giúp anh. Có thể họ sẽ thay đổi được ý định của anh. Sự thật là tôi sẽ phải sống với suy nghĩ đó suốt phần đời còn lại khiến tôi gần như lịm đi.

“Uống chút gì nhé Clark?” Giọng Will phá vỡ dòng suy nghĩ của tôi.

“Không. Cảm ơn”.

“Khuỷu tay anh có chiếm nhiều chỗ để tay của em quá không?”

“Không. Ổn cả”.

Chỉ trong mấy giờ cuối cùng ấy, trong màn đêm, tôi mới cho phép mình nhìn anh. Ánh mắt tôi chầm chậm đảo nghiêng từ màn hình ti-vi đang sáng của tôi cho tới khi lén nhìn được anh trong ánh sáng lờ mờ của khoang máy bay nhỏ bé.

Và khi tôi nhìn gương mặt anh, rám nắng và điển trai, vô cùng bình yên trong giấc ngủ, một dòng nước mắt lăn trên má tôi. Có lẽ vô thức cảm nhận được tôi đang quan sát, Will cựa quậy nhưng không tỉnh giấc. Tránh mắt tiếp viên trong khoang và Nathan, tôi từ từ kéo chăn lên quanh cổ anh, dém cẩn thận, để đảm bảo dưới gió điều hòa, Will không thấy lạnh.

Họ đang chờ ở Cổng Ra. Chẳng hiểu sao tôi biết họ sẽ tới. Tôi đã thoáng có cảm giác nôn nao lan tỏa trong lòng ngay khi chúng tôi đẩy xe Will qua khu kiểm tra hộ chiếu, được thông qua nhanh chóng bởi một viên chức tốt bụng dù tôi cứ cầu nguyện rằng chúng tôi sẽ bị buộc phải chờ, phải đứng xếp hàng hàng tiếng đồng hồ, mấy ngày ròng càng tốt. Nhưng không, chúng tôi băng qua sàn nhà lót thảm rộng lớn, tôi đẩy hành lý, Nathan đẩy Will, và khi cửa kính mở, họ ở đó, ngay bên rào chắn, đứng cạnh nhau với vẻ gần gũi hiếm thấy. Tôi thấy gương mặt bà Traynor thoáng bừng lên khi bà nhìn thấy Will và tôi lơ đãng thầm nghĩ, Tất nhiên rồi – trông anh ấy rất tuyệt. Và xấu hổ, tôi đeo kính râm lên – không phải để che giấu nét mệt mỏi, mà để bà không thấy ngay biểu hiện lộ rõ của tôi về điều tôi sẽ phải nói với bà.

“Nhìn con kìa!” bà kêu lên. “Will, trông con tuyệt quá. Rất tuyệt”.

Bố Will cúi xuống, vỗ lên xe lăn của con trai và đầu gối anh, gương mặt ông rạng rỡ. “Bố không tin nổi khi nghe Nathan kể ngày nào con cũng đi xuống biển. Bơi nữa chứ! Nước thế nào con – thích và ấm lắm phải không? Ở đây thì mưa như trút suốt. Tháng Tám điển hình!”

Tất nhiên. Nathan đã nhắn tin hoặc gọi điện cho họ. Cứ như thể họ có thể để chúng tôi đi chừng ấy thời gian mà không hỏi han gì vậy.

“Đó… đó là một nơi rất đẹp”, Nathan nói. Ông cũng đã trở nên lặng lẽ, nhưng lúc này ông cố mỉm cười để tỏ ra bình thường.

Tôi thấy máu đông đặc, tay nắm chặt hộ chiếu như thể sắp đi một nơi nào khác. Tôi phải nhắc mình nhớ thở.

“À, bố mẹ nghĩ có lẽ con thích một bữa tiệc đặc biệt”, bố Will nói. “Có một nhà hàng rất đẹp đẽ vui nhộn ở khu Intercontinental. Có sâm-banh nữa. Con nghĩ sao? Mẹ con và bố nghĩ có lẽ ở đó ăn ngon”.

“Được ạ”, Will nói. Anh mỉm cười với bà và bà nhìn lại anh như thể muốn níu giữ nụ cười ấy. Sao anh có thể làm thế? Tôi muốn hét lên với anh. Sao anh có thể nhìn bà ấy như thế khi mà anh đã biết điều anh sắp làm với bà?

“Thế thì đi nào. Bố để xe trong bãi đỗ dành cho người khuyết tật. Từ đây lại đó mất một chút thôi. Bố chắc ai cũng hơi say máy bay. Nathan, ông có muốn tôi mang bớt giỏ cho không?”

Giọng tôi vang lên cắt ngang câu chuyện. “Thật ra”, tôi nói – tôi đã rút hành lý của mình xuống khỏi xe kéo – “tôi nghĩ tôi phải về. Dù sao cũng cảm ơn”.

Tôi mải mê nhìn xuống giỏ xách của mình, cương quyết không nhìn lên họ, nhưng ngay trong không khí ồn ào ở sân bay, tôi vẫn cảm nhận thấy thoáng yên lặng mà những từ tôi nói gây ra.

Ông Traynor cất tiếng phá tan khoảng lặng đó. “Thôi nào, Louisa. Chúng ta cùng chúc mừng một chút. Chúng tôi muốn nghe mọi chuyện phiêu lưu của cả ba người. Tôi muốn biết thật nhiều về hòn đảo đó. Và tôi hứa cô sẽ không phải kể hết cho chúng tôi đâu”. Ông gần như phì cười.

“Phải đấy”. Giọng bà Traynor nghe thoáng gay gắt. “Đi cùng đi, Louisa”.

“Không đâu”. Tôi nuốt khan, cố mỉm cười hòa nhã. Cặp kính là tấm khiên che chắn. “Cảm ơn ông bà. Tôi thật sự muốn về hơn”.

“Về đâu?” Will hỏi.

Tôi nhận ra điều anh đang nói. Tôi thật tình chẳng có nơi nào để đi.

“Em sẽ về nhà bố mẹ. Mọi chuyện sẽ ổn”.

“Đi với bọn anh”, anh nói. Giọng anh thật dịu dàng. “Đừng về, Clark. Làm ơn”.

Khi ấy tôi muốn khóc. Nhưng tôi biết vô cùng chắc chắn rằng tôi không thể ở gần anh. “Không. Cảm ơn anh. Chúc anh một bữa ngon miệng”. Tôi hất túi xách qua vai, rồi trước khi có ai kịp lên tiếng, tôi bước khỏi chỗ họ, biến mất vào giữa biển người ở sân bay.

Sắp tới bến xe buýt thì tôi nghe tiếng bà. Camilla Traynor, đôi guốc cao gót lạch cạch trên vỉa hè, nửa đi nửa chạy về phía tôi.

“Dừng lại. Louisa. Làm ơn dừng lại”.

Tôi quay lại, bà đang luồn lách qua một nhóm du khách, gạt đám choai choai vai đeo ba-lô qua một bên như Moses rẽ sóng. Ánh đèn sân bay sáng rạng trên mái tóc bà, biến nó thành màu đồng sẫm. Bà choàng khăn pashmina xám thanh lịch, vắt rất khéo qua một bên vai. Tôi lơ đễnh nghĩ có lẽ vài năm trước bà đã vô cùng xinh đẹp.

“Làm ơn. Làm ơn dừng lại”.

Tôi dừng lại, liếc nhìn ra phía sau đường, mong sao xe buýt đến ngay, mong nó sẽ hút tôi lên và cuỗm tôi đi. Mong một chuyện gì đó sẽ xảy đến. Một trận động đất nhỏ chẳng hạn.

“Sao vậy Louisa?”

“Anh ấy đã có khoảng thời gian vui vẻ”. Giọng tôi nghe vụn vỡ. Giống giọng bà một cách lạ lùng, tôi thầm nghĩ.

“Nhìn nó tuyệt lắm. Tuyệt lắm mà”. Bà nhìn tôi trân trân, đứng chôn chân giữa vỉa hè. Bỗng nhiên bà như hóa đá, bất chấp biển người như thác lũ quanh bà.

Chúng tôi im lặng.

Rồi tôi cất tiếng, “Bà Traynor, tôi sẽ gửi đơn thôi việc. Tôi không thể… tôi không thể làm gì trong mấy ngày còn lại. Tôi sẽ bồi thường khoản tiền tôi nợ.

Quả thực, tôi không muốn nhận tiền tháng này. Tôi chẳng muốn gì cả. Tôi chỉ…”

Lúc ấy bà trở nên tái nhợt. Tôi thấy mặt bà thất sắc, thấy bà hơi chao đảo trong ánh nắng mai. Tôi thấy ông Traynor đi tới phía sau bà, bước chân vội vã, một tay giữ chặt chiếc mũ rộng vành trên đầu. Ông lẩm bẩm xin lỗi khi lách qua đám đông, mắt ông nhìn về phía tôi và vợ ông khi chúng tôi đứng lặng như tờ cách nhau vài bước.

“Cô… cô đã nói cô nghĩ nó hạnh phúc. Cô nói cô nghĩ chuyện này có thể thay đổi quyết định của nó”. Giọng bà thấm nỗi tuyệt vọng, như thể bà đang cầu xin tôi nói điều gì đó khác, cho bà một kết luận khác.

Tôi chẳng biết nói gì. Tôi nhìn bà trân trân, và tôi chỉ biết lắc đầu khe khẽ.

“Tôi xin lỗi”, tôi thì thầm, khẽ tới nỗi bà chẳng nghe thấy.

Ông tới vừa kịp lúc bà ngã khuỵu xuống. Chân bà cứ thế sụm xuống, và ông Traynor đưa tay trái ra đỡ bà khi bà gục ngã, miệng bà há hốc, cơ thể bà đổ vào người ông.

Chiếc mũ của ông bay xuống vỉa hè. Ông liếc lên nhìn tôi, nét mặt bối rối, vẫn chưa tiếp nhận nổi chuyện vừa xảy ra.

Tôi không thể nhìn. Tôi quay người, đờ đẫn, rồi tôi bắt đầu bước đi, chân này tới chân kia, đôi chân bước đi trước khi bộ não kịp nghĩ xem chúng định làm gì, rời khỏi sân bay, thậm chí chẳng biết mình định đi đâu.

Chương 24

Katrina

Trong vòng ba mươi sáu tiếng kể từ khi trở về từ kỳ nghỉ, Louisa không ra khỏi phòng. Chị từ sân bay về vào chiều muộn ngày Chủ nhật, nhợt nhạt như bóng ma dù làn da rám nắng – và thoạt đầu chúng tôi không hiểu vì sao, khi chị nói chắc chắn rằng chị sẽ gặp chúng tôi ngay sáng thứ Hai. Con chỉ cần ngủ thôi, chị nói, rồi nép mình trong phòng và nằm bẹp trên giường. Chúng tôi cũng nghĩ trông chị hơi lạ, nhưng chúng tôi biết làm gì được chứ? Nói cho cùng từ lúc sinh ra, Lou đã lạ tính lạ nết rồi.

Sáng thứ Hai, mẹ pha một tách trà nhưng Lou không động đến. Tới bữa tối, mẹ lo lắng lên lay chị, kiểm tra xem chị còn sống không. (Mẹ hơi cường điệu một chút nhưng công bằng mà nói, mẹ đã làm chả cá nên có lẽ mẹ chỉ muốn đảm bảo rằng Lou không bỏ lỡ nó). Nhưng Lou không ăn, không nói mà cũng không xuống lầu. Con chỉ muốn nằm đây một lát thôi mẹ, chị nói, đầu vẫn vùi trong gối. Cuối cùng, mẹ để chị yên.

“Nó không còn là nó nữa”, mẹ nói. “Mọi người có nghĩ đây là phản ứng muộn về chuyện với Patrick không?”

“Nó chẳng quan tâm gì tới Patrick đâu”, bố nói. “Anh đã kể với nó là Patrick gọi điện thông báo với chúng ta rằng nó về thứ 157 trong cuộc thi Viking gì đó, mà nó có thèm để ý tí nào đâu”. Bố nhấp một ngụm trà. “Thật ra cũng phải công bằng với nó, ngay cả anh cũng khó lòng thấy hào hứng với vị trí 157”.

“Anh có nghĩ con nó ốm không? Da thì rám nắng nhưng trông nó vẫn nhợt nhạt kinh khủng. Lại ngủ triền miên như thế. Chẳng giống nó tí nào. Hay nó bị một căn bệnh nhiệt đới đáng sợ nào đó”.

