Trước ngày em đến 

Tôi nhìn chăm chú vào tập giấy tờ trước mặt tôi. “Phải làm sao nếu… anh ta cần đi tiểu?” Tôi nghĩ tới chiếc cần cẩu. “Tôi không chắc mình có thể, ông biết đấy, nhấc anh ta lên.” Tôi cố diễn vẻ mặt khác hẳn nỗi sợ hãi trong lòng.

Nathan lắc đầu. “Cô không cần phải làm mấy việc đó đâu. Ống thông tiểu sẽ làm. Tới giờ trưa tôi sẽ đến thay nó. Cô ở đây không phải để làm những việc liên quan tới thể chất.”

“Thế công việc của tôi ở đây là gì?”

Nathan nhìn chăm chăm xuống sàn nhà mãi rồi mới ngước nhìn tôi. “Cố làm cậu ấy vui lên một chút chăng? Cậu ấy… cậu ấy hơi cáu bẳn. Dễ hiểu thôi, vì… hoàn cảnh như thế. Nhưng cô sẽ phải chai mặt vào. Trò chọc quậy sáng nay là cách cậu ấy làm cô mất bình tĩnh đấy.”

“Có phải vì thế mà thù lao mới cao tới vậy?”

“Ồ phải. Không có bữa trưa nào là miễn phí đâu nhỉ?” Nathan vỗ lên vai tôi. Tôi thấy người mình nảy lên vì cái vỗ đó. “À, cậu ấy không sao đâu. Cô không phải đi rón ra rón rén bên cạnh cậu ấy.” Ông trù trừ một chút. “Tôi mến cậu ấy.”

Ông nói câu đó như thể ông là người duy nhất mến nổi anh ta.

Tôi theo ông trở lại phòng khách. Xe lăn của Will đã dịch chuyển tới cửa sổ, anh ta quay lưng lại chúng tôi, nhìn chăm chú ra ngoài trời, nghe gì đó trên đài.

“Tôi xong việc rồi Will. Cậu có muốn gì trước khi tôi đi không?” “Không đâu. Cảm ơn Nathan.”

“Thế tôi sẽ để cậu lại với đôi tay giỏi giang của cô Clark nhé. Gặp lại vào giờ ăn trưa, anh bạn.”

Lòng tôi chợt trào lên nỗi hoảng sợ khi quan sát ông giúp việc ân cần khoác áo vào.

“Vui vẻ nhé, hai bạn.” Nathan nháy mắt với tôi, rồi đi mất.

Tôi đứng giữa phòng, tay thọc sâu trong túi áo, không chắc phải làm gì. Will Traynor tiếp tục nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ như thể tôi không ở đó.

“Anh muốn tôi pha cho anh một tách trà không?” cuối cùng tôi lên tiếng, khi sự im lặng trở nên không chịu nổi nữa.

“À. Phải rồi. Cô gái pha trà để kiếm sống. Tôi đã tự hỏi mất bao lâu thì cô sẽ muốn phô diễn kỹ năng của mình. Không. Không đâu, cảm ơn.”

“Thế cà-phê nhé?”

“Đồ uống nóng không dành cho tôi, ngay lúc này, cô Clark ạ.” “Anh có thể gọi tôi là Lou.”

“Thế thì ích gì?”

Tôi chớp mắt, miệng tôi mở ra một chốc. Tôi ngậm lại. Bố luôn nói làm thế trông tôi còn ngớ ngẩn hơn vốn dĩ. “À… tôi có thể mang gì cho anh?”

Anh ta quay lại nhìn tôi. Cằm anh ta lởm chởm vì mấy tuần liền không cạo, mắt anh ta thật khó dò. Anh ta quay đi.

“Tôi sẽ…” tôi nhìn quanh phòng. “Thế tôi sẽ xem có thứ gì cần giặt giũ không.”

Tôi đi ra khỏi phòng, tim đập thình thịch. Từ góc an toàn trong bếp, tôi lôi điện thoại ra bấm tin nhắn gửi cho em gái.

Kỳ quái quá. Anh ta ghét chị.

Mấy giây sau tin nhắn trả lời xuất hiện.

Chị mới ở đó có một giờ đồng hồ thôi mà, chị gái yếu đuối! B & M rất lo lắng về tiền bạc. Hãy kiềm chế và nghĩ về thù lao hàng giờ. X.

Tôi đóng nắp điện thoại lại, lòng rối bời. Tôi xới tung giỏ đựng đồ giặt trong phòng tắm, xoay xở nâng được mức đồ giặt trong máy lên được một phần tư ít ỏi, dành mấy phút để kiểm tra hướng dẫn sử dụng máy. Tôi không muốn máy giặt tắc tị giữa chừng, cũng không muốn mình làm gì đó có thể khiến Will hoặc bà Traynor nhìn tôi như thể tôi là con hâm lần nữa. Tôi khởi động máy giặt rồi đứng đó, cố nghĩ xem còn việc gì khác mình được phép làm. Tôi lôi chiếc máy hút bụi từ tủ nhỏ bên tường ra rồi kéo nó tới lui dọc hành lang và trong hai phòng ngủ, vừa làm vừa nghĩ rằng nếu thấy tôi lúc này thể nào bố mẹ cũng sẽ khăng khăng đòi chụp hình kỷ niệm. Phòng ngủ phụ hầu như trống trơn, giống phòng trong khách sạn. Tôi cho là Nathan không hay ngủ lại. Tôi nghĩ tôi chẳng thể trách ông được.

Tôi chần chừ bên ngoài phòng ngủ của Will Traynor, rồi biện hộ rằng nó cũng cần được hút bụi như mọi chỗ khác. Có một cái giá âm tường ở một bên, trên đó là chừng hai mươi khung ảnh.

Khi hút bụi quanh giường, tôi cho phép mình nhìn chúng một cái thật nhanh. Kia là hình một thanh niên đang nhảy bungee từ một mỏm đá, hai cánh tay anh ta dang ra như tượng Chúa. Kia là hình một thanh niên – có lẽ là Will trước đây – đang ở nơi nào trông như rừng nguyên sinh, rồi lại có bức hình của anh ta giữa đám bạn say xỉn. Anh nào anh nấy đều thắt nơ bướm và mặc áo vét-tông dự tiệc, tay người này choàng vai người kia.

Kia là hình anh ta đi trượt tuyết, bên cạnh là một cô gái đeo kính đen có mái tóc dài vàng óng. Tôi dừng lại, để nhìn rõ hơn bức hình anh ta đeo kính bảo hộ trượt tuyết. Trong ảnh đó, anh ta cạo râu nhẵn nhụi, và dù dưới ánh sáng chói lóa, khuôn mặt anh ta vẫn toát lên cái vẻ rạng rỡ xa hoa của những tay lắm tiền nhiều của đi du lịch một năm ba bận. Anh ta có đôi vai rộng lực lưỡng nổi rõ qua cả lần áo khoác trượt tuyết. Tôi cẩn thận đặt bức ảnh lại trên bàn và tiếp tục hút bụi quanh giường. Cuối cùng, tôi tắt máy hút bụi rồi bắt đầu cuộn dây lại. Khi tôi cúi xuống gỡ dây ra khỏi máy, qua khóe mắt tôi để ý thấy có chuyển động, tôi giật nảy mình khẽ ré lên. Will Traynor đang ở trên ngưỡng cửa, quan sát tôi.

“Khu trượt tuyết Courchevel. Hai năm rưỡi về trước.”

Mặt tôi đỏ bừng. “Tôi xin lỗi. Tôi chỉ…”

“Cô chỉ xem ảnh của tôi. Tự nghĩ hẳn phải kỳ quặc lắm khi đang sống như thế bỗng dưng lại thành một thằng què.” “Không đâu.” Tôi càng đỏ mặt dữ hơn.

“Nếu cô thấy mình lại tò mò không chịu nổi thì số ảnh còn lại của tôi nằm trong ngăn kéo cuối cùng đấy,” anh ta nói.

Rồi với chiếc xe lách cách rẽ sang phải, anh ta biến mất.

Buổi sáng hôm ấy chùng chình và quyết định kéo dài thêm dăm năm nữa. Tôi không nhớ lần gần đó nhất từng phút từng giờ kéo dài thê lương tới vậy là khi nào. Tôi cố tìm càng nhiều việc để giết thời gian càng tốt, ít khi vào phòng khách hết mức có thể, biết rằng mình đang nhát như thỏ đế, nhưng chẳng thực sự bận lòng.

Tới mười một giờ, tôi mang cho Will Traynor một cốc bê-se đựng nước và thuốc chống co giật, như Nathan đã yêu cầu. Tôi đặt thuốc vào lưỡi anh ta rồi đưa cái cốc bê-se ra, như Nathan đã chỉ dẫn. Cái ly đó bằng nhựa đục nhờ nhờ, giống cái ly Thomas hay dùng, chỉ khác là không có hình chàng Bob Thợ xây ở bên. Anh ta nỗ lực nuốt vào, rồi ra hiệu rằng tôi nên để anh ta một mình.

Tôi phủi bụi mấy cái giá không cần phủi bụi cho lắm, rồi suy tính lau mấy ô cửa sổ. Xung quanh tôi, khu nhà phụ lặng như tờ, chỉ có tiếng ti-vi rì rầm nho nhỏ trong phòng khách nơi anh ta ngồi. Tôi không thấy đủ tự tin để bật nhạc trong phòng bếp. Tôi có cảm giác anh ta sẽ có những câu cay nghiệt để nói về lựa chọn âm nhạc của tôi.

Tới mười hai giờ ba mươi, Nathan đến, mang theo giá lạnh ngoài trời và một cái nhướng mày. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” ông hỏi.

Tôi hiếm khi mừng khi gặp được ai tới vậy trong đời. “Ổn ạ.”

“Tốt. Giờ cô có thể nghỉ nửa tiếng. Tôi và cậu T có một số việc phải làm vào giờ này trong ngày.”

Tôi gần như bổ nhào tới lấy áo khoác. Tôi không định ra ngoài ăn trưa, nhưng lúc này được ra khỏi cái nhà đó khiến tôi sung sướng suýt ngất vì nhẹ nợ. Tôi dựng cổ áo lên, khoác túi lên vai, rồi bước vội xuống ngõ, như thể tôi đang nóng ruột muốn tới chỗ nào không bằng. Thực sự thì tôi chỉ đi lòng vòng trên mấy con đường xung quanh trong suốt nửa tiếng, thở những hơi ấm như làn khói vào tấm khăn quàng quấn chặt.

Đầu này thị trấn không có quán cà-phê, khi mà giờ đây quán Bánh Bơ đã đóng cửa. Tòa lâu đài hoang vắng. Tụ điểm ăn uống gần nhất là một quán rượu, một nơi mà tôi ngờ mình chẳng đủ tiền mua lấy một món uống, nói gì tới một bữa trưa ăn nhanh. Tất cả xe trong bãi đỗ đều to đùng và đắt giá, với biển số còn mới tinh.

Tôi đứng trong bãi đỗ xe của lâu đài, biết chắc mình đã thoát khỏi tầm nhìn của dinh thự Granta, và bấm số của em gái. “Này.”

“Chị biết em không thể nói chuyện trong giờ làm mà. Không phải chị đang đi ra ngoài đấy chứ?”

“Không. Chỉ là chị cần nghe một giọng nói thân thiện thôi.” “Anh ta có tệ tới thế không đấy?”

“Treen, anh ta ghét chị. Anh ta nhìn chị như thể chị là thứ mèo tha vào nhà ấy. Anh ta thậm chí còn không uống trà. Chị đang biến khỏi mắt anh ta.” “Em không tin nổi mình đang nghe thấy điều này đấy.”

“Điều gì?”

“Cứ nói chuyện với anh ta xem nào, gào lên. Tất nhiên anh ta phải thấy khổ sở rồi. Anh ta chết gí trên cái xe lăn chết toi đó. Và có lẽ chị không giúp gì được. Nói chuyện với anh ta đi. Tìm hiểu anh ta. Trên đời này còn chuyện gì tồi tệ hơn có thể xảy ra nữa?”

“Chị không biết… Chị không biết chị có thể bám trụ nổi không.”