“Chị ấy chỉ say máy bay thôi”, tôi nói. Tôi nói với giọng cả quyết, vì vốn biết bố mẹ thường xem tôi là chuyên gia của mọi vấn đề mà không ai trong chúng tôi hiểu rõ.

“Say máy bay! Ôi, nếu đi chơi xa mà bị như thế thì bố nghĩ bố cứ ở lì trong Tenby thôi. Em nghĩ sao, Josie, em yêu?”

“Em không biết nữa… ai nghĩ được đi nghỉ lại khiến người ta mệt mỏi tới vậy?” Mẹ lắc đầu.

Sau bữa tối tôi đi lên lầu. Tôi không gõ cửa. (Rốt cuộc, nói một cách thẳng thắn thì đây vẫn là phòng tôi.) Không khí nặng nề ngột ngạt, tôi kéo mành lên và mở cửa sổ, thế là Lou bơ phờ chui ra từ dưới chăn, đưa tay che ánh sáng, bụi bay tả tơi xung quanh chị.

“Chị sẽ kể với em có chuyện gì chứ?” Tôi đặt một tách trà xuống bàn ngủ.

Chị chớp mắt nhìn tôi.

“Mẹ nghĩ chị bị virus Ebola. Mẹ đang hối hả cảnh báo mấy nhà hàng xóm đã đặt vé tới câu lạc bộ Bingo ở công viên PortAventura, Tây Ban Nha”.

Chị không nói gì.

“Lou?”

“Chị từ bỏ rồi”, chị nói khẽ.

“Sao cơ?”

“Em nghĩ là sao nào?” Chị ngồi thẳng dậy, lóng ngóng với tách trà, nhấp một ngụm dài.

Vừa đi nghỉ hai tuần ở Mauritius mà trông chị phờ phạc không tả nổi. Mắt híp lại và đỏ hoe, da dẻ nổi nhiều tàn nhang hơn. Tóc chị vất qua một bên.

Trông chị như đã thức suốt mấy năm trời. Nhưng biểu hiện rõ ràng nhất là nỗi buồn. Tôi chưa bao giờ thấy chị buồn tới vậy.

“Chị nghĩ chuyến đi này sẽ giúp anh ấy vượt qua?”

Chị gật đầu. Rồi chị nuốt vào nặng nhọc.

“Chết tiệt. Ôi, Lou. Em thực sự rất lấy làm tiếc”.

Tôi bảo chị ngồi xích vào, rồi tôi trèo lên giường bên cạnh chị. Chị uống một ngụm trà nữa, rồi ngả đầu lên vai tôi. Chị đang mặc áo phông của tôi. Tôi không nói gì về chuyện đó. Điều đó cho tôi thấy chị đang rất buồn.

“Chị phải làm gì, Treen?”

Giọng chị thật nhỏ, như giọng Thomas, khi nó làm mình đau và đang cố tỏ ra dũng cảm. Bên ngoài, chúng tôi nghe thấy tiếng con chó nhà hàng xóm chạy tới chạy lui dọc hàng rào quanh vườn, đuổi theo lũ mèo nhà hàng xóm. Thỉnh thoảng chúng tôi nghe thấy tiếng sủa; giờ thì đầu con chó đã ngóc qua hàng rào, hai mắt nó căng ra với vẻ thất vọng.

“Em không chắc chị có làm được gì không. Chúa ơi. Tất cả mọi thứ chị đã thay đổi cho anh ấy. Mọi nỗ lực đó…”

“Chị nói với anh ấy chị yêu anh ấy”, chị nói, giọng chị hạ xuống nghe như tiếng thì thầm. “Thế mà anh ấy bảo vậy vẫn không đủ”. Đôi mắt chị trũng sâu, hốc hác. “Làm sao chị sống nổi với chuyện này?”

Trong gia đình, tôi là người biết mọi thứ. Tôi đọc nhiều hơn bất cứ ai khác.

Tôi học đại học. Tôi được cho là người có mọi câu trả lời.

Nhưng tôi nhìn chị gái tôi, rồi lắc đầu. “Em chẳng biết nữa”, tôi nói.

Ngày hôm sau, cuối cùng chị cũng xuất đầu lộ diện, tắm táp và mặc đồ sạch sẽ, và tôi bảo bố mẹ đừng nói một lời nào. Tôi ám chỉ đó là chuyện rắc rối với bạn trai, và bố nhướng mày cau mặt như thể điều đó giải thích mọi thứ và Chúa biết chúng tôi đã đẩy bản thân vào một mớ bòng bong ra trò. Mẹ vội chạy đi gọi cho câu lạc bộ Bingo để bảo họ rằng bà đã nghĩ lại về mối nguy hiểm của du lịch bằng máy bay.

Lou ăn một lát bánh mì nướng (chị không muốn ăn trưa) rồi chị đội một chiếc mũ mềm rộng vành và chúng tôi cùng Thomas thả bộ lên lâu đài cho vịt ăn. Tôi nghĩ chị không muốn đi nhưng mẹ cứ khăng khăng rằng cả mấy đứa chúng tôi đều cần chút không khí trong lành. Trong ngôn ngữ của mẹ tôi, điều này có nghĩa là bà đang rất muốn vào phòng ngủ lau dọn cho thoáng đãng và thay chăn ga. Thomas nhảy lóc cóc phía trước chúng tôi, tay nắm chiếc túi nhựa đựng đầy mẩu bánh, còn hai chúng tôi luồn lách qua biển du khách đông đúc một cách thành thạo, rẽ lối giữa những chiếc ba-lô đung đưa, chia tách quanh những cặp đôi đang tạo dáng chụp hình rồi gặp lại nhau khi đã đi qua. Tòa lâu đài rám mình dưới cái nóng đỉnh điểm của mùa hè, đất nứt nẻ và cỏ lưa thưa như những sợi tóc còn sót lại trên đầu ông hói. Hoa lá trong các bồn đều tàn tạ, như thể chúng đã nửa phần chuẩn bị sang thu.

Lou và tôi không nói nhiều. Mà biết phải nói gì đây?

Khi chúng tôi đi qua khu đỗ xe của du khách, tôi thấy dưới vành mũ, chị liếc nhìn về phía nhà Traynor. Nó đứng đó, thanh lịch một màu gạch đỏ, những ô cửa sổ trơn cao vút đang che giấu một màn kịch đầy biến động đang diễn ra ở đấy, có khi vào ngay chính lúc này.

“Chị có thể tới nói chuyện với anh ấy, chị biết đấy”, tôi nói. “Em sẽ đợi ở đây”.

Chị nhìn xuống đất, khoanh tay trước ngực, và hai chúng tôi cứ bước tiếp.

“Chẳng ích gì đâu”, chị nói. Tôi biết phần còn lại của câu nói đó, cái phần mà chị không nói to lên. Có khi anh ấy chẳng còn ở đó nữa cũng nên.

Chúng tôi chầm chậm dạo quanh lâu đài, quan sát Thomas mò xuống bậc thang trên đồi để cho lũ vịt ăn, nhưng vào mùa này chúng no béo tới độ chẳng mấy con thèm bơi lại nhặt mẩu bánh nhạt. Tôi quan sát chị gái khi chúng tôi sóng bước, nhìn tấm lưng nâu lộ ra từ chiếc áo yếm, đôi vai khom của chị, tôi nhận ra rằng dù chị chưa hay biết, nhưng cuộc đời chị đã thay đổi hoàn toàn.

Chị không thể ở lại đây, dù có chuyện gì xảy ra với Will Traynor đi nữa. Có một bầu không khí mới bao quanh chị, không khí mới của tri thức, của những điều đã thấy, những nơi đã đến. Cuối cùng chị tôi đã gặp những chân trời mới.

“À”, tôi lên tiếng khi chúng tôi quay trở lại cổng, “chị có thư. Từ trường đại học, trong thời gian chị đi vắng. Xin lỗi nhé – em mở rồi. Em cứ tưởng nó là của em”.

“Em mở rồi hả?”

Tôi đã hy vọng có thêm tiền trợ cấp.

“Chị có một buổi phỏng vấn”.

Chị chớp mắt, như thể đang nhận tin từ một quá khứ xa xăm nào đó.

“Phải. Và thông tin quan trọng là nó diễn ra vào ngày mai”, tôi nói. “Thế nên em nghĩ có lẽ tối nay chúng ta nên tập dượt một số câu dễ bị hỏi”.

Chị lắc đầu. “Mai chị không đi phỏng vấn được”.

“Chị định làm gì khác à?”

“Chị không thể, Treen”, chị nói với giọng buồn rầu. “Làm sao chị nghĩ được cái gì vào một thời điểm như thế này?”

“Nghe này, Lou. Người ta không mời phỏng vấn như mời vịt ăn bánh mì đâu, ngốc ạ. Đây là một cơ hội lớn. Họ biết chị là một sinh viên nhiều tuổi, chị đang nộp đơn vào một thời điểm không thuận lợi trong năm, vậy mà họ vẫn muốn gặp chị. Chị không thể làm họ thất vọng như thế được”.

“Chị không quan tâm. Chị không thể nghĩ tới chuyện đó”.

“Nhưng chị…”

“Để chị yên, Treen. Được chứ? Chị không làm được”.

“Này”, tôi nói. Tôi bước lên chặn đường để chị không đi tiếp được. Thomas đang nói chuyện với một chú bồ câu cách chúng tôi vài bước về phía trước.

“Đây chính là lúc chị phải nghĩ về chuyện đó. Đây là lúc mà dù thích hay không, rốt cuộc chị vẫn phải định hướng xem chị định làm gì với phần còn lại của cuộc đời”.

Chúng tôi đang đứng ngáng đường. Giờ đây du khách phải chia ra đi quanh chúng tôi – có người cứ thế đi thẳng xuống đồi, có người hơi tò mò nhìn hai chị em đang cãi nhau.

“Chị không thể”.

“Ồ, khó khăn đấy. Bởi vì, để em nhắc kẻo chị quên, giờ chị không còn việc nữa. Không còn Patrick làm nguồn an ủi. Và nếu chị bỏ lỡ cuộc phỏng vấn này, thì trong vòng hai ngày chị sẽ phải quay trở lại Trung tâm Giới thiệu việc làm để quyết định xem chị muốn làm công nhân mổ gà hay vũ công khiêu dâm hay chùi đít cho người ta để kiếm sống. Chị tin hay không thì tùy nhé, vì chị cũng đã sắp ba mươi, cuộc đời của chị được an bài rồi. Và tất cả những thứ này – mọi thứ chị học được trong sáu tháng qua – sẽ chỉ là một sự lãng phí thời gian. Tất cả mọi thứ”.

Chị nhìn tôi chằm chằm, mang cái vẻ mặt tức giận câm nín thường thấy khi chị biết tôi đúng và chị chẳng thể đáp lại điều gì. Lúc này Thomas tới bên chúng tôi và kéo tay tôi.

“Mẹ… mẹ nói đít”.

Chị gái tôi vẫn nhìn tôi với ánh mắt giận dữ. Nhưng tôi biết chị đang suy nghĩ.

Tôi quay sang con trai. “Không đâu con yêu, mẹ nói mít. Giờ chúng ta về uống trà – phải không Lou? – và coi ở nhà có mít không nhé. Sau đó, khi ông ngoại tắm cho con, mẹ sẽ giúp dì Lou làm việc nhà”.

Ngày hôm sau tôi tới thư viện, mẹ trông Thomas, và khi thấy Lou xuống đón xe buýt tôi biết tới tận giờ uống trà tôi mới gặp lại chị. Tôi không kỳ vọng nhiều vào buổi phỏng vấn, nhưng thật ra từ khi rời khỏi chị, tôi không nghĩ gì về chị nữa.

Nói thì có vẻ hơi ích kỷ, nhưng tôi không muốn làm trễ khóa luận, và tôi cũng thấy nhẹ nhõm phần nào khi được thoát khỏi nỗi buồn khổ của Lou trong một lát. Ở bên cạnh một người tuyệt vọng chừng ấy quả là hơi có cảm giác kiệt quệ. Có thể ta thấy thương cho họ, nhưng ta cũng không thể không muốn bảo họ hãy xốc lại tinh thần. Tôi nhét gia đình, chị gái, mớ hỗn độn bi thương mà chị tự dẫn xác tới, vào một ngăn trong óc, đóng ngăn kéo lại, và tập trung chú ý vào vấn đề miễn thuế VAT. Tôi đạt điểm cao thứ nhì cả năm trong khóa Kế toán 1, và tôi chẳng thể nào để mình tụt hạng chỉ vì những thay đổi bất thường của hệ thống thuế suất đồng loạt của Cục Thuế và Hải quan Anh.