“Em sẽ không nói với mẹ là chị bỏ việc sau nửa ngày đâu. Họ sẽ không cho chị một xu nào cả, Lou. Chị không thể làm thế được. Cả nhà không cho chị làm thế đâu.”

Em gái tôi nói đúng. Tôi nhận ra mình ghét nó.

Một khoảng im lặng ngắn trôi qua. Treen chuyển giọng hòa giải quen thuộc. Giọng nói này có vẻ thật sự lo âu. Điều đó có nghĩa là nó biết quả tình tôi đang có công việc tệ hại nhất trên đời. “Nghe này,” nó nói. “Công việc đó chỉ kéo dài sáu tháng. Làm sáu tháng thôi, có chút gì hữu ích trên CV của chị, rồi chị sẽ tìm được công việc chị thật sự thích. Mà này – hãy nhìn nó theo hướng này đi, ít nhất nó không phải làm ca đêm trong lò giết mổ gà, phải không?”

“Làm đêm trong lò giết mổ gà chẳng khác gì đi chơi hội nếu đem so với…” “Em cúp máy đây Lou. Em sẽ gặp chị sau.”

“Thế chiều nay anh có muốn đi đâu đó không? Chúng ta có thể lái xe tới chỗ nào đấy nếu anh thích.”

Nathan đã đi được gần nửa giờ. Tôi đã kéo dài việc rửa tách trà lâu nhất mà con người có thể làm, và tôi nghĩ nếu ở thêm một giờ nữa trong ngôi nhà câm lặng này thì đầu tôi sẽ nổ tung mất.

Anh ta quay đầu về phía tôi. “Cô đang nghĩ tới chỗ nào?”

“Tôi không biết. Cứ lái xe trong vùng nông thôn thôi được không?” Tôi đang làm cái việc mà thỉnh thoảng tôi vẫn làm là giả vờ mình là Treena. Nó là một người tuyệt đối bình tĩnh và giỏi giang, thế nên chưa bao giờ có ai gây bối rối được cho nó. Giọng tôi, với lỗ tai tôi, nghe rất sành điệu và vui vẻ.

“Nông thôn,” anh ta nói, ra chiều ngẫm nghĩ. “Chúng ta sẽ thấy gì nhỉ. Ít cây? Chút trời?”

“Tôi không biết nữa. Bình thường anh hay làm gì?”

“Tôi chả làm gì cả, cô Clark. Tôi chả làm gì được nữa. Tôi ngồi. Tôi chỉ tồn tại thôi.”

“À,” tôi nói. “Tôi nghe bảo anh có một cái xe có thể sử dụng xe lăn?” “Và cô lo là nó sẽ hỏng mất nếu không được sử dụng hằng ngày?” “Không, nhưng tôi…”

“Cô đang bảo tôi nên ra ngoài đấy à?” “Tôi chỉ nghĩ…”

“Cô nghĩ đi dạo lòng vòng một tí sẽ tốt cho tôi? Hít thở không khí trong lành?”

“Tôi chỉ cố để…”

“Cô Clark ạ, đời tôi sẽ chẳng tiến bộ gì đáng kể khi lái xe quanh mấy con đường làng của Stortfold đâu.” Anh ta quay mặt đi.

Đầu anh ta vùi giữa hai vai và tôi tự hỏi anh ta có thấy thoải mái không. Giờ chưa phải là lúc hỏi anh ta. Chúng tôi ngồi trong im lặng.

“Anh có muốn tôi mang máy tính tới không?”

“Sao nào, cô đang nghĩ tới một nhóm hỗ trợ người bị liệt tử tế mà tôi có thể gia nhập hả? Qu R Us? The Tin Wheel Club?”

Tôi hít vào một hơi thật sâu, cố nói giọng thật tự tin. “Được rồi… ừm… vì chúng ta sẽ dành toàn bộ thời gian này ở cạnh nhau nên có lẽ chúng ta nên biết đôi chút về nhau…”

Thái độ trên gương mặt anh ta khiến tôi nản chí. Anh ta đang nhìn chăm chăm vào bức tường, cằm anh ta giật giật.

“Chỉ là… ở bên cạnh một người chừng ấy thời gian là khá dài. Cả ngày cơ mà,” tôi tiếp tục. “Có lẽ nếu anh nói cho tôi một chút xem anh muốn làm gì, anh thích cái gì, thì tôi có thể… đảm bảo mọi thứ diễn ra đúng như anh muốn, phải không?”

Lần này sự im lặng thật nhức nhối. Tôi nghe giọng mình chầm chậm chìm nghỉm vào sự nín thinh đó, tôi chẳng nghĩ ra mình phải làm gì với đôi tay. Treena và điệu bộ hiểu biết của nó đã bốc hơi rồi.

Cuối cùng, chiếc xe lăn kêu rì rầm và anh ta từ từ quay mặt nhìn tôi.

“Đây là điều tôi biết về cô, cô Clark. Mẹ tôi bảo cô hay nói.” Anh ta nói như thể đó là đại họa. “Chúng ta thỏa thuận được không? Làm sao để cô không hay nói ở cạnh tôi được đây?”

Tôi nuốt khan, cảm thấy mặt mình nóng ran.

“Không sao,” tôi cất tiếng, khi có thể mở miệng trở lại. “Tôi sẽ ở trong bếp. Cần gì anh cứ gọi tôi.”

***

“Chị không thể bỏ cuộc ngay như thế.”

Tôi nằm nghiêng trên giường, chân gác lên tường, giống như tôi vẫn làm thời còn tuổi teen. Tôi đã ở trên này từ khi ăn tối xong, một chuyện không bình thường chút nào. Từ khi Thomas được sinh ra, nó và Treena chuyển vào phòng lớn hơn, còn tôi ở trong phòng ở tầng lửng, một căn phòng đủ nhỏ để khiến người ta thấy sợ không gian kín nếu ngồi trong đó lâu hơn nửa giờ đồng hồ liên tục.

Nhưng tôi không muốn ngồi dưới lầu với mẹ và ông ngoại vì mẹ cứ nhìn tôi lo âu rồi nói những câu kiểu như “Rồi sẽ tốt lên thôi, con yêu” hay “Có việc nào tốt đẹp ngay từ ngày đầu đâu” – như thể bà từng có một công việc ra hồn trong hai mươi năm qua. Chuyện đó khiến tôi cảm thấy có lỗi. Tôi thậm chí chẳng làm xong được việc gì.

“Chị đâu có nói chị đang bỏ cuộc.”

Treena lao vào phòng mà không buồn gõ cửa, như nó vẫn làm hằng ngày, dù tôi lúc nào cũng phải gõ cửa phòng nó nhè nhẹ, chẳng may Thomas đang ngủ.

“Mà biết đâu chị đang khỏa thân. Ít nhất em cũng phải đánh tiếng trước chứ.”

“Em còn thấy những cảnh tệ hơn rồi mà. Mẹ nghĩ chị sẽ gửi đơn thôi việc.”

Tôi hạ chân xuống khỏi tường, dựng người ngồi dậy.

“Ôi Chúa ơi, Treen. Nó tệ hơn chị nghĩ. Anh ta quá khốn khổ.” “Anh ta không đi lại được. Tất nhiên phải khốn khổ rồi.”

“Không, nhưng mà vì chuyện đó anh ta trở nên mai mỉa và thô lỗ. Lần nào chị nói gì hay đề nghị gì anh ta cũng nhìn chị như thể chị là con điên, hoặc nói những câu khiến chị thấy mình như đứa lên hai.”

“Có khi chị nói cái gì ngớ ngẩn thật thì sao. Chỉ cần hai người quen tính nhau là được.”

“Thật sự chị không nói gì sai. Chị đã rất cẩn thận. Chị chẳng nói gì ngoài

Anh có muốn lái xe ra ngoài không? hay Anh có muốn uống trà không?.”

“À có thể ban đầu với ai anh ấy cũng như vậy, cho tới khi biết chị có gắn bó ở đó hay không. Em cá là họ đã thay đổi hàng loạt người giúp việc.”

“Anh ta thậm chí không muốn chị ở trong cùng một phòng với anh ta. Chị không nghĩ chị gắn bó được với nó đâu, Katrina. Chị thực lòng không nghĩ thế. Thật tình – nếu ở đó em sẽ hiểu.”

Tới đó Treena không nói gì, chỉ nhìn tôi chăm chăm một lát. Nó đứng dậy và liếc nhìn ra cửa, như thể đang kiểm tra xem có ai ở chiếu nghỉ không.

“Em đang tính quay trở lại trường đại học,” cuối cùng nó lên tiếng. Mất mấy giây não tôi mới tiếp nhận nổi sự thay đổi chiến lược này. “Ôi trời ơi,” tôi thốt lên. “Nhưng…”

“Em sẽ đi vay để trả học phí. Nhưng em có thể cũng được nhận một khoản trợ cấp đặc biệt nào đó, vì em có Thomas, và nhà trường đang đề nghị giảm học phí cho em vì họ…” Nó nhún vai, tỏ vẻ hơi xấu hổ. “Họ nói họ nghĩ em có thể đạt thành tích nổi bật. Có người bị bật khỏi khóa học ngành thương mại, thế nên họ có thể nhận em vào đầu học kỳ tới.”

“Thomas thì sao?”

“Ở ký túc xá có nhà trẻ. Bọn em có thể sống trong một căn apartment ở đó vào những ngày trong tuần, và về đây hầu hết các kỳ cuối tuần.” “Ôi.”

Tôi cảm thấy nó đang quan sát tôi. Tôi không biết phải làm gì với mặt mình.

“Em thực sự khao khát sử dụng lại bộ não của mình. Làm hoa đang khiến đầu em phát rồ. Em muốn học. Em muốn mình tiến bộ. Và em phát ốm khi bàn tay luôn chết cóng vì ngâm trong nước.”

Hai chúng tôi cùng nhìn vào đôi bàn tay nó, ửng đỏ dù trong nhà ấm áp như ở vùng nhiệt đới.

“Nhưng…”

“Phải. Em sẽ không thể làm việc, Lou. Em sẽ không thể đưa gì cho mẹ. Có thể em… có thể em còn cần họ giúp đỡ một chút.” Lần này thì trông nó thực sự không thoải mái. Vẻ mặt nó, khi nó liếc nhìn tôi, gần như xin lỗi.

Dưới lầu, mẹ đang cười với chuyện gì đó trên ti-vi. Chúng tôi có thể nghe mẹ đang nói chuyện với ông ngoại. Mẹ thường giải thích diễn biến bộ phim cho ông, dù chúng tôi luôn bảo mẹ là không cần phải làm thế. Lúc này tôi chẳng nói được nên lời. Sức nặng từng từ em gái tôi nói thấm từ từ mà không sao cưỡng lại được. Tôi cảm thấy mình như nạn nhân của Mafia, chống mắt nhìn gông cùm chầm chậm siết lấy mắt cá.

“Em thực sự cần phải làm thế, Lou. Em muốn nhiều hơn cho Thomas, nhiều hơn cho mẹ con em. Cách duy nhất giúp em tới được đâu đó là trở lại giảng đường. Em không có một Patrick. Em không chắc có bao giờ em có được một Patrick hay không, vì từ khi em có Thomas thì chẳng ai bén mảng tới cả. Em cần làm việc tốt nhất bản thân em có thể làm.”

Khi tôi chẳng nói gì, nó nói thêm, “Cho em và Thomas.”

Tôi gật đầu.

“Lou à? Làm ơn nhé?”

Trước đây tôi chưa bao giờ thấy em gái tôi như thế. Điều đó khiến tôi thực sự không thoải mái. Tôi ngẩng đầu lên, trưng một nụ cười. Giọng tôi, khi thoát ra, nghe thậm chí chẳng giống giọng tôi chút nào.

“Ừm, như em nói đó. Vấn đề chỉ là quen tính quen nết anh ta thôi. Cùng lắm cũng khó khăn trong mấy ngày đầu thôi, phải không?”

Chương 4

Hai tuần trôi qua và xuất hiện cùng đó là một chuỗi công việc hằng ngày đều đặn. Mỗi buổi sáng tôi đến dinh thự Granta lúc tám giờ, gọi báo mình đã đến, rồi sau đó, khi Nathan giúp Will thay đồ xong, tôi cẩn thận lắng nghe ông nói những điều cần biết về thuốc thang của Will – hoặc, quan trọng hơn, về tâm trạng của anh ta.

Khi Nathan đi rồi tôi sẽ chọn chương trình radio hoặc ti-vi cho Will, lấy thuốc cho anh ta, đôi khi nghiền thuốc bằng bộ chày cối nhỏ bằng đá cẩm thạch. Thường thường, sau khoảng chừng mươi phút anh ta sẽ nói thẳng rằng đã chán ngấy với sự có mặt của tôi. Tới lúc đó tôi sẽ bôi ra vài việc nhà lặt vặt để làm, giặt khăn mù-soa chưa bẩn, hoặc dùng cái đầu hút bất kỳ để làm sạch những đoạn viền chân tường bé tí hay gờ cửa sổ, cứ đều đặn mười lăm phút lại ngó đầu vào cửa như lời bà Traynor dặn. Lần nào nhìn vào tôi cũng thấy anh ta đang ngồi trên xe lăn nhìn ra ngoài khu vườn trống trải.

Sau đó có thể tôi sẽ mang cho anh ta nước lọc, hoặc một ly nước dinh dưỡng lờ nhờ như hồ dán giấy dán tường được cho là giúp anh ta tăng cân, hoặc mang thức ăn cho anh ta. Anh ta có thể nhúc nhích bàn tay một chút, nhưng cánh tay thì không, vì vậy tôi phải đút cho anh ta từng thìa. Đây là phần tệ hại nhất trong ngày; chẳng hiểu sao chuyện đút ăn cho một thanh niên dường như thật phi lý, và sự bối rối khiến tôi trở nên lúng túng vụng về. Will căm ghét chuyện này đến nỗi anh ta thậm chí không nhìn mắt tôi khi tôi đút cho anh ta ăn.

Thế rồi trước một giờ trưa một chút, Nathan sẽ đến và tôi sẽ chộp lấy áo khoác rồi biến ra ngoài đường, thi thoảng ăn trưa ở bến xe buýt bên ngoài lâu đài. Trời rất lạnh và chắc trông tôi rất thảm hại khi ngồi ở đó ăn sandwich nhưng tôi chẳng quan tâm. Tôi không thể ở cả ngày trong cái nhà đó được.

Vào buổi chiều tôi sẽ mở một bộ phim – Will là hội viên của một câu lạc bộ DVD nên hằng ngày đĩa phim mới được gửi tới qua đường bưu điện – nhưng anh ta chẳng bao giờ rủ tôi xem cùng, vậy nên tôi thường ra ngồi ở bếp hoặc trong phòng dành cho khách. Tôi cầm lên một cuốn sách hoặc tạp chí, nhưng tôi có cảm giác có lỗi kỳ quặc khi không thực sự làm việc nên tôi chẳng bao giờ tập trung hoàn toàn vào con chữ được. Đôi khi vào cuối ngày, bà Traynor sẽ tạt về – tuy nhiên bà chẳng bao giờ nói gì nhiều với tôi ngoài câu hỏi “Mọi việc ổn chứ?” mà câu trả lời duy nhất có thể chấp nhận được dường như là “Vâng ạ”.

Bà sẽ hỏi Will xem anh ta có cần gì không, thỉnh thoảng đề xuất một việc gì đó mà biết đâu anh ta muốn làm vào ngày hôm sau – đi đâu đó ra ngoài, hoặc gặp người bạn nào đó từng hỏi thăm sức khỏe anh ta – và anh ta luôn trả lời với giọng cộc cằn thô lỗ, nếu không thì cũng thờ ơ lạnh nhạt. Khi đó trông bà rất đau đớn, cứ mân mê sợi dây chuyền rồi lại biến mất.

Bố anh ta, một người đàn ông phương phi, trông lịch thiệp, thường tới lúc tôi sắp đi. Ông ấy thuộc típ người mà ta có thể thấy đội mũ Panama xem cricket, hình như ông coi sóc việc quản lý tòa lâu đài kể từ khi bỏ công việc được trả lương hậu hĩnh trên thành phố. Tôi nghĩ ông cũng chỉ làm cho có việc mà thôi. Ông kết thúc mỗi ngày vào đúng năm giờ chiều rồi ngồi xem ti-vi cùng Will. Thi thoảng khi ra khỏi phòng, tôi nghe thấy ông ta bình luận về chuyện gì đó trên mục tin tức.

Trong hai tuần đầu tiên này tôi đã nhìn Will Traynor kỹ hơn. Tôi thấy dường như anh ta quyết tâm khiến mình trông khác hẳn con người trước đây; anh ta để mái tóc nâu nhạt dài ra thành một mớ lộn xộn, râu ria lởm chởm bò quanh quai hàm. Đôi mắt xám của anh ta đầy nếp nhăn vì mệt mỏi, hoặc tác động của việc thiếu thoải mái triền miên (Nathan nói rằng anh ta hiếm khi được thoải mái). Chúng mang cái nhìn vô hồn của một kẻ đã trượt vài bước khỏi thế giới quanh mình. Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng đó là một cơ chế phòng vệ, khi mà cách duy nhất để anh ta đối phó với cuộc đời là giả vờ mình không phải là người phải hứng chịu những gì đang xảy ra.

Tôi muốn thấy thương cảm cho anh ta. Tôi thật sự rất thương cảm. Tôi nghĩ anh ta là người đáng buồn nhất mà tôi từng gặp, trong những khoảnh khắc ấy khi tôi thoáng thấy anh ta nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ. Rồi khi ngày nối ngày trôi qua, khi nhận ra rằng tình trạng của anh ta không chỉ là chuyện bị mắc kẹt trong cái xe đó và cơ thể mất tự do mà còn là một chuỗi không bao giờ dứt của những tổn thương và vấn đề sức khỏe, của nguy hiểm và bất tiện, tôi nghĩ rằng nếu là Will, chắc tôi cũng sẽ cảm thấy hết sức khốn khổ như vậy.

Nhưng ôi Chúa ơi, anh ta rất khó chịu với tôi. Mọi điều tôi nói, anh ta đều trả lời rất gay gắt. Khi tôi hỏi xem anh ta đã đủ ấm chưa, anh ta sẽ vặn lại rằng anh ta thừa khả năng để báo cho tôi biết nếu anh ta cần thêm khăn choàng. Khi tôi hỏi anh ta liệu tiếng máy hút bụi có quá ồn với anh ta không – tôi không muốn làm gián đoạn bộ phim của anh ta – anh ta sẽ hỏi tôi sao cơ, tôi đã nghĩ ra cách nào đó khiến máy chạy im phắc à? Khi tôi đút thức ăn, anh ta sẽ kêu ca thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, hoặc tôi đã đút thìa tiếp theo vào miệng anh ta trước khi anh ta ăn xong thìa trước. Anh ta có khả năng bóp méo hầu hết mọi điều tôi nói hoặc làm ra vẻ như tôi rất ngớ ngẩn.

Trong suốt hai tuần đầu đó, tôi khá giỏi giữ nét mặt hoàn toàn vô cảm trước anh ta, xong việc là tôi quay người biến vào một căn phòng khác và kiệm lời với anh ta hết mức. Tôi bắt đầu ghét anh ta và tôi chắc là anh ta biết điều đó.

Tôi đã không nhận ra mình có thể nhớ công việc cũ nhiều hơn mình từng nhớ. Tôi nhớ Frank cùng vẻ vui mừng ra mặt của ông lúc nhìn thấy tôi khi tôi đến vào buổi sáng. Tôi nhớ khách hàng, sự bầu bạn của họ, nhớ tiếng chuyện trò thoải mái khoan nhặt rì rầm quanh tôi như tiếng sóng biển vùng ôn đới. Còn ngôi nhà này, đẹp đẽ hào nhoáng là thế nhưng lại tịch mịch lặng tờ như nhà xác. Sáu tháng, tôi thầm nhắc lại khi cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Sáu tháng.

Rồi tới ngày thứ Năm ấy, đúng lúc đang pha ly nước dinh dưỡng làm bữa lửng sáng cho Will, tôi nghe thấy tiếng bà Traynor dưới sảnh. Ngoài ra lần này còn có những tiếng nói khác nữa. Tôi chờ đợi, chiếc dĩa nằm yên trên tay tôi. Tôi chỉ có thể nhận ra có tiếng một cô gái trẻ, giọng dễ nghe, và tiếng của một người đàn ông.

Bà Traynor xuất hiện ở lối cửa bếp, tôi cố tỏ ra bận rộn, khuấy mạnh vào chiếc cốc bê-se.

“Pha với tỷ lệ nước 60 sữa 40 đấy chứ?” bà hỏi, chằm chằm nhìn vào ly đồ uống.

“Vâng ạ. Một cốc dâu tây.”

“Bạn của Will đến thăm nó. Có lẽ sẽ tốt nhất nếu cô…”

“Tôi đang có rất nhiều việc phải làm ở đây,” tôi nói. Tôi thật sự cảm thấy rất dễ chịu khi được giải thoát khỏi anh ta trong khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi vặn nắp cốc bê-se lại. “Khách của bà muốn uống trà hay cà-phê ạ?”

Bà nhìn tôi gần như ngạc nhiên. “Phải rồi. Thế thì hay lắm. Cà-phê đi. Tôi nghĩ tôi sẽ…”

Bà dường như còn căng thẳng hơn cả ngày thường, hai mắt dán ra phía hành lang nơi chúng tôi có thể nghe những tiếng rì rầm khe khẽ. Tôi đoán là Will chỉ có vài vị khách.

“Tôi nghĩ… tôi sẽ để chúng ở với nhau thôi.” Bà nhìn chằm chằm ra ngoài hành lang, nhưng ý nghĩ của bà có lẽ đang ở rất xa. “Rupert. Đó là Rupert, đồng nghiệp cũ của nó,” bà đột nhiên quay về phía tôi nói.

Tôi có cảm giác thời điểm này rất cam go và bà cần phải chia sẻ với một ai, dù cho người đó chỉ là tôi.

“Và Alicia. Hai đứa đã… rất thân thiết… trong một thời gian. Trà sẽ tuyệt đấy. Cảm ơn cô, Clark.”

Tôi nán lại một chút trước khi mở cửa, tựa hông vào cửa để cân bằng khay nước trên tay.

“Bà Traynor bảo rằng có thể mọi người sẽ muốn uống một chút cà-phê,” tôi nói khi bước vào, đặt khay nước lên chiếc bàn thấp. Khi tôi đặt cốc nước của Will lên góc để cốc trên xe lăn, xoay ống hút để anh ta chỉ cần cúi đầu xuống là có thể với tới, tôi lén nhìn mấy vị khách của anh ta.

Tôi để ý đến cô gái trước tiên. Đôi chân dài và mái tóc vàng, cùng với làn da màu caramel nhạt, cô thuộc típ người khiến tôi băn khoăn không biết có phải mọi người trên đời đều cùng loài không. Cô ta trông như ngựa chứng. Có đôi lần tôi đã thấy những người phụ nữ kiểu này; họ thường nhún nhảy lên đồi đến lâu đài, lôi theo đám con mặc đồ hiệu Boden, rồi khi tới quán cà-phê thì tiếng họ sẽ vang to, trong như pha lê và đầy tự tin khi hói “Harry, anh yêu, anh muốn cà-phê chứ? Để em xem họ có thể làm cho anh một ly macchiato không nhé?” Đây chính xác là kiểu phụ nữ sành điệu như ly macchiato. Mọi thứ từ con người cô toát lên mùi tiền bạc, quyền lực và một cuộc đời như sống trong những trang giấy của một quyển tạp chí thời thượng.

Rồi tôi nhìn kỹ cô hơn và nhận ra một chuyện giật mình là a) cô là cô gái trong bức ảnh Will đi trượt tuyết và b) cô trông thật sự, thật sự không hề thoải mái.