Tôi về nhà vào khoảng sáu giờ kém mười lăm, thả tài liệu xuống chiếc ghế bành ở sảnh, khi đó mọi người đã ngồi vào quanh bàn ăn, và mẹ bắt đầu đưa đồ ăn lên. Thomas phóc lên người tôi, đung đưa hai chân quanh hông tôi, tôi hôn nó, hít vào mùi sữa đáng yêu trên cơ thể trẻ con.

“Ngồi xuống, ngồi xuống nào”, mẹ nói. “Bố vào rồi”.

“Sách của con dạo này thế nào rồi?” bố nói rồi treo áo khoác lên thành ghế.

Bố luôn gọi việc học của tôi là “sách của con”. Như thể nó có đời sống riêng của nó và phải được sắp xếp cho ngăn nắp.

“Tốt ạ, cảm ơn bố. Con hoàn thành được ba phần tư môn Kế toán 2 rồi. Mai con sẽ học luật doanh nghiệp”. Tôi thả Thomas xuống chiếc ghế bên cạnh tôi, đặt một tay trên mái đầu mềm mại của nó.

“Nghe không, Josie? Luật doanh nghiệp đấy”. Bố chôm một miếng khoai tây trong đĩa và cho vào miệng trước khi mẹ kịp nhìn thấy. Bố nói từ đó như thể bố mê mẩn âm thanh của nó. Tôi nghĩ có lẽ bố mê mẩn thật. Chúng tôi trò chuyện một chút về những thứ liên quan tới môn học của tôi. Rồi chúng tôi nói về công việc của bố – chủ yếu là về chuyện du khách làm hỏng mọi thứ. Rõ ràng là ta không nên tin vào việc trùng tu. Đến cả những cây cột gỗ trên lối vào bãi đỗ xe cũng phải thay vài tuần một lần vì những kẻ ngu ngốc không biết cách lái xe qua khúc cua bốn mét. Nếu là tôi, tôi sẽ tăng giá vé để bảo vệ nó – nhưng đó chỉ là suy nghĩ của tôi thôi.

Mẹ bưng đồ lên xong và cuối cùng cũng ngồi xuống. Thomas ăn bốc khi nó nghĩ không ai để ý và nói thầm từ đít kèm một nụ cười tủm tỉm, ông ngoại thì vừa ăn vừa nhìn trân trân lên trần nhà, như thể ông thực sự đang nghĩ về một điều gì đó hoàn toàn khác. Tôi liếc sang Lou. Chị cúi gằm xuống đĩa, đẩy miếng gà nướng vòng quanh như thể đang cố giấu nó đi. U ô, tôi thầm nghĩ.

“Con không đói à, con yêu?” mẹ nói khi dõi theo ánh mắt tôi.

“Không đói lắm ạ”, chị đáp.

“Ăn gà trời này thì hơi nóng”, mẹ thừa nhận. “Mẹ chỉ nghĩ con cần bồi bổ một chút”.

“Thế… con sẽ kể cho cả nhà nghe xem con đi phỏng vấn thế nào chứ?” Bố đưa đĩa lên miệng giữa chừng thì dừng lại.

“Ồ, chuyện đó”. Trông chị ngơ ngác, như thể bố vừa lôi lên một việc chị đã làm từ năm năm trước.

“Phải, chuyện đó”.

Chị xiên một mẩu gà bé xíu. “Ổn cả ạ”.

Bố liếc nhìn tôi.

Tôi khẽ nhún vai. “Ổn cả thôi à? Người ta phải nhận xét gì đó về cách chị trả lời phỏng vấn chứ”.

“Chị qua rồi”.

“Sao?”

Chị vẫn cúi gằm xuống đĩa. Tôi ngừng nhai.

“Họ nói chị đúng là ứng viên họ đang tìm kiếm. Chị phải học một khóa kiến thức nền, mất một năm, sau đó chị có thể chuyển tiếp”.

Bố ngồi thẳng dậy. “Quả là một tin tuyệt diệu”.

Mẹ đưa tay vỗ vai chị. “Ôi, làm tốt lắm, con yêu. Thông minh quá”.

“Không hẳn vậy đâu. Con không nghĩ con đủ tiền trả cho bốn năm học”.

“Ít nhất trong lúc này, đừng lo lắng về chuyện đó. Thật đấy. Xem Treena xoay xở thế nào kìa. Nào…” bố huých tay chị “… chúng ta sẽ tìm ra cách. Chúng ta luôn tìm ra cách phải không nào?” Bố cười rạng rỡ với cả hai chúng tôi. “Bố nghĩ giờ mọi thứ rất suôn sẻ với chúng ta, các con gái. Bố nghĩ đây sẽ là thời điểm tốt đẹp của gia đình mình”.

Thế rồi đột nhiên, chị òa khóc. Nước mắt lưng tròng. Chị khóc như Thomas khóc, gào thét, nức nở, không bận tâm có ai nghe thấy, tiếng khóc của chị như lưỡi dao xé ngang không gian tĩnh lặng của căn phòng bé nhỏ.

Thomas nhìn chị chằm chằm, miệng há hốc, tôi phải kéo nó vào lòng và đánh lạc hướng nó để nó không khóc theo. Trong khi tôi mải bận đút khoai tây cho con, làm trò với món đậu và pha giọng nhí nhố, chị kể cho bố mẹ nghe.

Chị kể cho bố mẹ tất cả mọi thứ – về Will và hợp đồng sáu tháng và chuyện xảy ra khi họ đi Mauritius. Nghe chị nói, mẹ đưa tay lên miệng. Ông ngoại tỏ ra u sầu. Món thịt gà nguội ngoặm, nước xốt đông lại trên đĩa.

Bố lắc đầu không tin nổi. Rồi khi chị tôi kể tỉ mỉ về chuyến bay về nhà từ Ấn Độ Dương, giọng chị hạ xuống thành tiếng thì thầm khi chị kể đến những lời cuối cùng chị nói với bà Traynor, bố kéo ghế đứng dậy. Ông từ từ đi quanh bàn rồi ôm chị trong tay, như ông vẫn làm thời chúng tôi còn nhỏ. Ông đứng đó, ghì chị thật chặt.

“Ôi Chúa ôi, tội nghiệp anh chàng ấy. Tội nghiệp con. Ôi Chúa ôi”.

Tôi không chắc đã bao giờ thấy bố sốc tới vậy chưa.

“Sao mà lung tung quá thế này”.

“Con phải trải qua tất cả chuyện này? Mà chẳng nói một lời sao? Và tất cả những gì bố mẹ nhận được là một tấm bưu thiếp về trò lặn biển?” Mẹ tỏ vẻ hoài nghi. “Cả nhà cứ nghĩ con đang có một kỳ nghỉ tuyệt nhất trần đời”.

“Con không một mình. Treena biết”, chị nói, nhìn tôi. “Treena giỏi lắm”.

“Em đâu có làm được gì”, tôi nói rồi ôm Thomas. Giờ nó không còn để ý tới cuộc nói chuyện nữa vì mẹ tôi đã để hộp kẹo sô-cô-la Celebrations mở sẵn trước mặt nó. “Em chỉ nghe thôi. Chị đã làm hết. Chị đã nghĩ ra mọi ý tưởng”.

“Thật là ý với chả tưởng”. Chị dựa người vào bố, giọng như lạc đi.

Bố nâng cằm chị để chị phải nhìn vào mắt bố. “Nhưng con đã làm mọi việc có thể”.

“Và con đã thất bại”.

“Ai nói con thất bại?” Bố vuốt tóc khỏi mặt chị. Ông cúi mặt sát hơn. “Bố chỉ đang nghĩ về những điều bố biết về Will Traynor, những điều bố biết về những người như cậu ấy. Và bố sẽ nói điều này với con. Bố không chắc trên thế gian này đã từng có ai thuyết phục được anh chàng ấy chưa, một khi cậu ta đã quyết định điều gì. Con người cậu ấy là vậy đấy. Con không thể thay đổi bản tính con người được đâu”.

“Nhưng bố mẹ cậu ấy! Họ không thể để cậu ấy tự vẫn”, mẹ nói. “Họ là kiểu người gì vậy?”

“Họ là những người bình thường mẹ ạ. Chỉ có điều bà Traynor không biết bà ấy có thể làm gì khác nữa”.

“Ồ, không mang cậu ấy tới bệnh viện đó sẽ là một khởi đầu đấy”. Mẹ giận dữ. Hai má mẹ đỏ hồng. “Mẹ sẽ đấu tranh vì hai con, vì Thomas tới tận hơi thở cuối cùng”.

“Ngay cả khi anh ấy đã từng cố tự sát ư?” tôi nói. “Bằng những cách rất khốn khổ?”

“Cậu ấy bị bệnh, Katrina. Cậu ấy tuyệt vọng. Không nên để những người dễ tổn thương có cơ hội làm một việc mà họ sẽ…” Mẹ im bặt trong cơn giận câm lặng và đưa khăn ăn chấm mắt. “Người đàn bà đó hẳn rất tàn nhẫn. Tàn nhẫn quá. Cứ nghĩ tới chuyện họ để Louisa dính tới tất cả chuyện này xem. Bà ấy là một quan tòa, lạy Chúa. Người ta cứ nghĩ quan tòa sẽ biết đúng sai. Ai cũng nghĩ thế. Mẹ chỉ muốn xuống đó ngay bây giờ để đưa cậu ấy về lại đây”.

“Mọi chuyện phức tạp lắm mẹ à”.

“Không. Không hề. Cậu ấy dễ bị tổn thương, và bà ấy không thể nào khuyến khích một ý nghĩ như thế. Mẹ kinh ngạc quá. Anh chàng tội nghiệp. Anh chàng tội nghiệp”.  Mẹ đứng lên khỏi bàn, mang phần còn lại của món gà theo, rồi đi thẳng vào bếp.

Louisa nhìn mẹ đi, nét mặt chị hơi choáng váng. Mẹ chưa bao giờ nổi giận.

Tôi nghĩ lần cuối cùng tôi nghe mẹ cao giọng là năm 1993.

Bố lắc đầu, tâm trí hẳn đã ở một nơi nào khác. “Bố chỉ nghĩ – chẳng trách gì bố không thấy ông Traynor. Bố cứ tự hỏi không biết ông ấy đi đâu. Bố nghĩ họ đã lên đường đi nghỉ cả gia đình hay sao đó”.

“Họ… họ đi rồi?”

“Hai hôm nay không thấy ông ấy tới”.

Lou ngồi xuống, thụp người trong ghế.

“Ôi trời”, tôi thốt lên, rồi đưa tay chụp quanh tai Thomas.

“Ngày mai”.

Lou nhìn tôi, và tôi liếc lên lịch trên tường.

“Ngày mười ba tháng Tám. Đó là ngày mai”.

***

Ngày cuối cùng ấy Lou không nói gì. Chị dậy trước tôi, ngồi nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ gian bếp. Trời mưa, rồi tạnh, rồi lại mưa. Chị nằm trên sofa với ông ngoại, rồi chị uống trà mẹ pha cho, và cứ khoảng nửa tiếng tôi lại để ý thấy ánh mắt chị lặng lẽ liếc về phía bệ lò sưởi để kiểm tra đồng hồ. Chứng kiến chuyện này thật là kinh khủng. Tôi đưa Thomas đi bơi và tôi cố kéo chị theo cùng. Tôi nói mẹ sẽ trông thằng bé nếu lát nữa chị muốn đi mua sắm với tôi. Tôi nói tôi sẽ đưa chị đi uống rượu, chỉ hai chúng tôi thôi, nhưng chị khước từ mọi lời đề nghị.

“Nếu chị mắc sai lầm rồi thì sao, Treen?” chị nói thật khẽ để chỉ mình tôi nghe thấy.

Tôi liếc nhìn ông ngoại, nhưng ông chỉ để mắt vào cuộc đua ngựa trên ti-vi.

Tôi nghĩ ông vẫn âm thầm đặt cược từng lượt đua cho mình, dù ông chối chuyện đó với mẹ.

“Ý chị là sao?”

“Nếu đúng ra chị nên đi cùng anh ấy thì sao?”

“Nhưng… chị đã nói chị không thể”.

Bên ngoài, trời xám ngắt. Chị đưa mắt qua những ô cửa sổ trống trơn nhìn vào một ngày sầu thảm.