Cô đã hôn lên má Will còn bây giờ thì đang lùi bước ra sau cười gượng gạo. Cô mặc chiếc áo ghi-lê lông cừu màu nâu, kiểu áo khiến tôi trông giống như con khỉ đột, choàng quanh cổ chiếc khăn cashmere màu xám nhạt mà cô luôn tay vân vê, như thể cô chẳng quyết định được có nên cởi ra hay không.

“Anh trông khá lắm,” cô nói với Will. “Thật đấy. Anh đã để tóc hơi dài ra một tí.”

Will không nói gì cả. Anh ta chỉ nhìn cô, vẻ mặt thật khó hiểu. Tôi thoáng có cảm giác biết ơn khi tôi không phải là người duy nhất anh ta nhìn như vậy.

“Xe mới hả?” Người đàn ông vỗ vào lưng ghế của Will, đặt tay lên cằm gật đầu tán thưởng như thể anh ta đang ngưỡng mộ một chiếc xe hơi thể thao đỉnh cao. “Trông… tuyệt lắm. Công nghệ… rất đỉnh.”

Tôi không biết phải làm gì cả. Tôi đứng đó thêm một lúc nữa, chuyển chân trụ liên hồi, cho đến khi tiếng Will cất lên phá vỡ không gian yên lặng.

“Louisa, cô cho thêm mấy thanh củi vào lò sưởi được không? Tôi nghĩ cần phải vun lên một chút.”

Đây là lần đầu tiên anh ta gọi tên khai sinh của tôi. “Được chứ,” tôi nói.

Tôi khiến mình tất bật với việc nhen củi, đốt lửa và xếp gọn những thanh củi trong giỏ.

“Kinh khủng, bên ngoài trời lạnh lắm,” cô gái nói. “Thật tốt khi có lửa ấm.” Tôi mở cửa lò sưởi, lấy que cời gạt những thanh củi đang cháy.

“Thời tiết ở đây lạnh hơn London mấy độ liền.”

“Ừ, đúng vậy,” người đàn ông tán thành.

“Em cũng đang tính đặt một lò sưởi ở nhà. Chắc chắn kiểu lò này sẽ ấm hơn kiểu lò mở nhiều.” Alicia hơi cúi người xuống để xem chiếc lò sưởi, như thể trước đây cô chưa lần nào nhìn thấy loại lò này.

“Đúng đấy, anh có nghe nói vậy,” người đàn ông nói.

“Em phải xem xét nó. Một trong những việc mà anh cần làm đấy rồi sau đó…” cô nói nhỏ dần. “Cà-phê ngon quá,” cô nói thêm sau một lát im lặng.

“Thế… cậu đã phải làm những gì, Will?” người đàn ông hỏi bằng giọng cố tỏ ra vui vẻ.

“Chẳng làm gì nhiều, khôi hài thay.”

“Thế còn vật lý trị liệu. Vẫn tiếp tục chứ? Có… tiến triển không?”

“Tớ không nghĩ là tớ sẽ sớm đi trượt tuyết được đâu, Rupert,” Will trả lời với giọng đầy mai mỉa.

Tôi gần như mỉm cười một mình. Đó đúng là Will mà tôi biết. Tôi gạt gạt tro trong lò sưởi. Cảm giác như tất cả mọi người đang nhìn mình. Sự im lặng thật nặng nề. Tôi chợt băn khoăn tự hỏi có phải mác áo của tôi đang ló ra và cảm thấy muốn kiểm tra ngay.

“Vậy…” cuối cùng Will lên tiếng. “Tôi phải nợ vinh hạnh này điều gì đây?

Đã… tám tháng rồi?”

“Ôi, em biết. Em xin lỗi. Là vì… em bận quá chừng trời. Em vừa có việc làm mới ở Chelsea. Quản lý hiệu đồ của Sasha Goldstein. Anh nhớ Sasha chứ? Em còn làm bao nhiêu việc vào cuối tuần nữa. Thứ Bảy thì bận vô cùng. Rất khó có thời gian nghỉ.” Giọng Alicia trở nên căng thẳng. “Em đã gọi cho anh đôi lần. Mẹ anh có nói lại không?”

“Công việc ở Lewins đợt rồi lộn xộn lắm. Cậu… cậu biết nó thế nào rồi đấy, Will. Chúng ta vừa có sếp mới. Một thằng cha từ New York tới. Bains. Dan Bains. Cậu gặp ông ta chưa nhỉ?”

“Chưa.”

“Gã chết tiệt luôn làm việc hai tư trên hai tư và muốn tất cả mọi người đều phải làm như thế.” Ai cũng có thể nghe thấy tiếng thở phào rõ rệt của anh ta khi tìm ra một chủ đề khiến anh ta được thoải mái. “Cậu biết nguyên tắc làm việc của mấy gã Yankee già rồi đấy – không ăn trưa lâu lắc, không chuyện phiếm huyên thuyên – Will, tớ bảo cậu, không khí ở công ty bọn mình đã thay đổi hết rồi.”

“Hẳn vậy.”

“Chúa ơi, thật mà. Làm trâu bò lắm. Đôi khi tớ cảm giác như không dám nhấc mông khỏi ghế luôn.”

Toàn bộ không khí dường như đã rút sạch khỏi căn phòng trong thoáng chốc. Ai đó ho hắng.

Tôi đứng lên chùi tay vào quần jean. “Tôi sẽ… tôi chỉ đi lấy thêm ít củi,” tôi lẩm bẩm về phía Will.

Rồi tôi xách chiếc giỏ biến ngay ra ngoài.

Trời bên ngoài rét căm căm nhưng tôi vẫn nán lại, giết thời gian trong lúc lựa những mẩu gỗ. Tôi đang thử tính xem đứng đây đến chết rét có tốt hơn quay trở lại căn phòng đó không. Nhưng trời quá lạnh, cái ngón trỏ để khâu vá của tôi xanh xám lại và cuối cùng tôi đành phải đầu hàng.

Tôi xếp gỗ thật chậm, đi vào cửa sau rồi từ từ quay trở lại hành lang. Khi đi đến phòng khách tôi nghe tiếng cô gái bay ra từ cánh cửa mở hờ.

“Thật ra, Will ạ, có một lý do nữa mà bọn em tới đây,” cô nói. “Bọn em… có vài tin muốn báo.”

Tôi dừng lại gần cửa, hai tay nệ nên xách giỏ củi.

“Em nghĩ – ừm, bọn em nghĩ – sẽ là đúng đắn khi báo cho anh biết… nhưng, ừm, có một chuyện. Rupert và em sắp làm đám cưới.”

Tôi đứng im thít, tính xem liệu tôi có thể quay đi mà không ai biết không.

Cô gái tiếp tục nói đứt quãng. “Hãy nghe em, em biết điều này có thể hơi sốc đối với anh. Thật sự thì cả em cũng rất ngạc nhiên. Bọn em – chuyện đó – phải, chuyện đó thực sự chỉ bắt đầu một thời gian rất dài sau khi…”

Hai cánh tay tôi bắt đầu đau. Tôi nhìn chằm chằm xuống chiếc giỏ, cố nghĩ xem phải làm gì.

“Anh biết anh và em… chúng ta…” Lại một sự im lặng nặng nề. “Will, hãy nói gì đi.”

“Chúc mừng,” cuối cùng anh nói.

“Em hiểu điều anh đang nghĩ. Nhưng chẳng ai trong hai bọn em cố tình làm ra chuyện này. Thật lòng đấy. Trong suốt một thời gian rất dài bọn em chỉ là bạn bè. Những người bạn cùng quan tâm đến anh. Chỉ là Rupert giúp đỡ em rất nhiều sau tai nạn của anh…”

“Cậu ấy thật vĩ đại.”

“Đừng có như vậy chứ. Thế này thật khủng khiếp. Em đã vô cùng sợ hãi khi phải nói với anh. Cả hai bọn em.”

“Rõ rồi,” Will nói thẳng thừng.

Giọng Rupert chen vào. “Cậu nghe tớ, bọn tớ nói với cậu chỉ bởi vì cả hai bọn tớ đều quan tâm đến cậu. Bọn tớ không muốn cậu phải nghe chuyện này từ một ai đó khác. Nhưng mà, cậu biết đấy, cuộc đời vẫn tiếp tục. Cậu phải hiểu điều đó. Rốt cuộc cũng đã hai năm rồi.”

Lại một khoảng im lặng. Tôi thấy chẳng muốn nghe thêm nữa nên bắt đầu nhẹ nhàng rời khỏi lối cửa vào, khẽ làu bàu vì bưng nặng. Nhưng khi Rupert nói tiếp, anh ta nói lớn hơn nên tôi vẫn nghe thấy được.

“Thôi mà, anh bạn. Tớ biết sẽ vô cùng khó khăn… tất cả những điều này. Nhưng nếu cậu vẫn còn quan tâm tới Lissa chút nào, cậu phải mong mỏi cho cô ấy một cuộc đời hạnh phúc chứ.”

“Nói gì đi, Will. Hãy nói đi.”

Tôi có thể hình dung ra gương mặt anh ta. Tôi có thể thấy ánh nhìn đó của anh ta, luôn tỏ ra vừa khó đoán định vừa khinh thường xa cách.

“Xin chúc mừng,” cuối cùng anh ta nói. “Tôi chắc là cả hai sẽ rất hạnh phúc.”

Khi đó Alicia bắt đầu phản đối – mấy câu gì đó nghe không rõ – nhưng rồi Rupert ngắt lời. “Thôi nào, Lissa. Anh nghĩ chúng ta nên về thôi. Will này, không phải bọn tớ đến để chờ đợi lời chúc mừng của cậu đâu. Đó là phép lịch sự. Lissa nghĩ – phải, cả hai bọn tớ chỉ nghĩ rằng – cậu nên biết. Xin lỗi, bạn cũ. Tớ… tớ thật sự hy vọng rằng cậu sẽ tiến triển tốt và tớ hy vọng cậu vẫn giữ liên lạc khi mọi thứ… cậu biết đấy… khi mọi thứ ổn định đôi chút.”

Tôi nghe thấy tiếng bước chân nên xách ngay giỏ củi lên như thể tôi vừa mới bước vào. Tôi nghe thấy tiếng họ ở hành lang rồi Alicia xuất hiện trước mặt tôi. Đôi mắt cô ngấn đỏ như sắp khóc.

“Tôi dùng nhà tắm được chứ?” cô hỏi giọng u ám nghẹn ngào. Tôi từ từ giơ một ngón tay lên lặng lẽ chỉ về hướng nhà tắm.

Rồi cô nhìn tôi rất nặng nề khiến tôi nhận ra có lẽ những gì tôi nghĩ đang hiển hiện trên gương mặt tôi. Tôi chưa bao giờ là người giỏi che giấu cảm xúc.

“Tôi hiểu điều cô đang nghĩ,” cô nói sau một thoáng im lặng. “Nhưng tôi đã cố gắng. Tôi thật sự đã cố gắng. Suốt nhiều tháng. Nhưng anh ấy chỉ đẩy tôi ra xa.” Hàm răng cô cứng lại, nét mặt vô cùng giận dữ. “Thực sự là anh ấy đã không muốn tôi ở đây. Anh ấy đã nói rõ như thế.”

Dường như cô chờ tôi nói điều gì đó.

“Đó hoàn toàn không phải việc của tôi,” sau cùng tôi đáp. Hai chúng tôi đứng nhìn nhau.

“Cô biết đấy, người ta chỉ có thể thật sự giúp đỡ người nào cần được giúp đỡ thôi,” cô ta nói. Rồi bỏ đi.

Tôi chờ thêm đôi phút, lắng nghe tiếng xe hơi của họ chạy xuống đường, rồi tôi đi vào nhà bếp. Tôi đứng trong đó nấu một ấm nước mặc dù tôi không muốn uống trà. Tôi lướt qua một cuốn tạp chí đã đọc rồi. Cuối cùng tôi trở lại hành lang, hự một tiếng rồi xách giỏ củi lên bưng vào phòng khách, thúc nhẹ cánh cửa trước khi bước vào để Will biết tôi đang tới.

“Tôi băn khoăn không biết anh có cần tôi làm…” tôi lên tiếng. Nhưng chẳng có ai ở đó cả.

Căn phòng trống không.

Đúng lúc đó tôi nghe tiếng đổ vỡ. Tôi vừa chạy ra đến hành lang thì nghe thấy một tiếng nữa, cùng với tiếng thủy tinh vỡ. Âm thanh phát ra từ phòng ngủ của Will. Ôi Chúa ơi, xin đừng để anh ấy tự làm tổn thương mình. Tôi hoảng hốt – lời dặn của bà Traynor như găm vào óc tôi. Tôi đã bỏ mặc anh ta trong hơn mười lăm phút rồi.

Tôi chạy ra hành lang, lao tới trước cửa phòng rồi dừng lại, cả hai tay nắm chặt vào cánh cửa. Will đang ở giữa căn phòng, ngồi thẳng trên ghế, một cây gậy đặt nằm ngang trên tay ghế, nó chĩa ra phía bên trái của anh ta chừng bốn mươi phân – một cây thương đồ chơi. Chẳng còn tấm hình nào trên cả cái giá dài; những khung ảnh đắt tiền nằm vỡ vụn khắp sàn, thảm phủ đầy những mảnh thủy tinh lấp lánh. Trên vạt áo anh ta vương đầy mảnh thủy tinh và vụn khung gỗ. Tôi nhìn khắp khung cảnh đổ nát, cảm thấy nhịp tim mình chậm lại khi biết rằng anh ta không bị thương. Will đang thở dốc như thể những việc vừa làm đã lấy đi quá nhiều sức lực.

Chiếc xe lăn xoay lại, nghiến khẽ lên thủy tinh. Mắt anh ta chạm vào mắt tôi.

Đôi mắt ấy vô cùng tuyệt vọng. Nó thách tôi dám tỏ lòng thương cảm.

Tôi nhìn xuống vạt áo của anh ta rồi nhìn khắp sàn nhà xung quanh. Tôi chỉ có thể nhìn thấy tấm hình anh chụp cùng Alicia nằm giữa những thứ rách nát khác, gương mặt cô lúc này khuất dưới một khung ảnh bằng bạc đã gãy.

Tôi nuốt khan, chằm chằm nhìn vào tấm hình rồi từ từ ngước mắt lên nhìn anh ta. Mấy giây đó là khoảng thời gian dài nhất trong đời tôi từ trước tới giờ.

“Cái này có thể bị thủng không vậy?” cuối cùng tôi hất đầu về phía chiếc xe lăn của anh ta rồi hỏi. “Bởi vì tôi không biết cái bơm bỏ ở đâu.”

Mắt anh ta mở to. Trong một thoáng, tôi nghĩ tôi đã làm mọi chuyện thêm tồi tệ. Nhưng một khóe cười rất nhẹ lướt ngang gương mặt anh ta.

“Nghe này, đừng di chuyển,” tôi nói. “Tôi sẽ đi lấy máy hút bụi.” Tôi nghe thấy tiếng cây gậy rơi xuống sàn. Khi ra khỏi phòng, tôi nghĩ có thể tôi đã nghe thấy anh ta nói xin lỗi.

Quán Kings Head đêm thứ Năm nào cũng đông nghịt, trong góc căn phòng ấm áp người còn đông hơn nữa. Tôi ngồi trét giữa Patrick và một người đàn ông có tên là Rutter, chăm chú nhìn qua nhìn lại giữa những chiếc huy hiệu gắn hình ngựa đính trên xà nhà bằng gỗ sồi phía trên đầu tôi và những tấm hình chụp lâu đài làm điểm nhấn cho những thanh rầm, cố tỏ ra lơ đãng với câu chuyện đang bàn tán quanh mình mà chủ đề chính dường như là về tỉ lệ mỡ trong cơ thể và khẩu phần ăn nhiều carbohydrate.

Bấy nay tôi luôn nghĩ rằng cuộc họp mặt hai tuần một lần của nhóm Hailsbury Triathlon Terrors chắc chắn là ác mộng khủng khiếp nhất của chủ quán. Tôi là người duy nhất uống rượu và chỉ duy nhất gói khoai tây chiên của tôi hết nhẵn nằm nhăn nhúm trên bàn. Tất cả những người khác đều uống nước khoáng hoặc kiểm tra trước tỷ lệ chất làm ngọt trong lon Diet Coke của họ. Khi rốt cuộc cũng gọi đồ ăn, salad họ gọi sẽ chẳng bao giờ có lấy một cọng rau phủ nước xốt nhiều chất béo hay thịt gà còn một mẩu để nguyên da. Tôi thường gọi khoai tây chiên, chỉ để được nhìn tất cả bọn họ giả vờ rằng họ chẳng muốn ăn tẹo nào.

“Phil chạy kịch được cỡ bốn mươi dặm. Anh ta bảo khi đó anh ta thấy đầu óc ong ong. Chân nặng như chì. Mặt mũi như người cõi âm, các cậu hiểu không?”

“Tôi thì sắm mấy đôi giày Nhật. Giảm được mười lăm phút trên chặng chạy mười dặm đấy nhé.”

“Đừng mang túi đựng xe đạp loại mềm nhé. Nigel mang nó theo khi tham gia hội trại ba môn phối hợp, trông như một cái mắc áo dở hơi ấy.”

Tôi không thể nói là tôi thích những vụ hội họp của nhóm Triathlon Terrors, nhưng với những giờ làm thêm của tôi và thời gian biểu tập luyện của Patrick thì đó là một trong số những lúc hiếm hoi tôi có thể chắc chắn gặp được anh. Anh ngồi bên cạnh tôi, mặc quần soóc đến bắp đùi mặc cho thời tiết bên ngoài cực rét. Mặc ít quần áo hết mức là một biểu trưng cho niềm tự hào của các thành viên trong câu lạc bộ này. Đám đàn ông trông rất rắn chắc, mặc những bộ đồ thể thao tối màu đắt tiền khoe cơ thể siêu chuẩn và trọng lượng nhẹ hơn cả không khí. Họ gọi nhau là Scud hoặc Trig và cong các bắp cơ nhằm khoe ra những vết trầy xước và những chỗ thịt đang lên da non. Các cô gái không trang điểm, ai nấy có làn da hồng hào của những người chẳng sợ gì việc đi bộ hàng dặm dài giữa trời băng tuyết. Họ nhìn tôi hơi khó chịu – hoặc thậm chí có thể là không hiểu nổi – chắc chắn họ đang tính tỉ lệ mỡ so với cơ thịt của tôi và nhận ra nó không đạt tiêu chuẩn.

“Thật là khủng khiếp,” tôi nói với Patrick rồi băn khoăn tự hỏi liệu mình có thể gọi món bánh kem mà không bị tất cả bọn họ ném cho những cái nhìn sét đánh không. “Người yêu và bạn thân nhất của anh ta.”

“Em chẳng trách cô ấy được,” anh nói. “Không phải thật lòng em đang muốn nói em sẽ ở bên cạnh anh nếu anh bị liệt từ cổ xuống đấy chứ?”

“Dĩ nhiên là em sẽ ở bên anh rồi.”

“Không, em sẽ không làm thế đâu. Và anh cũng không chờ đợi em làm như vậy.”

“Có đấy, em sẽ ở bên anh thật.”

“Nhưng anh sẽ không muốn em ở đó. Anh sẽ chẳng muốn ai ở bên mình chỉ vì lòng thương hại.”

“Ai nói đó là lòng thương hại? Trong tâm hồn anh vẫn là con người cũ thôi mà.”

“Không đâu. Anh sẽ chẳng còn gì giống con người cũ.” Anh nhăn mũi. “Anh sẽ không muốn sống nữa. Dựa dẫm vào những người khác từng giây từng phút. Để những người lạ chùi đít cho…”

Một anh chàng trọc lóc ngó đầu vào giữa hai chúng tôi. “Pat,” anh ta nói, “cậu đã uống thử loại nước ép mới đó chưa? Tuần trước có một lon nước tăng lực trong ba-lô của tớ. Chưa từng thấy cái gì như vậy.”

“Tớ chưa uống, Trig. Mỗi ngày cho tớ một trái chuối và một chai Lucozade là được rồi.”

“Dazzer đã uống một lon Diet Coke khi đang lướt trực thăng Norseman. Nôn sạch khi lên đến độ cao một ngàn mét. Chúa ơi, bọn tớ cười đau cả bụng.”

Tôi nở một nụ cười yếu ớt.

Cái đầu trọc biến mất và Patrick quay lại nhìn tôi, rõ ràng vẫn đang băn khoăn về số phận của Will. “Chúa ơi. Hãy nghĩ đến tất cả những thứ mình không thể làm được…” Anh lắc đầu. “Không thể chạy, không đạp xe đạp được nữa.” Anh nhìn tôi như thể điều đó vừa xảy ra với anh. “Không thể làm tình được nữa.”

“Dĩ nhiên là người ta có thể làm tình chứ. Chỉ có điều là người phụ nữ phải nằm trên.”

“Rồi sau đó chúng ta sẽ nhèo một đống.” “Nực cười.”

“Rồi nữa, nếu bị liệt từ cổ xuống thì anh đoán nhé cái… ừm… cái xe lăn không thể hoạt động được như ý muốn đâu.”

Tôi nghĩ đến Alicia. Tôi đã cố gắng, cô nói. Tôi thật sự đã cố gắng. Trong nhiều tháng.

“Em chắc nó có thể hoạt động ổn thỏa với một số người chứ. Dù sao vẫn phải có một cách nào đó cho những chuyện này chứ nếu như anh… tưởng tượng.”

“Haha.” Patrick uống một ngụm nước. “Ngày mai em sẽ phải hỏi anh ta thôi. Xem nào, em bảo là anh ta rất kinh khủng. Biết đâu anh ta đã rất kinh khủng từ trước khi bị tai nạn rồi. Biết đâu đó mới là lý do thực sự vì sao cô ấy rời bỏ anh ta thì sao. Em đã bao giờ nghĩ thế chưa?”

“Em không biết nữa…” Tôi nghĩ về những tấm hình. “Trông họ có vẻ như đã là một đôi rất hạnh phúc.” Nhưng mà, một tấm hình thì chứng minh được điều gì chứ? Tôi có một khung ảnh đặt ở nhà, trong bức hình tôi đang cười tươi roi rói với Patrick như thể anh vừa lôi tôi ra khỏi một tòa nhà cháy dở, vậy mà trong thực tế lúc đó tôi vừa mới gọi anh là “gã thúi” còn anh hét trả, “Ôi, khốn kiếp!”

Patrick không còn hứng thú nữa. “Này, Jim… Jim, cậu đã xem qua loại xe đạp siêu nhẹ mới chưa? Thấy ngon không?”

Tôi để anh chuyển chủ đề, rồi ngồi nghĩ về những điều Alicia đã nói. Tôi có thể tưởng tượng ra rõ ràng chuyện Will đẩy cô ấy ra xa. Nhưng chẳng phải khi yêu ai đó thì nhiệm vụ của chúng ta là phải gắn bó với họ sao? Để giúp họ vượt qua đau khổ? Khi đau ốm cũng như khi khỏe mạnh, đại loại thế?

“Em uống thêm gì không?”

“Vodka tonic. Loại tonic giảm béo ấy,” tôi nói khi anh nhướng lông mày lên nhìn.

Patrick nhún vai rồi đi về phía quầy bar.

Tôi bắt đầu cảm thấy hơi có lỗi về cách chúng tôi bàn luận về ông chủ của tôi. Nhất là khi tôi nhận ra rằng có lẽ anh ta luôn phải chịu đựng điều đó. Hầu như không thể nào không suy luận về các khía cạnh riêng tư trong cuộc sống của anh ta. Tôi dừng lại. Đang có cuộc nói chuyện về một khóa tập luyện cuối tuần ở Tây Ban Nha. Tôi chỉ nghe câu được câu chăng, cho đến khi Patrick xuất hiện trở lại bên cạnh tôi và huých vào khuỷu tay tôi.

“Thích nó không?” “Cái gì cơ?”

“Cuối tuần ở Tây Ban Nha. Thay cho kỳ nghỉ ở Hy Lạp. Em có thể nằm nghỉ bên hồ bơi nếu em không khoái vụ đạp xe bốn mươi dặm. Chúng ta có thể đặt vé máy bay giá rẻ. Đặt trước sáu tuần. Bây giờ mình đang bàn về chuyện đó…”

Tôi nghĩ đến bà Traynor. “Em không biết nữa… Em không chắc họ có đồng tình cho em nghỉ phép quá sớm như vậy không.”