“Chị biết mình nói gì chứ. Nhưng chỉ là chị không chịu được khi biết chuyện gì đang diễn ra”. Mặt chị hơi mếu máo. “Chị không chịu được khi biết cảm giác của anh ấy. Chị không chịu được ý nghĩ rằng chị thậm chí không bao giờ tới tạm biệt”.

“Giờ chị không đi được nữa à? Thử mua vé máy bay xem sao?”

“Muộn quá rồi”, chị nói. Rồi chị nhắm mắt lại. “Chị không bao giờ tới đó kịp. Chỉ còn hai tiếng nữa là tới lúc… là kết thúc chuyện đó trong ngày hôm nay.

Chị đã tìm hiểu. Trên internet”.

Tôi chờ đợi.

“Họ không… làm… chuyện đó… sau năm giờ ba mươi”. Chị lắc đầu với vẻ đau đớn. “Liên quan tới cảnh sát Thụy Sỹ, những người phải chứng giám. Họ không thích… chứng nhận… sau giờ hành chính”.

Tôi suýt phì cười. Nhưng tôi không biết phải nói gì với chị. Tôi không hình dung nổi cảm giác phải chờ đợi, như chị đang chờ đợi lúc này, thầm biết chuyện gì đang xảy ra ở một nơi xa lắc. Tôi chưa bao giờ yêu một người như kiểu chị yêu Will. Tôi đã thích nhiều chàng, tất nhiên, và muốn ngủ với họ, nhưng đôi khi tôi tự hỏi có phải mình thiếu mất mạch đa cảm đa sầu hay không. Tôi chẳng hình dung được cảnh mình khóc vì ai đó mà mình cặp kè. Chỉ có một chuyện tương đương là khi tôi nghĩ ra cảnh Thomas chờ chết ở một đất nước xa lạ nào đó, và ngay khi ý nghĩ đó đến trong đầu, tôi thấy cả lòng mình chao đảo, ý nghĩ ấy thật quá gớm guốc. Thế nên tôi vùi luôn nó vào sâu trong khoang cảm xúc trong não bộ tôi, dưới ngăn kéo dán nhãn: Không được nghĩ tới.

Tôi ngồi xuống bên chị trên ghế sofa và chúng tôi lặng lẽ xem đợt đua Maiden Stakes vào lúc ba giờ rưỡi, rồi tới đợt đua có chấp vào lúc bốn giờ, rồi bốn đợt đua tiếp theo, với cảm xúc mãnh liệt không đổi của những người hẳn đã thật sự đặt hết tiền bạc trên đời vào kẻ thắng cuộc.

Rồi chuông cửa reo.

Louisa phóc khỏi sofa, lao ra sảnh trong chớp mắt. Chị mở cửa, và cái cách chị bật tung cánh cửa khiến cả tim tôi cũng phải ngừng đập.

Đọc thêm

Overtime

1. Tờ mờ sáng, tôi chuẩn bị đi làm với tâm trạng còn tệ hơn ngày thường vì hôm nay thứ bảy. Nghĩ về…

Trông mặt bắt hình dong

Người xưa nói: “trông mặt mà bắt hình dong” cho đến nay vẫn chưa ai xác định được điều ấy đúng hay…

Một lần Giáng Sinh

Cái tên đi học rất tân thời thì tôi không thích. Tôi thích tên Síu từ hôm nghe mẹ Síu gọi: “Síu ơi,…

Tiên học lễ

Có nhiều cách cho thấy sự lễ phép. Khi xưa, trẻ con và ngay cả người lớn, khi gặp các bậc trưởng…
1 của 433

Nhưng người đứng trên bậc thềm không phải là Will. Đó là một phụ nữ trẻ, trang điểm đậm và hoàn hảo, tóc ngắn gọn gàng ôm quanh cằm. Cô ta gập ô lại rồi mỉm cười, thò tay vào lục chiếc túi lớn đeo trên vai. Trong một thoáng tôi tự hỏi đây có phải là em gái Will Traynor.

“Louisa Clark phải không?”

“Sao?”

“Tôi từ The Globe. Tôi muốn trao đổi vài lời được không?”

“The Globehả?”

Tôi nghe giọng Lou rất ngơ ngác.

“Tờ báo hả?” Tôi bước tới sau lưng chị gái. Tôi đã thấy cuốn sổ trên tay cô ta.

“Tôi vào được không? Tôi chỉ muốn trò chuyện một chút với chị về William Traynor. Chị làm việc cho William Traynor phải không?”

“Miễn bình luận”, tôi nói. Rồi trước khi cô ta có cơ hội nói thêm lời nào, tôi đóng sầm cửa trước mặt cô ta.

Chị tôi đứng ngơ ngác giữa sảnh. Chị chần chừ khi thấy chuông cửa lại reo.

“Đừng trả lời”, tôi rít lên.

“Nhưng làm sao…?”

Tôi bắt đầu lôi chị lên cầu thang. Chúa ơi, chị chậm chạp không chịu nổi. Cứ như thể chị đang ngủ gật vậy. “Ông ngoại, đừng mở cửa nhé!” tôi hét lên. “Chị đã nói với ai rồi?” tôi hỏi khi chúng tôi lên tới chiếu nghỉ. “Hẳn đã có ai đó tấu với họ. Ai biết?”

“Cô Clark”, giọng cô gái lọt qua hòm thư. “Chỉ cần cô cho tôi mười phút thôi… chúng tôi biết đây là vấn đề nhạy cảm. Chúng tôi muốn cô đưa ra ý kiến về chuyện này…”

“Như thế nghĩa là anh ấy chết rồi à?” Mắt chị tràn lệ.

“Không, nó chỉ có nghĩa bọn tồi đang cố nhúng mũi vào”. Tôi ngẫm nghĩ một phút.

“Ai vậy các con?” Giọng mẹ vang lên tầng trên.

“Không ai cả, mẹ ạ. Chỉ cần không mở cửa”.

Tôi ngó qua lan can cầu thang. Mẹ đang cầm một chiếc mù-soa trên tay, nhìn chăm chú bóng người hiện rõ trên tấm kính của cửa trước.

“Không mở cửa à?”

Tôi nắm khuỷu tay chị gái. “Lou… chị không nói gì với Patrick đấy chứ?”

Chị chẳng cần phải nói gì. Vẻ mặt bàng hoàng của chị đã nói lên tất cả.

“Được rồi. Đừng làm ầm lên. Chỉ cần không lại gần cửa. Không nghe điện thoại. Không nói lời nào với họ, được chưa?”

Mẹ không vui. Mẹ càng phiền lòng hơn sau khi điện thoạt bắt đầu reo. Sau cuộc điện thoại thứ năm, chúng tôi cho mọi cuộc gọi chuyển vào chế độ trả lời tự động, nhưng chúng tôi vẫn phải nghe họ, giọng nói của bọn họ xâm chiếm hành lang bé nhỏ nhà chúng tôi. Cùng lúc có tới bốn, năm người. Tất cả đều đề nghị Lou nêu quan điểm về “câu chuyện đó”, như đúng lời bọn họ. Như thể giờ đây Will Traynor đã trở thành một mặt hàng mà tất cả bọn họ muốn viết đến.

Điện thoại reo, chuông cửa reo. Chúng tôi buông rèm ngồi trong nhà, lắng nghe đám nhà báo đi lại trên vỉa hè ngay cạnh cổng nhà chúng tôi, trò chuyện với nhau và í ới trên điện thoại di động.

Thật chẳng khác gì bị vây hãm. Mẹ khoa tay múa chân và hét qua lỗ nhét thư để đuổi họ ra khỏi vườn mỗi khi có ai trong số bọn họ dám thò chân qua cổng.

Thomas nhìn ra từ cửa sổ phòng tắm trên tầng vì muốn biết tại sao lại có nhiều người trong vườn nhà chúng tôi. Bốn nhà hàng xóm gọi sang, muốn biết xem có chuyện gì xảy ra. Bố đỗ xe ở phố Ivy rồi về nhà qua ngả vườn sau, và chúng tôi có một cuộc nói chuyện khá nghiêm túc về pháo đài và dầu đun sôi.

Rồi khi nghĩ kỹ hơn, tôi gọi cho Patrick để hỏi xem anh ta được bao nhiêu từ phi vụ bần tiện này. Thoáng ngập ngừng trước khi anh ta chối bỏ mọi chuyện đã nói cho tôi mọi điều tôi cần biết.

“Đồ khốn nạn”, tôi hét lên. “Tôi sẽ đá gãy đôi ống quyển chạy marathon ngu xuẩn của anh để anh phải nghĩ rằng xếp thứ 157 là kết quả tốt lắm rồi”.

Lou chỉ ngồi trong bếp và khóc. Không phải khóc nức nở, chỉ là những giọt nước mắt lặng thầm lăn trên má, rồi chị đưa lòng bàn tay lau đi. Tôi không nghĩ ra phải nói gì với chị.

Thế cũng ổn. Tôi có rất nhiều thứ để nói với mọi người khác.

Tới bảy rưỡi, quanh nhà không còn bóng một phóng viên nào. Tôi không biết họ đã từ bỏ hẳn, hay chỉ là vì Thomas cứ ném những mảnh đồ chơi Lego qua khe nhét thư mỗi lần có ai thả câu hỏi vào nhà làm họ thấy chán. Tôi bảo Louisa tắm cho Thomas giúp tôi, chủ yếu là vì tôi muốn chị nhấc mình khỏi bếp, nhưng cũng vì như thế tôi mới có thể nghe hết lời nhắn trong hộp thư thoại và loại bỏ lời nhắn của đám báo chí trong khi chị không nghe thấy. Hai mươi sáu. Hai mươi sáu lời nhắn của đám chết tiệt. Ai ai cũng tỏ ra vô cùng tử tế, vô cùng thông cảm. Một số người thậm chí còn đề nghị đưa tiền.

Tôi nhấn nút xóa từng lời nhắn một. Cả những tin nhắn đề nghị đưa tiền cũng vậy, dù phải thừa nhận là tôi hơi tò mò không biết họ định đưa bao nhiêu.

Trong lúc đó, tôi nghe Lou nói chuyện với Thomas trong phòng tắm, tiếng thằng bé đưa chiếc Batmobile thả bom soàn soạt xuống chậu đầy bọt xà phòng mười lăm phân. Đó là một điều ở trẻ con mà người không có con thì không biết được – giờ tắm, đồ chơi Lego và món cá tẩm bột chiên giòn không cho phép người ta tắm cho lũ trẻ quá lâu. Thế rồi tôi nghe tới tin nhắn cuối cùng.

“Louisa à? Camilla Traynor đây. Cô gọi cho tôi nhé? Càng sớm càng tốt”.

Tôi nhìn trân trân máy trả lời tự động. Tôi bật lại. Rồi tôi chạy vù lên cầu thang và lôi tuột Thomas ra khỏi chậu tắm nhanh tới nỗi thằng bé còn chẳng biết cái gì lôi mình. Nó đứng đó, khăn tắm quấn chặt quanh người như băng cuốn, còn Lou, loạng choạng và bối rối, đã xuống tới nửa cầu thang chợt quay lại nắm vai tôi.

“Nếu bà ấy ghét chị thì sao?”

“Giọng bà ấy không có vẻ gì là ghét chị”.

“Nhưng nếu đám nhà báo đang vây họ ở đó thì sao? Nếu họ nghĩ tất cả là lỗi của chị thì sao?” Mắt chị mở to sợ hãi. “Sẽ thế nào nếu bà ấy gọi để bảo anh ấy đã thực hiện xong rồi?”

“Ôi, vì Chúa, Lou. Một lần trong đời thôi, hãy bình tĩnh. Chị chưa gọi thì làm sao biết được điều gì. Gọi cho bà ấy. Cứ gọi đi. Chị chẳng có lựa chọn chết tiệt nào nữa đâu”.

Tôi quay lại phòng tắm để giải phóng cho Thomas. Tôi nhét nó vào bộ pyjama, bảo với nó rằng bà ngoại có một chiếc bánh quy cho nó nếu nó chạy thật nhanh vào bếp. Rồi tôi ló đầu ra khỏi cửa phòng tắm để nhìn chị tôi nghe điện thoại dưới sảnh.

Chị quay lưng lại phía tôi, một bàn tay vuốt tóc sau đầu. Chị đưa một bàn tay ra để trấn an bản thân.

“Vâng”, chị nói. “Tôi hiểu”. Rồi nói thêm, “Được rồi”.

Sau một khoảng ngừng, “Vâng”.

Chị nhìn xuống chân cả một phút sau khi gác máy.

“Sao rồi?” tôi nói.