“Thế em thấy sao nếu anh đi? Anh thật sự rất thích tham dự các cuộc tập luyện ở những vùng cao so với mặt nước biển. Anh đang nghĩ đến việc làm một vụ lớn đây.”

“Vụ lớn thế nào cơ?”

“Một cuộc thi thể thao ba môn kết hợp. Xtreme Viking. Sáu mươi dặm đạp xe, ba mươi dặm đi bộ và bơi một đoạn thật dài trên vùng biển Bắc Âu có nhiệt độ âm.”

 

Người ta luôn nói tới người Viking bằng giọng sùng kính, những người đã nỗ lực chịu đựng thương tích giống như những tay lính kỳ cựu của một cuộc chiến tranh đặc biệt tàn khốc nào đó thuở xưa. Anh chép môi chờ đợi. Tôi nhìn bạn trai và băn khoăn tự hỏi phải chăng thật tình anh là người ngoài hành tinh. Tôi thoáng nghĩ rằng tôi thích anh hơn khi anh còn là người bán hàng qua điện thoại và không thể đi qua một trạm bán xăng mà không mua cất dành mấy thanh sô-cô-la Mars.

“Anh sẽ tham gia thật đấy hả?”

“Sao không chứ? Anh chưa bao giờ khỏe mạnh hơn giờ.”

Tôi suy nghĩ về tất cả những cuộc tập luyện đặc biệt đó – những câu chuyện không bao giờ dứt về cân nặng và độ dài đường đua, sự cân đối và sức dẻo dai. Giờ đây thật quá khó để có được sự quan tâm của Patrick dù với bất cứ chuyện gì.

“Em có thể tham gia cùng anh mà,” anh nói mặc dù cả hai chúng tôi đều biết rằng anh không tin như vậy.

“Em sẽ để mặc anh với trò ấy thôi,” tôi nói. “Đúng thế đấy. Anh cứ tham gia đi.” Tôi nói. Rồi sau đó tôi gọi bánh kem.

Nếu tôi nghĩ những sự kiện xảy ra ngày hôm qua có thể làm tan băng giá tại dinh thự Granta thì tôi đã nhầm.

Tôi chào Will với một nụ cười tươi rói và tiếng chào vui vẻ còn anh ta thậm chí chẳng buồn rời mắt khỏi khung cửa sổ.

“Không phải là một ngày tốt lành rồi,” Nathan lẩm bẩm, khi ông choàng chiếc áo khoác lên vai.

Đó là một buổi sáng u ám, trời đầy mây đen tối sầm, mưa tạt không ngừng vào những khung cửa sổ và thật khó tưởng tượng mặt trời còn có thể ló ra được nữa.

Đến cả tôi cũng thấy buồn bã trong một ngày như thế này. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Will cảm thấy tồi tệ hơn. Tôi bắt đầu công việc với những việc lặt vặt vào buổi sáng, nhắc nhở bản thân từng giây phút rằng đó chẳng phải vấn đề gì đáng kể. Dù sao ta đâu cần phải thích ông chủ, đúng không? Rất rất nhiều người không thích ông chủ của họ. Tôi nghĩ đến bà chủ của Treena, một phụ nữ ly dị nhiều lần có khuôn mặt cứng đờ, bà ta luôn theo dõi xem em gái tôi vào nhà vệ sinh bao nhiêu lần và luôn đưa ra những lời bình luận gai góc khi thấy bọng đái của nó hoạt động quá số lần thông thường. Hơn nữa, tôi đã làm việc ở đây được hai tuần. Điều đó có nghĩa chỉ còn năm tháng mười ba ngày làm việc nữa là được ra đi.

Những tấm hình vẫn nằm gọn gàng trong ngăn cuối của tủ ngăn kéo, nơi ngày hôm qua tôi đã đặt chúng, lúc này đây tôi cúi xuống sàn nhà bắt đầu lôi chúng ra để phân loại, nhận định xem những chiếc khung nào còn sửa được. Tôi sửa đồ khá giỏi. Ngoài ra, tôi nghĩ đó có thể là một cách hữu ích để giết thời gian.

Tôi loay hoay với việc này được mươi phút thì tiếng rì rì khe khẽ của chiếc xe lăn gắn động cơ báo cho tôi biết sự có mặt của Will.

Anh ta ngồi đó ngay cửa ra vào, nhìn thẳng vào tôi. Mắt anh ta thâm quầng. Thỉnh thoảng Nathan vẫn nói với tôi anh ta hầu như không ngủ được. Tôi không muốn nghĩ xem cảm giác đó sẽ như thế nào, nằm bẹp trên giường không dậy được cùng với những ý nghĩ tăm tối triền miên trong não suốt mấy giờ đồng hồ.

“Tôi nghĩ tôi nên xem coi có sửa được cái khung nào không,” tôi nói, giơ một cái khung lên. Trong khung là bức ảnh chụp anh ta đang thực hiện một cú nhảy bungee. Tôi cố tỏ ra vui tươi. Anh ấy cần một ai đó lạc quan, một ai đó vui vẻ.

“Tại sao?”

Tôi chớp mắt. “À… tôi nghĩ vài cái khung vẫn còn sửa được. Tôi mang theo keo dán gỗ đây rồi, nếu anh vui lòng để tôi thử dán chúng. Hoặc nếu anh muốn thay mới, giờ nghỉ trưa tôi có thể vào thị trấn để tìm mua vài chiếc. Hoặc hai chúng ta cùng đi, nếu anh muốn đi ra ngoài một chút…”

“Ai mượn cô sửa khung ảnh cơ chứ?” Anh ta nhìn chòng chọc không chớp mắt.

Ôi ôi, tôi nghĩ. “Tôi… tôi chỉ muốn giúp thôi.”

“Cô muốn sửa chữa lại những gì tôi đã làm ngày hôm qua.” “Tôi…”

“Cô có hiểu cái gì không, Louisa? Sẽ tốt hơn – dù chỉ một lần duy nhất thôi – nếu có ai đó quan tâm đến điều tôi muốn. Việc tôi đập tan đống ảnh đó không phải là một tai nạn. Đó chẳng phải là một nỗ lực thay đổi thiết kế nội thất theo hướng hiện đại. Đó là bởi vì tôi thật sự không muốn nhìn thấy chúng.”

Tôi đứng dậy. “Tôi xin lỗi. Tôi không nghĩ là…”

“Cô nghĩ là cô biết hết mọi điều. Tất cả mọi người đều nghĩ họ biết tôi cần gì. Hãy để những tấm hình phải gió này vào chỗ cũ. Cho gã tàn phế đáng thương kia cái gì đó để ngắm. Tôi không muốn những tấm hình chết tiệt đó chĩa vào tôi bất cứ khi nào tôi bẹp gí trên giường cho đến khi nào một kẻ chết tiệt nào đó đến lôi tôi ra khỏi giường. Được chứ? Cô có nghĩ là cái đầu cô hiểu được chuyện đó không?”

Tôi nuốt khan. “Tôi sẽ không lắp những tấm hình có Alicia – tôi không ngốc đến vậy… tôi chỉ nghĩ là trong một chốc anh có thể cảm thấy…”

“Ôi Chúa ơi…” Anh ta quay đi, giọng điệu rất gay gắt. “Tha cho tôi những liệu pháp tâm lý đó đi. Hãy đi đọc mấy quyển tạp chí nhảm nhí chết tiệt hoặc làm bất cứ việc gì những khi cô không phải pha trà.”

Hai má tôi đỏ chín. Tôi nhìn anh ta di chuyển trong hành lang chật hẹp, tiếng nói của tôi phát ra trước khi tôi kịp hiểu tôi đang làm gì.

“Anh không cần phải cư xử khốn kiếp như vậy đâu.” Từng từ vang lên trong không gian im ắng.

Chiếc xe lăn dừng lại. Một khoảng tĩnh lặng kéo dài rồi sau đó anh ta đảo xe và từ từ quay lại, nhìn thẳng vào tôi, bàn tay anh ta đặt trên chiếc cần điều khiển nhỏ.

“Gì cơ?”

Tôi nhìn anh ta, tim đập thình thịch. “Những người bạn của anh đã bị anh coi không ra gì. Rồi. Có lẽ họ đáng bị đối xử như vậy. Nhưng tôi đến đây ngày này qua ngày khác chỉ để cố gắng làm tốt nhất những việc tôi có thể. Vì thế tôi thật sự sẽ đánh giá cao nếu anh không khiến cuộc sống của tôi đáng chán giống như anh hành động với cuộc sống của tất cả những người khác.”

Hai mắt Will mở to. Anh ta ngập ngừng một chút rồi cất tiếng. “Thế nếu tôi nói với cô tôi không muốn cô ở đây thì sao?”

“Tôi không làm việc cho anh. Tôi làm việc cho mẹ anh. Và trừ phi bà ấy bảo với tôi là bà ấy không cần tôi ở đây nữa chứ không thì tôi vẫn sẽ làm việc. Không phải bởi vì tôi đặc biệt quan tâm tới anh hay yêu thích cái công việc ngớ ngẩn này hay muốn thay đổi cuộc đời anh theo cách này hay cách khác, mà là bởi vì tôi cần tiền. Được chứ? Tôi thật sự rất cần tiền.”

Vẻ mặt Will Traynor bề ngoài không thay đổi nhiều nhưng tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy một thoáng ngạc nhiên như thể anh ta không quen với việc bị người ta bật lại.

Quỷ tha ma bắt, tôi nghĩ, khi hiện thực về những điều tôi vừa làm bắt đầu hiển hiện. Lần này mình làm hỏng bét mọi chuyện rồi.

Nhưng Will chỉ nhìn tôi chằm chằm trong giây lát, rồi khi tôi chưa quay đi, anh ta thở ra khe khẽ như đang muốn nói một điều gì buồn bã.

“Hiểu rồi,” anh ta nói rồi quay xe đi. “Cô cứ bỏ tất cả vào ngăn cuối tủ kéo, được chứ? Tất cả.”

Rồi cùng với tiếng xe lăn rì rì, anh ta biến mất. 

Chương 5

Vấn đề của việc bị ném mạnh vào một cuộc đời hoàn toàn mới – hay ít nhất cũng là bị xô cật lực vào cuộc đời của người khác mà ở đó bạn phải cùng gí mặt vào ô cửa sổ nhà họ – nằm ở chỗ nó bắt bạn phải nghĩ lại về ý niệm bạn là ai. Hoặc trong mắt kẻ khác bạn là người như thế nào.

Với bố mẹ, tất cả những gì tôi mang lại trong bốn tuần ngắn ngủi là thêm đôi ba chút thú vị. Giờ đây tôi là cầu nối tới một thế giới khác. Đặc biệt là mẹ tôi, ngày nào mẹ cũng hỏi đủ thứ về dinh thự Granta và những thói quen trong gia đình đó theo cái cách mà một nhà động vật học say mê nghiên cứu một sinh vật mới lạ lùng và môi trường sống của nó. Mẹ hay hói “Bữa ăn nào bà Traynor cũng dùng khăn ăn bằng vải lanh à?” hoặc, “Họ làm gì với khoai tây?”

Sáng nào tiễn tôi đi làm mẹ cũng nghiêm khắc chỉ đạo tôi tìm hiểu xem họ dùng giấy vệ sinh của hãng nào, liệu có phải ga nhà họ đều là vải poly-cotton không. Tôi hầu như chẳng nhớ được lần nào, điều đó khiến mẹ vô cùng thất vọng. Mẹ tôi thầm tin rằng người quyền quý sống giống loài lợn – kể từ năm tôi lên sáu, khi tôi kể cho mẹ nghe về một bạn con nhà giàu cùng lớp, mẹ bạn ấy không cho chúng tôi chơi ở gian sảnh “vì chúng tôi sẽ quấy rối bụi bặm.”

Khi tôi về nhà tường thuật lại rằng, phải, tất nhiên là chó được phép ăn trong phòng bếp, hoặc là, không, không phải ngày nào nhà Traynor cũng lau chùi bậc tam cấp như mẹ, mẹ sẽ bĩu môi, liếc sang bố và khẽ gật đầu thỏa mãn, như thể tôi vừa thừa nhận mọi điều bà vốn đã nghi ngờ về tình trạng ăn ở lôi thôi luộm thuộm của giới thượng lưu.

Sự phụ thuộc của bố mẹ vào thu nhập của tôi, hay có lẽ là chuyện họ biết tôi thật sự không ưa công việc này, đồng nghĩa với việc tôi cũng nhận được thêm một chút tôn trọng trong nhà. Thật ra điều này cũng không có ý nghĩa gì nhiều – trong trường hợp của bố tôi, nó có nghĩa là bố thôi gọi tôi là “nàng mập”, còn với mẹ tôi, nó có nghĩa là thường có một tách trà đợi sẵn khi tôi về nhà.

Với Patrick, và với em gái tôi, tôi chẳng khác trước chút nào – vẫn là trung tâm của chọc ngoáy, vẫn là nơi nhận những cái ôm hôn, những giận hờn. Trong tôi cũng không thấy có gì thay đổi. Trông tôi vẫn như cũ, vẫn ăn mặc – theo lời Treen – giống như tôi đã có một trận đấu vật trong cửa hàng từ thiện.

Tôi không hay biết hầu hết mọi người trong dinh thự Granta nghĩ gì về tôi. Will thì khó dò. Với Nathan, tôi nghĩ tôi chỉ là người mới nhất trong chuỗi dài những người chăm sóc được thuê. Ông khá thân tình, nhưng hơi tư lự. Tôi có cảm giác ông không tin tôi sẽ trụ ở đây lâu. Ông Traynor thường lịch sự gật đầu chào mỗi khi chúng tôi đi qua nhau trong sảnh, thỉnh thoảng hỏi tôi giao thông hôm đó thế nào, hoặc tôi đã ổn mọi việc ở đó chưa. Tôi không chắc ông có thể nhận ra tôi không nếu ông được giới thiệu về tôi trong một hoàn cảnh khác.

Còn với bà Traynor – ôi trời ơi – với bà Traynor, tôi rõ ràng là người ngớ ngẩn vô tích sự nhất hành tinh.

Điều đó khơi nguồn từ chuyện khung ảnh. Chẳng có điều gì trong ngôi nhà đó lọt khỏi tầm mắt của bà Traynor, và lẽ ra tôi phải biết trước rằng chuyện vỡ khung ảnh to tát chẳng kém gì một vụ động đất. Bà vặn vẹo tôi xem chính xác thì tôi đã bỏ Will một mình trong bao lâu, điều gì đã khiến tôi làm thế, tôi dọn dẹp đống hỗn độn nhanh chậm thế nào. Thật tình bà không chỉ trích tôi – bà quá quý phái nên không thể dù chỉ cao giọng – nhưng cái cách bà chầm chậm chớp mắt trước những câu trả lời của tôi, tiếng hư-hử khe khẽ của bà khi tôi nói, bảo với tôi mọi điều tôi cần biết. Tôi chẳng ngạc nhiên khi Nathan nói với tôi rằng bà là quan tòa.

Bà nghĩ sẽ là một ý hay nếu lần tới tôi không bỏ mặc Will lâu như vậy, dù tình huống có khó xử tới mức nào, hử? Bà nghĩ có lẽ lần lau dọn tiếp theo, tôi nên đảm bảo rằng mọi thứ không quá gần mép để tránh trường hợp chẳng may chúng rơi xuống sàn, hử? (Dường như bà thích tin rằng đó là một tai nạn thì hơn.) Bà khiến tôi cảm thấy mình giống một con ngốc thượng hạng khi ở cạnh bà. Bà luôn xuất hiện ngay khi tôi đánh rơi thứ gì đó xuống sàn, hoặc đang đánh vật với nút vặn bếp lò, hoặc bà sẽ đứng ngay giữa lối đi nhìn với vẻ hơi bực bội lúc tôi bước vào nhà sau khi đi lấy củi bên ngoài, như thể tôi đã đi lâu hơn rất nhiều so với mức cần thiết.

Lạ lùng là thái độ của bà khiến tôi thấy sợ hơn sự thô lỗ của Will. Đôi lần tôi rất muốn hỏi thẳng bà xem có gì sai quấy không. Tôi muốn nói, Bà đã bảo bà mướn tôi vì thái độ của tôi chứ không phải kỹ năng nghiệp vụ cơ mà. Ồ, thì tôi đây, cứ tươi vui dù ngày nào cũng thật nghiệt ngã. Rất mạnh khỏe, đúng như bà mong muốn. Thế thì vấn đề của bà là gì đây?

Nhưng Camilla Traynor không phải kiểu phụ nữ mà ta có thể nói ra điều đó. Vả chăng, tôi có cảm giác là trong nhà đó chưa từng có ai nói thẳng điều gì với ai.

“Lily, cô giúp việc gần đây của chúng tôi, có thói quen rất thông minh là sử dụng cái chảo đó cho hai loại rau cùng một lúc,” có nghĩa Cô làm ăn lộn xộn quá.

“Con có muốn uống trà không Will,” thực sự có nghĩa Mẹ chẳng biết phải nói gì với con cả.

“Mẹ nghĩ có mấy công việc giấy tờ mẹ cần sắp xếp,” có nghĩa Con thô lỗ quá, mẹ ra khỏi cái phòng này đây. Tất cả những lời ấy luôn thốt ra cùng nét mặt thoáng đau thương, và những ngón tay gầy rộc cứ kéo cây thập ác lên xuống trên sợi dây chuyền. Bà quá kín kẽ, quá dè chừng. Bà khiến tôi thấy mẹ mình chẳng khác gì Amy Winehouse. Tôi mỉm cười lịch sự, vờ như tôi chẳng để ý thấy điều gì, chỉ làm công việc mà tôi được trả công để làm.

Hoặc chí ít, tôi cố tỏ ra như thế.

“Sao cô cứ giấu cà-rốt vào đĩa của tôi thế?”

Tôi liếc nhìn xuống đĩa thức ăn. Tôi đang mải nhìn cô phát thanh viên trên ti- vi và tự nghĩ không biết tóc mình sẽ thế nào nếu nhuộm cùng màu đó.

“Gì ạ? Đâu có.”

“Rõ là có. Cô nấu cà-rốt cho nhừ rồi cố che giấu trong nước xốt. Tôi thấy rồi.”

Tôi đỏ mặt. Anh ta nói đúng. Tôi đang ngồi đút cho Will ăn, trong khi hai chúng tôi cùng lơ đãng xem bản tin trưa. Bữa ăn có bò nướng và khoai tây hầm. Mẹ anh ta bảo tôi bỏ ba loại rau củ vào đĩa, dù anh ta đã nói rõ ràng rằng hôm nay anh ta không muốn ăn rau. Tôi không nghĩ có bữa ăn nào mà tôi được chỉ dẫn chuẩn bị lại hoàn toàn thiếu cân bằng dinh dưỡng tới vậy.

“Sao cô cứ cố nhồi cà-rốt cho tôi?” “Đâu có.”

“Thế không có cà-rốt trong món đó hả?”

Tôi nhìn vào những mẩu nhỏ xíu màu cam. “Ừm… à…” Anh ta nhướng mày chờ đợi.

“Ờ… tôi cho là tôi đã nghĩ rau sẽ rất tốt cho anh, phải không ạ?”

Chuyện này một phần là vì vâng lời bà Traynor, một phần là vì thói quen. Tôi thường xuyên cho Thomas ăn, rau của nó phải xay nhuyễn và giấu dưới từng ụ khoai tây, hoặc che trong những mẩu mì ống. Qua mặt được nó mẩu rau nào là chúng tôi lại thấy như một thắng lợi nho nhỏ.

“Để tôi nói thẳng chuyện này nhé. Cô nghĩ một thìa cà-phê cà-rốt sẽ làm tăng chất lượng cuộc sống của tôi hả?”

Thật ngớ ngẩn khi anh ta đánh giá chuyện này như thế. Nhưng tôi đã học được rằng điều quan trọng là không được tỏ ra ngạc nhiên trước bất kỳ điều gì Will làm hoặc nói. “Tôi hiểu ý anh rồi,” tôi nói bình thản. “Tôi sẽ không làm thế nữa.”

Thế rồi bỗng dưng, Will Traynor cười khanh khách. Cơn cười bật ra khiến anh ta thở hổn hển, như thể đây là chuyện vô cùng bất ngờ.

“Vì Chúa,” anh ta lắc đầu. Tôi nhìn anh ta chằm chằm.

“Cô đã lén cho thứ chết tiệt gì nữa vào thức ăn của tôi vậy? Tiếp theo cô sẽ bảo tôi mở đường hầm để Ngài Tàu hỏa có thể giao gửi ít cải Brussel mềm cho nhà ga đỏ.”

Tôi suy nghĩ điều này trong một phút. “Không,” tôi nói, mặt nghiêm trang. “Tôi chỉ xoay xở với Ngài Dĩa thôi. Ngài Dĩa trông chẳng giống con tàu chút nào.”

Thomas đã bảo với tôi như vậy, rất đinh ninh, mấy tháng trước. “Mẹ tôi đã bảo cô làm thế này à?”

“Không. Nghe này, Will, tôi xin lỗi. Tôi chỉ… không nghĩ.” “Kiểu như thế là bất bình thường.”

“Được rồi, được rồi. Tôi sẽ bỏ món cà-rốt phải gió này ra, nếu nó thực sự khiến anh bực mình tới vậy.”

“Không phải món cà-rốt phải gió làm tôi bực mình. Mà là chuyện cà-rốt giấu trong thức ăn của tôi bởi một cô nàng dở hơi cứ gọi dao dĩa và Quý ngài và Quý bà Dĩa.”

“Chỉ đùa thôi mà. Nghe này, để tôi lấy cà-rốt đi và…”

Anh ta quay đi. “Tôi không muốn ăn gì nữa. Chỉ cần pha cho tôi một tách trà.” Anh ta gọi với theo khi tôi rời khỏi phòng, “Và đừng có cố nhét bầu đất chết giẫm vào trà đấy.”

Nathan bước vào khi tôi vừa rửa xong đĩa. “Tâm trạng cậu ấy đang tốt,” ông nói, khi tôi đưa ông một tách trà.

“Thật sao?” Tôi đang ăn sandwich trong phòng bếp. Ngoài trời lạnh thấu xương thấu phổi, và chẳng hiểu sao gần đây không khí trong nhà có cảm giác không còn căng thẳng như trước.

“Cậu ấy nói cô đang cố đầu độc cậu ấy. Nhưng cậu ấy nói chuyện đó – cô biết đấy – với giọng vui vẻ.”

Thông tin này khiến tôi thấy vui sướng một cách kỳ cục. “À… ừm…” Tôi nói, cố che giấu cảm xúc đó. “Cứ đợi đấy.”

“Cậu ấy còn nói đôi điều nữa. Có nhiều tuần cậu ấy chẳng nói một lời nào, nhưng rõ ràng là mấy ngày gần đây cậu ấy đã chịu nói chút ít.”

Tôi nghĩ tới lúc Will bảo tôi nếu tôi không thôi cái trò huýt sáo dở hơi đi thì anh ta sẽ buộc phải tống cổ tôi đi. “Tôi nghĩ định nghĩa của anh ta và của tôi về hay nói có phần khác nhau.”

“À, chúng tôi đã nói đôi điều về cricket. Và tôi phải nói với cô…” Nathan hạ giọng “… Khoảng một tuần trước bà T hỏi tôi nghĩ cô có làm được việc không. Tôi nói tôi nghĩ cô rất chuyên nghiệp, nhưng tôi biết rằng bà ấy không định hỏi chuyện đó. Thế nên hôm qua bà ấy vào bảo với tôi rằng bà ấy nghe thấy hai cô cậu đang cười.”

Tôi nhớ lại chập chiều hôm qua. “Anh ấy cười tôi,” tôi nói. Will thấy thật ngộ nghĩnh khi tôi không biết sốt pesto là gì. Tôi đã bảo với anh ta bữa tối là “mì ống trộn nước xốt xanh xanh.”