Chị ngước nhìn lên như thể chị chỉ vừa mới nhìn thấy tôi ở đó, rồi chị lắc đầu.

“Không có chuyện gì liên quan tới báo chí cả”, chị nói, giọng chị vẫn đờ đẫn vì kinh ngạc. “Bà ấy đề nghị chị – cầu xin chị – tới Thụy Sỹ. Bà ấy đã đặt cho chị chuyến bay cuối cùng vào đêm nay”.

Chương 26

Nói cách khác, tôi nghĩ đây dường như là một con người khác của tôi, Lou Clark, cô gái mà trong hai mươi năm chẳng đi đâu xa hơn một chặng xe buýt ở thị trấn quê nhà, giờ đây sắp bay tới đất nước thứ ba trong vòng chưa đầy một tuần. Nhưng tôi xếp đồ vào chiếc túi du lịch nhỏ với tốc độ nhanh chóng hiệu quả của một nữ tiếp viên, chỉ mang theo những thứ thiết yếu nhất. Treena lặng lẽ chạy loanh quanh để bỏ vào những thứ khác mà nó nghĩ tôi sẽ cần, rồi chúng tôi đi xuống cầu thang. Chúng tôi dừng lại giữa đường. Bố mẹ đã có mặt sẵn trong hành lang, đứng cạnh nhau với vẻ đáng ngại thường thấy mỗi khi chúng tôi lẻn về nhà sau một đêm đi chơi khuya.

“Có chuyện gì vậy?” Mẹ nhìn chằm chằm vào chiếc túi của tôi.

Treena đã dừng lại trước mặt tôi.

“Lou đang đi Thụy Sỹ”, nó nói. “Chị ấy cần đi ngay bây giờ. Hôm nay chỉ còn một chuyến bay thôi”.

Chúng tôi chuẩn bị bước đi thì mẹ tiến lên.

“Không”. Miệng bà mím lại với vẻ kỳ cục, tay khoanh lại một cách khó chịu.

“Thật sự đấy. Mẹ không muốn con liên đới. Nếu đây đúng là điều mẹ đang nghĩ thì không được”.

“Nhưng…” Treena cất tiếng, liếc nhìn lại phía tôi.

“Không được”, mẹ nói, giọng mẹ cứng rắn lạ thường. “Không nhưng gì hết.

Mẹ đã nghĩ nhiều về chuyện này, về mọi điều con kể với mẹ. Nó sai trái. Sai đạo đức. Và nếu con mắc vào mớ bòng bong ấy, nếu con định giúp một người tự vẫn, thì có thể cuối cùng con sẽ vướng vào đủ thứ rắc rối”.

“Mẹ con nói đúng đấy”, bố nói.

“Bố mẹ đã xem trên bản tin. Chuyện này có thể ảnh hưởng tới cả cuộc đời con đấy, Lou. Việc phỏng vấn vào đại học, mọi thứ. Nếu con có tiền án, con sẽ không bao giờ có được bằng đại học hay công việc tốt hay bất cứ thứ gì…”

“Anh ấy đã đề nghị chị ấy tới. Chị ấy không thể cứ thế lờ anh ấy đi được”, Treena ngắt lời mẹ.

“Có chứ. Có, nó có thể. Nó đã dành sáu tháng cuộc đời cho cái gia đình ấy.

Và chuyện ấy đã cho nó bao nhiêu lợi lộc xét trên tình cảnh hiện nay. Chuyện ấy đã cho nhà này bao nhiêu lợi lộc, với đám người đập cửa và hàng xóm ai ai cũng nghĩ chúng ta đã lừa phỉnh được nhiều tiền bạc hay đại loại thế. Không, cuối cùng nó đã có cơ hội để làm việc gì đó cho bản thân, thế mà giờ họ lại muốn nó đi tới chốn chết chóc ấy ở Thụy Sỹ và dính dáng tới chuyện có trời mới hiểu. Mẹ nói không. Không, Louisa”.

“Nhưng chị ấy phải đi”, Treena nói.

“Không, nó không phải làm thế. Nó làm đủ rồi. Chính nó đã nói vậy đêm qua, nó đã làm mọi việc có thể”. Mẹ lắc đầu. “Bất kể rắc rối nào mà nhà Traynor định rước vào khi đi tới chỗ… chỗ… chỗ gì đó mà họ định đưa cậu con đẻ của họ tới, mẹ không muốn Louisa dính dáng tới. Mẹ không muốn nó phá hủy cả cuộc đời mình”.

“Con nghĩ con có thể tự quyết định”, tôi nói.

“Mẹ không chắc con có thể. Đó là bạn con, Louisa. Đó là một thanh niên với cả cuộc đời phía trước. Con không thể tham gia vào chuyện này được. Mẹ… mẹ kinh ngạc khi con thậm chí dám nghĩ đến nó”. Giọng mẹ gay gắt lạ thường. “Mẹ không nuôi dạy con để con giúp người khác tự vẫn! Con sẽ kết liễu cuộc đời ông ngoại ư? Con nghĩ chúng ta cũng nên xua ông ngoại tới Dignitas hả?”

“Ông ngoại là chuyện khác”.

“Không, chẳng khác gì. Ông không thể làm những việc ông vẫn làm. Nhưng cuộc đời ông quý giá. Cuộc đời Will cũng quý giá y như vậy”.

“Đây không phải là quyết định của con, mẹ ạ. Đây là quyết định của Will. Ý nghĩa của tất cả chuyện này là để ủng hộ Will”.

“Ủng hộ Will? Mẹ chưa bao giờ nghe cái gì ngu xuẩn như vậy. Con còn bé lắm, Louisa. Con chưa từng thấy gì, chưa làm được gì. Và con đâu biết chuyện này sẽ ảnh hưởng tới con thế nào. Nhân danh Chúa, làm sao con còn có thể ngủ mỗi đêm nếu con giúp cậu ấy làm chuyện này? Con sẽ giúp một người tìm đến cái chết đấy. Con có hiểu rõ điều đó không? Con sẽ giúp Will, cậu thanh niên thông minh lịch lãm ấy, tìm đến cái chết”.

“Con sẽ ngủ được vì con tin Will biết cái gì hợp lý với anh ấy, và vì điều tồi tệ nhất với anh ấy là đánh mất khả năng đưa ra một quyết định dù nhỏ nhất, tự làm một việc cho bản thân dù nhỏ nhất…” Tôi nhìn bố mẹ, cố làm họ hiểu. “Con không còn nhỏ nữa. Con yêu anh ấy. Con yêu anh ấy, và con không nên để anh ấy một mình, con không chịu được ý nghĩ không có mặt ở đó và không biết việc… việc anh ấy sắp…” Tôi nuốt khan. “Vậy đấy. Con đi đây. Con không cần bố mẹ thông cảm hay hiểu con. Con sẽ đối mặt với mọi chuyện. Nhưng con sẽ đi Thụy Sỹ – dù bố hay mẹ có nói gì đi nữa”.

Gian sảnh bé nhỏ trở nên yên lặng. Mẹ nhìn tôi chằm chằm như thể mẹ không hay biết tôi là ai. Tôi bước một bước tới gần bà, cố làm cho bà hiểu.

Nhưng khi tôi lại gần, bà lùi lại một bước.

“Mẹ à? Con nợ Will. Con nợ anh ấy chuyện đi tới đó. Mẹ nghĩ ai đã khiến con phải nộp đơn vào đại học? Mẹ nghĩ ai đã khuyến khích con làm điều gì đó cho chính bản thân, đi du lịch, có tham vọng? Ai đã thay đổi cách con nghĩ về mọi thứ? Thậm chí cả về bản thân con? Là Will đấy. Sáu tháng qua con đã làm được nhiều hơn, sống được nhiều hơn cả hai mươi bảy năm trước gộp lại. Thế nên nếu anh ấy muốn con đi Thụy Sỹ thì được, con sẽ đi. Bất kể hậu quả thế nào”.

Mọi người im lặng hồi lâu.

“Nó chẳng khác gì cô Lily cả”, bố nói khẽ.

Tất cả chúng tôi đứng yên, nhìn nhau chằm chằm. Bố và Treena liếc nhìn nhau, như thể mỗi người đang chờ người kia nói gì đó.

Nhưng mẹ phá vỡ im lặng. “Nếu con đi, Louisa, con không cần về nữa”.

Những từ ấy bay ra khỏi miệng bà như sỏi đá. Tôi nhìn mẹ kinh ngạc. Ánh mắt bà cứng rắn. Ánh mắt ấy căng lên khi bà quan sát phản ứng của tôi. Cứ như thể một bức tường tôi chưa bao giờ thấy chợt dựng đứng lên giữa chúng tôi.

“Mẹ à?”

“Mẹ nói thật đấy. Thế này chẳng khác gì sát nhân cả”.

“Josie…”

“Đó là sự thật, Bernard. Em không thể tham gia vào chuyện này”.

Tôi lơ đãng nghĩ rằng tôi chưa bao giờ thấy Katrina tỏ ra nao núng như lúc này. Tôi thấy bố đưa tay nắm cánh tay của mẹ, để chỉ trích hay để an ủi thì tôi không biết. Trong một thoáng đầu tôi trống rỗng. Rồi hầu như chẳng biết mình đang làm gì, tôi từ từ đi xuống cầu thang, lướt qua bố mẹ rồi ra cửa. Một giây sau, em gái đi theo tôi.

Khóe miệng bố xịu xuống, như thể bố đang cố kìm nén mọi thứ. Rồi bố quay sang mẹ, đặt một tay lên vai bà. Mắt bà kiếm tìm gương mặt ông, như thể bà đã biết ông sắp nói gì.

Rồi ông liệng chìa khóa của Treena. Nó bắt lấy bằng một tay.

“Này”, ông nói. “Đi ra bằng cửa sau, qua vườn nhà bà Doherty, lấy chiếc xe tải. Ngồi trong xe tải người ta không thấy được đâu. Nếu đi ngay và giao thông không quá tệ thì con sẽ tới kịp đấy”.

“Chị có biết tất cả chuyện này rồi sẽ dẫn tới đâu không?” Katrina nói.

Nó liếc ngang sang tôi khi chúng tôi phóng vù vù trên đường cao tốc.

“Không”.

Tôi không thể nhìn nó lâu – tôi đang sục sạo cái túi, cố nghĩ xem mình đã bỏ quên gì. Tôi cứ nghe vang vọng trong tai tiếng của bà Traynor. Louisa? Cô làm ơn tới nhé? Tôi biết chúng tôi rất lạ lùng, nhưng làm ơn… Cô đến ngay là chuyện vô cùng quan trọng.

“Chết tiệt. Em chưa bao giờ thấy mẹ như thế”, Treena tiếp tục.

Hộ chiếu, ví, chìa khóa. Chìa khóa? Để làm gì? Tôi đâu còn nhà nữa.

Katrina liếc sang tôi. “Ý em là giờ mẹ đang giận, nhưng chỉ tại mẹ sốc quá.

Chị biết rồi mẹ sẽ ổn cả thôi mà, phải không? Dạo em về nhà nói với mẹ rằng em có bầu, em cứ nghĩ mẹ sẽ không bao giờ nói chuyện với em nữa. Nhưng chỉ mất – mấy nhỉ – hai ngày là mẹ lại làm lành rồi”.

Tôi nghe nó nói lao xao bên cạnh, nhưng tôi không thật sự để ý. Tôi không tập trung được vào cái gì. Đầu mút dây thần kinh của tôi chừng như bật cả lên; chúng náo loạn với hình ảnh dự báo. Tôi đang tới gặp Will. Bất kể còn gì khác, đó vẫn là sự thật. Tôi hầu như có thể cảm thấy những dặm đường giữa chúng tôi rút lại, như thể chúng tôi đang ở hai đầu của một sợi dây đàn hồi vô hình nào đó.

“Treen?”

“Sao ạ?”

Tôi nuốt khan. “Đừng để chị lỡ chuyến bay này nhé”.

Em gái tôi quyết tâm hết sức. Chúng tôi giành đường, tăng tốc ở làn ngoài cùng, vượt quá tốc độ tối đa, và nghe đài để biết bản tin giao thông, rồi cuối cùng sân bay cũng hiện ra trong tầm mắt. Nó phanh két lại và tôi đang xuống xe thì nghe nó nói.

“Này! Lou!”

“Xin lỗi”. Tôi quay lại, chạy vài bước về phía nó.

Nó ôm tôi, thật chặt. “Chị đang làm đúng đấy”, nó nói. Nó nhìn như sắp khóc. “Giờ thì đi đi. Nếu chị lỡ chuyến bay chết tiệt đó sau khi em nhận sáu lỗ trên bằng lái thì em sẽ không bao giờ nói chuyện với chị nữa”.

Tôi không quay lại. Tôi chạy như bay tới bàn của hãng Hàng không Thụy Sỹ, và tôi phải nói tên ba lần mới đủ rõ ràng để được nhận vé.

Quá nửa đêm một chút, tôi tới Zurich. Vì đêm quá khuya, bà Traynor làm đúng như đã hứa là thuê cho tôi một phòng khách sạn trong sân bay và bảo bà sẽ đưa xe đến đón tôi vào chín giờ sáng. Tôi đã nghĩ tôi sẽ không ngủ được, nhưng tôi ngủ – một giấc ngủ chập chờn mộng mị quỷ quái suốt nhiều giờ, rồi thức dậy lúc bảy giờ sáng mà chẳng biết mình đang ở đâu.

Tôi chếnh choáng nhìn quanh căn phòng xa lạ, nhìn những tấm rèm nặng trịch màu đỏ đun được thiết kế để chặn hết ánh sáng, nhìn chiếc ti-vi màn hình phẳng lớn, nhìn chiếc túi du lịch mà tôi thậm chí không buồn dỡ ra. Tôi kiểm tra đồng hồ, lúc này theo giờ Thụy Sỹ là bảy giờ hơn. Và khi nhận ra mình đang ở đâu, tôi đột nhiên thấy lòng mình thắt lại vì sợ hãi.

Tôi bò ra khỏi giường vừa kịp lúc để nôn trong phòng tắm nhỏ. Tôi khuỵu xuống sàn gạch, tóc tôi bê bết quanh trán, má tôi áp vào tấm sứ lạnh lẽo. Tôi nghe thấy tiếng mẹ, sự phản đối của bà, và tôi cảm thấy một nỗi sợ tăm tối lan tỏa trong lòng. Tôi không sẵn sàng đối mặt với chuyện này. Tôi không muốn thất bại lần nữa. Tôi không muốn phải nhìn Will chết. Tôi lại gượng dậy, nôn thốc tháo ầm ĩ.

Tôi không ăn được. Tôi cố gắng nuốt được một tách cà-phê đen, tắm rồi mặc đồ, tới tám giờ thì xong xuôi. Tôi nhìn bộ váy xanh lá nhạt tôi nhét vào túi tối qua và tự khỏi không biết nó có phù hợp với nơi tôi sắp tới. Mọi người sẽ mặc đồ đen cả à? Tôi có nên mặc thứ gì đó tươi sáng và sống động hơn, ví như chiếc váy đỏ mà tôi biết Will rất thích? Sao bà Traynor lại gọi tôi tới đây? Tôi kiểm tra điện thoại di động, băn khoăn không biết có nên gọi cho Katrina không. Giờ ở nhà là bảy giờ sáng. Nhưng có lẽ nó đang mặc đồ cho Thomas, và ý nghĩ nói chuyện với mẹ thật quá sức chịu đựng. Tôi trang điểm một chút, rồi ngồi xuống bên cửa sổ, thời gian chầm chậm trôi qua.

Chưa bao giờ tôi cô đơn tới vậy trong đời.

Khi không chịu đựng được phải ngồi trong căn phòng bé tí này thêm nữa, tôi quẳng mọi thứ còn lại vào túi rồi đi ra. Tôi định mua một tờ báo và đứng đợi ở hành lang. Như thế không thể tệ hơn ngồi trong căn phòng tối đen sau những tấm rèm với sự im ắng hoặc với tiếng từ kênh thông tin vệ tinh. Tôi sắp đi qua quầy tiếp tân thì thấy chiếc máy tính, đặt gọn gàng trong một góc. Trên đó có đề: Cho khách sử dụng. Vui lòng hỏi ở quầy tiếp tân.

“Tôi dùng máy tính được không?” tôi nói với cô tiếp tân.

Cô gật đầu, và tôi mua vé dùng một giờ. Đột nhiên tôi biết rất rõ mình muốn nói chuyện với ai. Từ trong lòng tôi biết anh là một trong số ít những người tôi có thể tin tưởng nói chuyện trên mạng vào lúc này. Tôi đăng nhập vào chat room và gõ vào ô tin nhắn:

Ritchie. Anh có đó không?

Chào buổi sáng. Ong. Hôm nay cô lên mạng sớm thế?

Tôi chần chừ một chút rồi gõ tiếp:

Tôi sắp bắt đầu một ngày kỳ lạ nhất trong đời. Tôi đang ở Thụy Sỹ.

Anh ấy hiểu điều đó có nghĩa gì. Tất cả bọn họ đều hiểu điều đó có nghĩa gì.

Bệnh viện đó là chủ đề của rất nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng. Tôi gõ: Tôi sợ lắm.

Thế tại sao cô lại ở đấy?

Vì tôi không thể không tới. Anh ấy yêu cầu tôi. Tôi đang ở trong khách sạn chờ tới gặp anh ấy.

Tôi ngập ngừng, rồi gõ tiếp:

Tôi không biết ngày hôm nay sẽ kết thúc thế nào.

Ôi, Ong.

Tôi phải nói gì với anh ấy? Làm sao tôi thay đổi được quyết định của anh ấy?

Trì hoãn một lúc lâu anh mới gõ tiếp. Chữ của anh xuất hiện trên màn hình chậm hơn bình thường, như thể anh đang rất thận trọng.

Nếu anh ấy đã ở Thụy Sĩ, Ong, tôi không nghĩ anh ấy sẽ thay đổi quyết định đâu.

Tôi thấy cục nghẹn to tướng dâng lên trong cổ, tôi vội nuốt xuống. Richie đang gõ tiếp.

Đó không phải lựa chọn của tôi. Đó không phải lựa chọn của hầu hết chúng tôi trong website này. Tôi yêu cuộc sống của mình, dù tôi mong nó đã khác.

Nhưng tôi hiểu tại sao bạn cô lại thấy thế là đủ rồi. Mệt mỏi lắm, khi phải sống cuộc đời này, mệt mỏi theo cái cách mà AB không bao giờ hiểu thấu. Nếu anh ấy đã quyết định, nếu anh ấy đã thực sự không thể thấy một con đường để mọi thứ tốt lên với anh ấy, thì tôi nghĩ điều tốt nhất cô làm được chỉ là có mặt ở đó.

Cô không phải nghĩ xem anh ấy có đúng không. Nhưng cô phải có mặt ở đó.

Tôi nhận ra mình đang nín thở.

Chúc may mắn, Ong. Sau đó tới thăm tôi nhé. Sau chuyện ấy, có thể mọi thứ sẽ trở nên hơi khó khăn cho cô. Dù có chuyện gì đi nữa, tôi vẫn muốn có một người bạn như cô.

Ngón tay tôi vẫn lơ lửng trên bàn phím. Tôi gõ:

Tôi sẽ tới.

Đúng lúc đó cô tiếp tân bảo tôi rằng xe của tôi đã tới bên ngoài.

Tôi không biết mình mong đợi gì – có lẽ là một tòa nhà trắng đứng bên hồ hoặc trên ngọn núi tuyết phủ. Có lẽ là một mặt tiền ốp đá đúng kiểu bệnh viện với một tấm biển mạ đồng treo trên tường. Tôi không ngờ là phải lái xe qua một khu công nghiệp cho tới khi đến một nơi trông chẳng khác gì một ngôi nhà bình thường, bao bọc xung quanh là nhà máy, và thật kỳ lạ là cả một sân bóng. Tôi băng qua thềm, vượt qua một bể cá vàng, rồi vào trong.

Người phụ nữ mở cửa biết ngay tôi tới tìm ai. “Anh ấy ở đây. Cô có muốn tôi chỉ cho không?”

Khi đó tôi đứng chôn chân. Tôi nhìn trân trân vào cánh cửa đóng im ỉm, giống một cách lạ lùng với cánh cửa trong khu nhà phụ của Will mà tôi đã đứng bên ngoài suốt mấy tháng qua, tôi hít một hơi thật sâu. Rồi gật đầu.

Tôi thấy chiếc giường trước khi thấy anh; nó choán lấy căn phòng bằng chất gỗ gụ, bằng đống chăn gối in hoa lạ mắt chẳng hề ăn nhập gì với nó. Ông Traynor ngồi một bên, bà Traynor ngồi bên kia.

Trông bà xanh xao phờ phạc, bà đứng dậy khi trông thấy tôi. “Louisa”.

Georgina ngồi trên chiếc ghế gỗ trong góc phòng, cúi gập xuống đầu gối, hai tay áp vào nhau như đang cầu nguyện. Cô nhấc mắt lên khi tôi bước vào, để lộ đôi mắt thâm quầng, đỏ ngầu nỗi buồn đau, và trong một thoáng tôi thấy thương cảm cho cô.

Tôi sẽ làm gì nếu Katrina cứ khăng khăng rằng nó có quyền làm việc tương tự?

Căn phòng sáng sủa thoáng đãng, giống như một phòng sinh hoạt của gia đình thượng lưu. Sàn nhà lát gạch, trải thảm đắt giá, cuối phòng có một bộ sofa hướng ra khu vườn nhỏ. Tôi chẳng biết phải nói gì. Quả là một cảnh tượng trần tục vô cùng kỳ quái, ba người họ ngồi đó, như thể là một gia đình đang cố nghĩ xem hôm nay nên đi tham quan ở đâu.

Tôi quay về phía giường. “À”, tôi nói, túi xách vẫn ở trên vai, “tôi cho rằng dịch vụ phòng không được tốt lắm phải không?”

Ánh mắt Will khóa mắt tôi, và bất chấp mọi thứ, bất chấp mọi nỗi sợ hãi, sự thật rằng tôi đã nôn hai lần, rằng tôi cảm thấy như đã không ngủ cả năm nay, tôi bất chợt thấy vui vì đã đến. Không phải vui, mà là nhẹ nhõm. Như thể tôi đã cắt bỏ được phần đau đớn, muộn phiền trong bản thân, vứt nó đi.

Rồi anh mỉm cười. Thật đáng yêu, nụ cười của anh – chầm chậm, đầy nhận thức.

Thật kỳ lạ, tôi thấy mình mỉm cười lại. “Phòng đẹp quá”, tôi nói, rồi đột nhiên nhận ra đó là một bình luận ngớ ngẩn. Tôi thấy Georgina Traynor nhắm mắt, và tôi đỏ mặt.

Will quay sang mẹ anh. “Con muốn nói chuyện với Lou. Được không ạ?”

Bà cố mỉm cười. Tôi thấy một triệu điều trong ánh mắt bà nhìn tôi khi ấy – nhẹ nhõm, biết ơn, một thoáng cay đắng vì phải đứng ngoài trong những phút ngắn ngủi ấy, có lẽ thậm chí còn có chút hy vọng rằng sự xuất hiện của tôi sẽ mang ý nghĩa gì đó, rằng số phận này có thể sẽ rẽ ngoặt.

“Tất nhiên rồi”.

Bà đi qua tôi ra hành lang, và khi tôi đứng tránh cửa để bà đi qua, bà đưa tay ra chạm vào bắp tay tôi, chỉ thật nhẹ. Mắt chúng tôi chạm nhau, đôi mắt bà thật dịu tới nỗi trong một thoáng trông bà giống như một người hoàn toàn khác, rồi bà quay đi.

“Đi nào, Georgina”, bà nói, khi thấy cô con gái không nhúc nhích.

Georgina từ từ đứng dậy và lặng lẽ đi ra, chính tấm lưng cô cho thấy sự miễn cưỡng của cô.

Rồi chỉ còn lại hai chúng tôi.

Will được kê cao người trên giường, đủ để nhìn được ra ô cửa sổ bên trái, nơi đài phun trong khu vườn nhỏ róc rách tuôn một dòng nước sạch xuống cái bể bên dưới. Trên tường treo một bức tranh hoa thược dược đóng trong cái khung xộc xệch. Tôi nghĩ đó quả là bức tranh quá nhếch nhác khi phải ngắm vào những giờ cuối của cuộc đời.

“Thế…”

“Em không định…”

“Em không định thay đổi quyết định của anh”.

“Em tới đây tức là em đã chấp nhận lựa chọn của anh. Đây là điều đầu tiên nằm trong tầm kiểm soát của anh kể từ vụ tai nạn”.

“Anh hiểu”.

Thế đấy. Anh hiểu, và tôi cũng hiểu. Chẳng còn gì để tôi làm.

Bạn có biết không nói gì là chuyện khó khăn tới mức nào không? Khi mà từng tế bào trong cơ thể khao khát làm điều ngược lại? Tôi đã luyện để không nói gì trên suốt cả chặng bay, thế mà giờ đây điều ấy vẫn bóp ngạt tôi. Tôi gật đầu. Khi cuối cùng cũng cất tiếng, giọng tôi thều thào, vụn vỡ. Câu thốt ra là câu duy nhất tôi có thể nói một cách an toàn.

“Em nhớ anh”.

Khi ấy anh có vẻ thư giãn. “Lại đây em”. Rồi khi tôi lưỡng lự. “Làm ơn. Lại đây nào. Ngay đây, trên giường. Ngay bên cạnh anh”.

Lúc ấy tôi nhận ra rằng có sự nhẹ nhõm thật sự trong biểu hiện của anh. Anh vui khi nhìn thấy tôi theo cách mà anh sẽ không bao giờ có thể nói ra. Và tôi tự nhủ phải xem như vậy là đủ. Tôi sẽ làm điều anh đã yêu cầu. Và sẽ phải xem như thế là đủ.

Tôi nằm xuống bên cạnh anh, vòng tay qua người anh. Tôi ngả đầu lên ngực anh, để cơ thể mình tiếp nhận từng đợt dâng lên hạ xuống nhẹ nhàng của nó. Tôi có thể cảm nhận đầu ngón tay Will ấn nhẹ vào lưng mình, hơi thở anh ấm áp trên mái tóc. Tôi nhắm mắt lại, hít vào hương cơ thể anh, vẫn giống mùi gỗ tuyết tùng đắt đỏ, bất chấp không khí mới lạ dịu nhẹ của căn phòng, mùi nước tẩy trùng thoang thoảng bên dưới. Tôi cố không nghĩ tới điều gì. Tôi chỉ cố hết sức, cố thẩm thấu qua khứu giác người đàn ông tôi yêu, cố in dấu những gì tôi bỏ sót ở anh lên cơ thể mình. Tôi không nói. Rồi tôi nghe tiếng anh. Tôi gần sát anh tới nỗi tiếng nói của anh dường như nhẹ nhàng thẩm thấu qua cơ thể tôi.

“Này, Clark”, anh nói. “Kể anh nghe chuyện gì vui vui”.

Tôi đưa mắt ra ngoài cửa sổ nhìn bầu trời Thụy Sỹ xanh sáng và tôi kể anh câu chuyện về hai người. Hai người không nên gặp nhau, hai người chẳng ưa gì nhau khi mới gặp, nhưng họ thấy mỗi người trong họ là người duy nhất trên đời có thể hiểu được người kia. Và tôi kể với anh về những chuyến phiêu lưu của họ, về những nơi họ từng đến, về những thứ tôi được tận mắt nhìn thấy mà tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng đến. Tôi gợi cho anh nhớ lại những bầu trời đầy sấm chớp và những vùng biển long lanh ngũ sắc và những đêm ngập tiếng cười cùng những câu đùa ngộ nghĩnh. Tôi vẽ ra trước mắt anh một thế giới, một thế giới cách xa một khu công nghiệp Thụy Sỹ, một thế giới mà trong đó ít nhiều anh vẫn là con người như anh hằng mong ước. Tôi vẽ ra thế giới anh đã vạch đường cho tôi, đầy những điều kỳ diệu và khả năng. Tôi để anh biết một nỗi đau đã được chữa lành theo một cách mà anh không bao giờ biết được, và chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ khiến một phần trong tôi luôn mang nợ anh. Khi nói, tôi biết đây sẽ là những lời quan trọng nhất tôi từng nói trong đời, và điều quan trọng đó là những lời chân thật, chúng không mang tính truyền bảo, không phải một nỗ lực thay đổi quyết định của anh, mà chỉ để bày tỏ lòng trân trọng với những điều Will từng nói.

Tôi kể cho anh chuyện vui vui.

Thời gian chậm lại, cô đọng. Chỉ còn hai chúng tôi, và tôi lẩm bẩm trong căn phòng trống trơn ngập nắng. Will không nói nhiều. Anh không trả lời, không bình luận châm chọc, cũng không cười giễu. Thỉnh thoảng anh gật đầu, đầu anh áp vào đầu tôi, và thì thầm, hoặc khẽ thốt lên một tiếng thể hiện niềm thỏa mãn trước một ký ức đẹp đẽ nữa.

“Đó đã là”, tôi nói với anh, “sáu tháng tốt đẹp nhất trong cuộc đời em”.

Im lặng hồi lâu.

“Buồn cười thật, Clark, với anh cũng thế”.

Thế rồi, chỉ vậy thôi, trái tim tôi tan vỡ. Mặt tôi nhăn nhúm, sự bình tĩnh tan biến, tôi ghì chặt anh, tôi không còn bận tâm rằng anh có thể cảm nhận cơn thổn thức từ cơ thể tôi bởi lẽ nỗi đau đã phủ chụp lấy tôi. Nó nhấn chìm tôi, xé nát trái tim, cõi lòng và trí não tôi, nó đè nghiến tôi, và tôi không chịu nổi. Tôi thực sự nghĩ tôi không chịu nổi.

“Đừng, Clark”, anh thì thầm. Tôi cảm thấy môi anh trên tóc tôi. “Ôi, xin em.

Đừng. Nhìn anh này”.

Tôi nhắm nghiền mắt và lắc đầu.

“Nhìn anh đi. Xin em đấy”.

Tôi không thể.

“Em đang giận. Làm ơn. Anh không muốn làm em đau hay khiến em…”

“Không…” Tôi lại lắc đầu. “Không phải thế. Em không muốn…” Tôi áp má vào ngực anh. “Em không muốn thứ cuối cùng anh nhìn thấy là khuôn mặt khổ sở vẹo vọ đầy tàn nhang của em”.

“Em vẫn không hiểu, phải không Clark?” Tôi nghe thấy nụ cười trong tiếng anh. “Đây không phải lựa chọn của em”.

Một hồi lâu sau tôi mới bình tĩnh lại. Tôi hỉ mũi, hít một hơi thật sâu. Cuối cùng, tôi chống người lên khuỷu tay, và tôi nhìn lại anh. Đôi mắt anh, vốn nhọc nhằn và bất hạnh quá lâu, trông bình thản và thư thái lạ thường.

“Em đẹp vô cùng”.

“Buồn cười thật”.

“Lại đây”, anh nói. “Ngay cạnh anh”.

Tôi lại nằm xuống, đối mặt với anh. Tôi thấy chiếc đồng hồ phía trên cánh cửa và đột nhiên có cảm giác thời gian đã hết. Tôi cầm cánh tay anh, vòng thật chặt quanh tôi, siết chân tay tôi quanh người anh để hai chúng tôi quấn nhau thật chặt. Tôi cầm tay anh – bàn tay phải cử động được – và cài các ngón tay tôi vào các ngón tay anh, hôn những khớp tay khi tôi cảm thấy anh siết tay mình.

Giờ đây cơ thể anh đã quá thân thuộc với tôi. Tôi quen với nó theo cách mà tôi chưa bao giờ quen với cơ thể Patrick – sức mạnh cũng như sự dễ tổn thương ở nó, những vết sẹo và mùi hương. Tôi để mặt mình sát mặt anh đến mức đường nét của anh trở nên mờ ảo, và tôi lại bắt đầu lạc mình trong đó. Tôi đưa mấy đầu ngón tay nhẹ nhàng vuốt tóc anh, da anh, chân mày anh, nước mắt vô tình rơi xuống má tôi, mũi tôi áp vào mũi anh, và trong khi đó anh lặng lẽ nhìn tôi, quan sát tôi một cách chăm chú như thể đang cất giữ từng tế bào trên cơ thể tôi. Anh đã rút lui, ẩn vào một nơi tôi không với tới.

Tôi hôn anh, cố đưa anh trở lại. Tôi hôn anh và đặt môi tôi thật yên trên môi anh để hơi thở của chúng tôi hòa quyện và dòng lệ từ mắt tôi trở thành muối trên da anh, tôi tự nhủ rằng ở một nơi nào đó, những mảnh nhỏ xíu của anh sẽ trở thành những mảnh nhỏ xíu của tôi, nhai, nuốt, sống động, vĩnh hằng. Tôi muốn ấn từng chút một của cơ thể mình lên anh. Tôi muốn áp đặt thứ gì đó vào anh. Tôi muốn cho anh từng mảnh sự sống tôi cảm nhận và bắt anh phải sống.

Tôi nhận ra mình sợ phải sống thiếu anh. Sao anh lại có quyền phá hủy cuộc sống của em, tôi muốn gặng hỏi anh, mà em lại không được nhúng tay vào cuộc sống của anh?

Nhưng tôi đã hứa.

Thế nên tôi ôm anh, Will Traynor, thần đồng thành phố một thời, tay đua xe cự phách một thời, vận động viên, nhà du thám, người yêu. Tôi ôm ghì anh, không nói gì, nhưng lại lặng thầm nói mãi với anh rằng anh được yêu. Ôi, nhưng anh được yêu.

Tôi không biết chúng tôi nằm như thế bao lâu. Tôi lờ mờ nghe cuộc trò chuyện khe khẽ bên ngoài, nghe tiếng giày sột soạt, tiếng chuông nhà thờ ngân từ một nơi nào xa xăm. Cuối cùng tôi nghe anh thở hắt ra, gần như rùng mình, rồi anh ngửa đầu ra một chút để chúng tôi có thể nhìn rõ nhau.

Tôi chớp mắt nhìn anh.

Anh khẽ mỉm cười với tôi, gần như một lời xin lỗi.

“Clark”, anh nói khẽ. “Em gọi bố mẹ anh vào được không?”

Chương 27

HỘI ĐỒNG CÔNG TỐ HOÀNG GIA

Kính gửi: Viện trưởng Viện Công tố

Báo cáo mật

Về: William John Traynor

4.9.2009

Cảnh sát điều tra đã phỏng vấn mọi người liên đới tới trường hợp kể trên, và tôi đính kèm theo đây hồ sơ chứa mọi tài liệu liên quan.

Đối tượng trung tâm của cuộc điều tra là ông William Traynor, 35 tuổi, cựu thành viên của hãng Madingley Lewins, trụ sở đặt tại thành phố London. Ông Traynor bị tổn thương cột sống sau tai nạn giao thông năm 2007 và đã được chẩn đoán bị liệt tứ chi mức C5/6 với cử động hạn chế, chỉ ở một cánh tay, cần được chăm sóc 24/24. Bệnh sử của ông được đính kèm.

Hồ sơ cho thấy rằng ông Traynor đã nỗ lực tối đa để hợp thức hóa tình trạng pháp lý trước khi ông đi sang Thụy Sỹ. Chúng tôi đã được luật sư của ông, ông Michael Lawler, chuyển tiếp một đơn bày tỏ nguyện vọng có chữ ký và chứng nhận của nhân chứng, cùng với bản photo của mọi tài liệu làm bằng chứng thích hợp có liên quan tới những thảo luận từ trước của ông với bệnh viện Dignitas.

Cả gia đình và bạn bè ông Traynor đều bày tỏ sự phản đối với ước nguyện đã tuyên bố của ông về việc kết thúc vĩnh viễn cuộc sống, nhưng vì bệnh sử và những nỗ lực trước đó với cuộc sống của chính ông (chi tiết trong bệnh án đính kèm), tính cách thông minh và mạnh mẽ của ông, họ rõ ràng đã không thể can ngăn ông, ngay cả trong giai đoạn sáu tháng kéo dài vốn được đặc biệt thỏa thuận với ông vì mục đích này.

Lưu ý rằng một trong những người hưởng tài sản theo di chúc của ông Traynor là người chăm sóc được ông thuê, cô Louisa Clark. Vì thời gian hợp tác ngắn ngủi giữa cô với ông Traynor, có thể sẽ có một số câu hỏi được đặt ra liên quan tới sự hào phóng của ông đối với cô, nhưng tất cả các bên đều cho biết họ không muốn tranh luận về những mong muốn đã công bố của ông Traynor, đó là những tài liệu hợp pháp. Cô đã được phỏng vấn nhiều lần và cảnh sát hài lòng khi biết cô đã nỗ lực hết sức để ngăn cản ý định của ông (hãy xem ‘lịch phiêu lưu’ đính kèm làm bằng chứng).

Cũng cần phải lưu ý rằng bà Camilla Traynor, mẹ ông, vốn là một quan tòa đáng kính trong nhiều năm, đã trình đơn thôi việc trước dư luận xung quanh vụ việc. Dễ hiểu vì sao bà và ông Traynor sớm chia tay sau cái chết của con trai.

Dù sử dụng dịch vụ trợ tử ở bệnh viện nước ngoài không phải là điều CPS

(Hội đồng Công tố Hoàng gia) xem xét khuyến khích, nhưng đánh giá những bằng chứng đã thu thập được, rõ ràng là hành động của gia đình và những người chăm sóc ông Traynor phù hợp với những nguyên tắc hiện hành đã được đặt ra liên quan tới vấn đề trợ tử và vấn đề truy tố những người liên quan tới người đã chết.

1. Ông Traynor được đánh giá là có đủ năng lực pháp lý và có một mong muốn “tự nguyện, trong sạch, kiên quyết, và được thông tin đầy đủ” để thực hiện quyết định đó.

2. Không có bằng chứng về bệnh lý tâm thần, cũng như về sự ép buộc dù ở mức độ nào.

3. Ông Traynor đã bày tỏ một cách rõ ràng rằng ông mong muốn tự tử.

4. Bệnh tình của ông Traynor rất nặng và vô phương cứu chữa.

5. Những hành động hộ tống ông Traynor chỉ là những hỗ trợ hoặc tác động không đáng kể.

6. Những hành động hộ tống ông Traynor có thể được xem là hỗ trợ miễn cưỡng khi phải đối mặt với ý muốn kiên định từ phía nạn nhân.

7. Tất cả các bên liên quan đều đã hỗ trợ hết sức cho cảnh sát điều tra vụ việc này.

Vì những điều đã liệt kê trên đây, vì phẩm chất tốt vốn có của tất cả các bên, và vì bằng chứng đính kèm, tôi đề nghị không phục vụ tính hiếu kỳ của báo chí bằng cách theo đuổi kiện cáo trong vụ việc này.

Tôi gợi ý rằng nếu có tuyên bố công khai nào được đưa ra nhằm mục đích kể trên, Giám đốc Viện Kiểm sát Anh hãy làm rõ rằng vụ Traynor không đặt ra tiền lệ nào, và CPS sẽ tiếp tục đánh giá từng trường hợp với những sự kiện và hoàn cảnh riêng của nó.

Trân trọng

Sheilagh Mackinnon

Hội đồng Công tố Hoàng Gia

Phần kết

Tôi đang theo đúng chỉ dẫn.

Tôi ngồi dưới bóng mái hiên xanh thẫm của quán cà-phê, nhìn ra con đường Rue des Francs Bourgeois thênh thang, ánh nắng nhạt nhòa của mùa thu Paris sưởi ấm một bên mặt tôi. Trước mặt tôi, người phục vụ mang phong cách Gô-loa đặt xuống một đĩa bánh sừng bò và một tách cà-phê pha phin lớn. Cách hai trăm mét dưới đường, hai người đi xe đạp dừng lại gần đèn tín hiệu giao thông và bắt chuyện với nhau. Một người đeo chiếc ba-lô màu xanh thò ra hai cái bánh mì dài lớn tạo thành những góc ngộ nghĩnh. Không khí tĩnh và nồm mang hương cà-phê và bánh ngọt và mùi thuốc lá hăng hăng của ai đó.

Tôi đọc xong thư của Treena (nó bảo lẽ ra nó phải gọi điện, nhưng nó không trả được tiền cước quốc tế). Nó xếp thứ nhất cả năm lớp Kế toán 2 và có bạn trai mới, Sundeep, anh chàng đang cố nghĩ xem có nên làm cho công ty xuất nhập khẩu của bố cậu ở Heathrow, và cậu có gu âm nhạc còn dở tệ hơn cả Treena.

Thomas sướng như điên khi được lên lớp ở trường. Bố chúng tôi vẫn làm việc rất tốt, ông nhắn gửi tình yêu thương đến tôi. Nó khá chắc là mẹ sẽ sớm tha thứ.

Mẹ chắc chắn đã nhận được thư chị, nó nói. Em biết mẹ đọc rồi. Cho mẹ thêm thời gian.

Tôi nhấp một ngụm cà-phê, chợt nhớ về phố Renfrew và một mái gia đình chừng như cách xa hàng triệu dặm. Tôi ngồi đó, hơi nheo mắt trước ánh nắng nhẹ, quan sát một phụ nữ đeo kính râm đang sửa sang mái tóc trước tấm gương là khung kính của một cửa hiệu. Cô mím môi trước hình ảnh phản chiếu của mình, thẳng người lên một chút, rồi tiếp tục bước xuống đường.

Tôi đặt tách xuống, hít một hơi thật sâu rồi cầm lá thư khác lên, lá thư tôi mang bên mình tới nay đã gần sáu tuần.

Trên mặt trước phong bì, dưới tên tôi là dòng chữ in hoa:

CHỈ ĐỌC Ở QUÁN CÀ-PHÊ MARQUIS,

RUE DES FRANCS BOURGEOIS,

BÊN CẠNH LÀ BÁNH SỪNG BÒ

VÀ MỘT TÁCH CAFÉ CRÈME CỠ ĐẠI

Tôi đã bật cười, dù nước mắt rơi lã chã, khi lần đầu đọc chiếc phong bì này – tính cách điển hình của Will, ông chủ tới phút cuối cùng.

Người bồi bàn – một anh chàng cao ráo nhanh nhẹn có cả tá mẩu giấy nhớ dán trên phần ngực chiếc tạp dề quay lại và bắt gặp mắt tôi. Cái nhướng mày của anh như muốn hỏi, Ổn cả chứ?

“Vâng”, tôi nói. Rồi hơi e dè, “Oui”.

Bức thư được đánh máy. Tôi nhận ra phông chữ trên tấm thiệp anh đã gửi cho tôi dạo trước. Tôi dựa lưng vào ghế và bắt đầu đọc.

Clark,

Tới lúc em đọc lá thư này thì chắc đã qua mấy tuần rồi (dù với những kỹ năng tổ chức mới có của em, anh ngờ là em không thể tới được Paris trước đầu tháng Chín). Anh hy vọng cà-phê ngon và mạnh còn bánh sừng bò thì tươi, và thời tiết vẫn đủ nắng để ngồi bên ngoài trên một trong những chiếc ghế kim loại không bao giờ phẳng mặt đặt ngoài vỉa hè. Nó không tệ đâu, quán Marquis ấy mà. Bít-tết bò cũng ngon, nếu em thích quay lại ăn trưa. Và nếu em nhìn xuống đường về phía bên trái, hi vọng rằng em sẽ nhìn thấy L’Artisan Parfumeur, sau khi đọc xong lá thư này em nên tới đó để thử mùi hương hình như mang tên Papillons Extrême (không nhớ rõ nữa). Anh cứ luôn nghĩ em mà xức mùi ấy thì tuyệt lắm.

Được rồi, chỉ dẫn chừng ấy thôi. Lúc trước có nhiều điều anh muốn nói với em và đã nói trực tiếp với em, nhưng a) em bực bội lắm và b) em sẽ không chịu để anh nói ra hết tất cả những điều này đâu. Em lúc nào cũng nói quá nhiều.

Thế nên nghe này: tờ ngân phiếu em nhận trong chiếc phong bì đầu tiên từ Michael Lawler không phải là toàn bộ tiền đâu, đó chỉ là một món quà nhỏ, để giúp em vượt qua những tuần thất nghiệp đầu tiên, và để đưa em tới Paris.

Khi trở lại Anh, em mang lá thư này tới cho Michael tại văn phòng của ông ấy ở London và ông ấy sẽ đưa cho em những giấy tờ liên quan để em nhận được một tài khoản mà ông ấy đã lập cho anh dưới tên em. Tài khoản này đủ cho em mua một chỗ nào đó xinh đẹp để sống, cho em trả tiền học phí và trang trải cuộc sống trong khi dành hết thời gian vào việc học.

Bố mẹ anh sẽ được thông báo đầy đủ về chuyện đó. Anh hy vọng rằng điều này, cộng với công việc pháp lý của Michael Lawler, sẽ đảm bảo có ít rắc rối nhất có thể.

Clark, từ đây anh có thể nghe thấy em bắt đầu thở dài thườn thượt. Đừng sợ hãi, cũng đừng cố vứt bỏ nó đi – nó không đủ để em ngồi chơi xơi nước suốt phần đời còn lại đâu. Nhưng có lẽ nó mua được cho em sự tự do, vừa thoát khỏi cái thị trấn nhỏ xíu ngột ngạt mà hai ta cùng gọi là quê nhà ấy, vừa thoát khỏi những kiểu lựa chọn mà em luôn cảm thấy mình phải đưa ra.

Anh đưa tiền cho em không phải vì anh muốn em biết ơn, hay mang nợ anh, hay cảm thấy nhớ nhung hoài niệm gì hết.

Anh đưa cho em thứ này vì nó chẳng còn làm anh hạnh phúc được chút nào nữa, nhưng với em thì có.

Anh biết rằng quen biết anh khiến em đau đớn, muộn phiền, anh hy vọng rằng một ngày nào đó khi em bớt giận anh và bớt buồn, em sẽ không chỉ nghĩ tới chuyện anh chỉ có thể làm cái việc anh đã làm, mà em còn nghĩ rằng thứ này sẽ giúp em có một cuộc đời thật tốt, một cuộc đời tốt hơn so với cuộc đời mà em không gặp anh.

Em sẽ cảm thấy không thoải mái trong thế giới mới của em trong một thời gian. Bao giờ bị bắn ra khỏi không gian quen thuộc của mình ta cũng cảm thấy thế thôi. Nhưng anh hy vọng em cũng cảm thấy một chút vui sướng. Gương mặt em khi em đi lặn về hôm đó đã nói với anh tất cả: có một nỗi khao khát trong em. Clark. Một lòng dũng cảm. Chỉ có điều em đã vùi chôn nó, như hầu hết mọi người.

Anh không định bảo em nhảy xuống từ những tòa nhà chọc trời, hay bơi cùng cá voi hay đại loại thế (dù anh thầm thích nghĩ rằng em sẽ làm những trò ấy), mà hãy sống thật mạnh mẽ. Nâng mình lên. Đừng dừng lại. Mặc những chiếc quần sọc ấy với niềm kiêu hãnh. Và nếu em cứ nhất định sống đời với một gã lố bịch nào đấy, hãy đảm bảo những chuyện này đã được cất giấu vào đâu đó. Biết em vẫn có những khả năng là một điều vô cùng quý giá. Biết có lẽ anh đã mang lại những khả năng ấy cho em đã làm dịu vợi tâm hồn anh.

Và chính là như vậy. Em đã chiếm trọn trái tim anh. Em đã làm được điều đó ngay từ ngày đầu em bước chân vào, với bộ đồ kỳ cục và những câu đùa ngốc nghếch và khả năng che giấu cảm xúc trong lòng bằng con số không. Em đã thay đổi cuộc đời anh nhiều hơn rất nhiều so với khoản tiền này có thể thay đổi cuộc đời em.

Đừng nghĩ về anh quá nhiều. Anh không muốn nghĩ tới cảnh em sụt sùi sướt mướt. Hãy sống tốt nhé.

Hãy sống.

Yêu em,

Will

Một giọt nước mắt rơi xuống chiếc bàn mỏng manh trước mặt tôi. Tôi đưa lòng bàn tay lau má rồi đặt lá thư xuống bàn. Mất mấy phút mắt tôi mới nhìn lại rõ ràng được.

“Một tách cà-phê nữa nhé?” anh bồi bàn hói, anh vừa xuất hiện trước mặt tôi.

Tôi chớp mắt nhìn anh. Anh trẻ hơn tôi nghĩ ban đầu, anh đã rũ bỏ thoáng vẻ kiêu kỳ lúc trước. Có lẽ dân bồi bàn Paris đã được huấn luyện phải tỏ ra tử tế với những cô gái đang khóc trong quán cà-phê của họ.

“Hay… một ly cognac?” Anh liếc vào lá thư rồi mỉm cười với vẻ thông hiểu.

“Không”, tôi nói, mỉm cười lại. “Cảm ơn anh. Tôi có… tôi có việc phải làm”.

Tôi thanh toán hóa đơn, bỏ lá thư cẩn thận vào túi.

Rồi bước ra khỏi bàn, tôi vuốt thẳng chiếc túi trên vai và bước xuống đường về phía hiệu nước hoa với cả Paris xung quanh.

HẾT

Tin liên quan