“À, bà ấy không quan tâm đâu. Đã quá lâu rồi cậu ấy chẳng cười trước điều gì.”

Quả thực là thế. Will và tôi dường như đã tìm được cách dễ dàng hơn để ở cạnh nhau. Nó chủ yếu xoay quanh cách anh ta thô lỗ với tôi, và đôi khi tôi cũng thô lỗ lại. Anh ta nói gì đó không êm tai với tôi, tôi bật lại rằng nếu chuyện ấy thực sự quan trọng với anh thì hãy hỏi tôi cho tử tế. Anh ta nhiếc tôi, hoặc gọi tôi là kẻ lắm điều rắc rối, thì tôi sẽ bảo anh ta cứ thử không có kẻ lắm điều rắc rối này coi anh ta chịu được bao lâu. Cách này cần nỗ lực đôi chút, nhưng dường như nó hiệu quả với cả hai chúng tôi. Đôi khi thậm chí dường như anh ta cảm thấy nhẹ nhõm khi có người chuẩn bị cư xử thô lỗ với anh ta, cãi vã hoặc nói anh ta là kẻ tồi tệ. Tôi có cảm giác là mọi người đều rón chân quanh anh ta kể từ sau vụ tai nạn – có lẽ chỉ trừ Nathan, dường như Will đối xử với sự tôn trọng tự nhiên, còn ông thì miễn nhiễm với những lời bình luận châm chích của anh ta. Nathan giống như cỗ xe tăng đội lốt người.

“Cô chỉ cần đảm bảo rằng cô vẫn sẽ là trung tâm trêu chọc của cậu ấy, được chứ?”

Tôi đặt cái tách vào bồn rửa. “Tôi nghĩ chuyện đó không thành vấn đề.”

Một thay đổi lớn nữa, ngoại trừ sự thay đổi không khí trong ngôi nhà, là Will không thường xuyên bảo tôi để anh ta một mình như trước nữa, và có đôi buổi chiều anh ta còn hỏi tôi có muốn ở lại xem phim với anh ta không. Tôi chẳng quá phiền khi đó là phim The Terminator (Kẻ hủy diệt) – dù tôi đã xem trọn các tập phim Kẻ hủy diệt – nhưng khi anh ta chiếu cho tôi bộ phim của Pháp có phụ đề thì tôi liếc nhanh lên bìa đĩa rồi nói tôi nghĩ có lẽ tôi không nên tham gia.

“Tại sao?”

Tôi nhún vai. “Tôi không thích xem phim với phụ đề.”

“Thế thì khác gì nói cô không thích xem phim có diễn viên nam. Đừng có ngớ ngẩn thế. Cô không thích gì ở nó chứ? Chuyện cô vừa phải đọc vừa phải xem à?”

“Chỉ là tôi không thích phim nước ngoài.”

“Mọi phim sau phim Local Bloody Hero (Nhiệt huyết anh hùng) đều là phim nước ngoài cả. Cô nghĩ Hollywood là ngoại ô Birmingham chắc?”

“Buồn cười thật.”

Anh ta không tin nổi khi tôi thừa nhận thực sự tôi chưa bao giờ xem phim có phụ đề. Nhưng bố mẹ tôi thường chiếm quyền sở hữu cái điều khiển ti-vi vào buổi tối, còn Patrick thì thích xem phim nước ngoài cũng chẳng kém gì thích đề nghị chúng tôi tham gia lớp học thêu thùa buổi tối. Rạp chiếu phim ở thị trấn gần nhà chúng tôi nhất chỉ chiếu những bộ phim hành động hoặc phim hài lãng mạn mới nhất, cái rạp đó quá ồn ào với lũ trẻ mặc áo chui đầu la hò ầm ĩ mà đa phần người dân quanh thị trấn ấy hiếm khi để tâm.

“Cô phải xem phim này, Louisa. Nói thật nhé, tôi lệnh cho cô xem phim này.” Will lùi xe lại, hất đầu về chiếc ghế bành. “Kia. Cô ngồi kia. Phim chưa hết thì đừng có mà đi đâu. Chưa bao giờ xem phim nước ngoài. Chúa ơi,” anh ta lầm bầm.

Đó là một bộ phim cũ, kể về một anh gù được thừa kế một ngôi nhà ở miền quê nước Pháp, Will nói nó dựa trên một cuốn sách nổi tiếng, nhưng tôi nói tôi chưa từng nghe về tác phẩm ấy. Hai mươi phút đầu tôi cứ ngọ nguậy không yên, bực mình khi phải đọc phụ đề và tự hỏi Will có nổi giận không nếu tôi bảo là tôi cần đi tiểu.

Thế rồi có điều gì đó xảy ra. Tôi thôi nghĩ về chuyện thật quá khó khi phải vừa xem vừa nghe, quên luôn thời gian biểu dùng thuốc của Will, quên nỗi băn khoăn không biết bà Traynor có nghĩ tôi đang chây lười không, tôi bắt đầu lo lắng cho người đàn ông tội nghiệp và gia đình anh ta, đang bị đám hàng xóm độc ác gài bẫy. Khi Anh Gù chết, tôi khóc lặng lẽ, quệt nước mũi vào ống tay áo.

“Thế nào,” Will nói, xuất hiện bên cạnh tôi. Anh ta ranh mãnh liếc nhìn tôi. “Cô không thích xem phim đó chút nào hả.”

Tôi ngước lên, ngạc nhiên khi nhận ra bên ngoài trời đã tối sầm. “Giờ thì anh hả hê rồi phải không?” Tôi lầm bầm, với tay lấy hộp khăn giấy.

“Một chút. Tôi chỉ kinh ngạc khi cô đã tới độ tuổi trưởng thành là – bao nhiêu nhỉ?”

“Hai sáu.”

“Hai sáu, mà chưa từng xem bộ phim phụ đề nào.” Anh ta nhìn tôi lau mắt. Tôi liếc xuống khăn giấy thì nhận ra mình không còn chút mascara nào nữa.

“Tôi chẳng thấy chuyện đó là bắt buộc,” tôi gầm gừ.

“Được rồi. Thế cô làm gì với bản thân, Louisa Clark, nếu cô không xem phim?”

Tôi vo khăn giấy trong nắm tay. “Anh muốn biết tôi làm gì khi tôi không ở đây hả?”

“Cô là người muốn chúng ta biết về nhau mà. Thế thì nói đi nào, kể tôi nghe về cô.”

Anh ta có cái kiểu nói khiến người khác không bao giờ dám chắc anh ta không hề bỡn cợt họ. Tôi đang chờ anh ta tiếp tục trò bỡn cợt. “Tại sao?” tôi hỏi. “Tại sao tự nhiên anh lại muốn biết vậy?”

“Ôi, vì Chúa. Đó đâu phải bí mật quốc gia gì chứ, cuộc sống xã hội của cô ấy mà, phải không?” Anh ta bắt đầu tỏ ra bực bội.

“Tôi không biết…” tôi nói. “Tôi đi uống ở quán rượu. Thỉnh thoảng xem ti-vi. Tôi đi xem bạn trai chạy. Không thường xuyên lắm.” “Cô xem bạn trai chạy.”

“Phải.”

“Mà bản thân cô không chạy.”

“Không. Tôi không thực sự” – tôi liếc nhìn xuống ngực – “sinh ra để chạy.” Câu đó khiến anh ta mỉm cười.

“Còn gì khác nữa?”

“Còn gì khác ư, ý anh là sao?”

“Sở thích? Du lịch? Những nơi cô thích tới?”

Giọng anh ta đang bắt đầu nghe giống giọng ông thầy dạy nghề cũ của tôi.

Tôi cố nghĩ. “Tôi không thật sự có sở thích. Thỉnh thoảng tôi đọc. Tôi thích quần áo.”

“Xoàng,” anh ta nói cộc lốc.

“Anh hỏi mà. Thật sự tôi không phải người có nhiều sở thích.” Giọng tôi trở nên phòng vệ lạ thường. “Tôi không làm gì nhiều, được chưa? Tôi đi làm rồi về nhà thôi.”

“Cô sống ở đâu?”

“Phía bên kia tòa lâu dài. Đường Renfrew.”

Trông anh ta ngơ ngác không rõ. Tất nhiên là thế rồi. Có quá ít xe cộ qua lại giữa hai đầu lâu đài. “Nó ở cuối con đường hai làn. Gần quán McDonald.”

Anh ta gật đầu, nhưng tôi không chắc anh ta có thật sự biết nơi tôi đang nói tới không.

“Ngày nghỉ thì sao?”

“Tôi từng tới Tây Ban Nha, với Patrick. Bạn trai tôi,” tôi nói thêm. “Khi còn nhỏ, chúng tôi chỉ tới Dorset. Hoặc Tenby. Dì tôi sống ở Tenby.”

“Thế cô muốn gì?” “Tôi muốn gì là sao?”

“Từ cuộc sống của cô ấy mà?”

Tôi chớp mắt. “Như thế hơi sâu quá đấy nhỉ?”

“Chỉ chung chung thôi. Tôi đâu có đòi hỏi cô phân tích bản thân. Tôi chỉ hỏi, cô muốn gì? Kết hôn? Đẻ ra mấy nhóc? Công việc mơ ước? Du lịch thế giới?”

Tôi im lặng hồi lâu.

Tôi nghĩ trước khi nói ra những lời này tôi đã biết câu trả lời của mình sẽ khiến anh ta thất vọng. “Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều đó.”

Vào thứ Sáu, chúng tôi đi bệnh viện. Tôi mừng vì tôi không biết về cuộc hẹn của Will trước khi tôi tới làm sáng đó, vì nếu biết tôi sẽ nằm chong mắt suốt đêm lo lắng chuyện phải chở anh ta tới đó. Tôi biết lái xe, đúng. Nhưng tôi nói tôi biết lái xe đúng với cách tôi nói tôi biết nói tiếng Pháp. Phải, tôi đã tham gia kỳ sát hạch thích đáng và vượt qua. Nhưng từ khi có bằng tôi không sử dụng kỹ năng đặc biệt đó quá một lần mỗi năm. Ý nghĩ chất Will và chiếc xe lăn lên chiếc xe đa dụng rồi chở anh ta an toàn tới thị trấn bên cạnh rồi quay về khiến tôi tràn ngập nỗi sợ khủng khiếp.

Nhiều tuần liền, tôi đã hy vọng rằng ngày lao động của tôi có việc gì đó đòi hỏi phải ra ngoài. Nhưng giờ tôi sẵn sàng làm mọi thứ chỉ để được ở trong nhà. Tôi để tấm card bệnh viện của anh ta giữa đống giấy tờ liên quan tới sức khỏe của anh ta – một tập dày cộm chia thành các mục “vận chuyển”, “bảo hiểm”, “sống chung với tật nguyền,” và “lịch hẹn khám”. Tôi cầm tấm card lên và kiểm tra xem nó có ghi ngày hôm nay không. Trong tôi thoáng chút hy vọng rằng Will đã nhầm.

“Mẹ anh có tới không?”

“Không. Bà không tới các cuộc hẹn khám của tôi.”

Tôi không giấu được nỗi ngạc nhiên. Tôi đã nghĩ bà sẽ muốn giám sát mọi mặt công cuộc điều trị anh ta.

“Trước đây bà hay tới,” Will nói. “Giờ thì chúng tôi có một thỏa thuận.” “Nathan có tới không?”

Tôi đang quỳ trước mặt anh ta. Tôi quá căng thẳng tới nỗi đã đánh rơi ít thức ăn trưa xuống lòng anh ta và giờ đang nỗ lực tuyệt vọng lau nó đi, thế nên một mảng quần của anh ta bị ướt nhẹp. Will chẳng nói gì, chỉ bảo tôi làm ơn thôi xin lỗi đi, nhưng điều đó không giúp tôi hết cảm giác căng thẳng bao trùm.

“Để làm gì?”

“Không có gì.” Tôi không muốn anh ta biết tôi đang sợ thế nào. Tôi đã dành phần lớn buổi sáng hôm đó – thời gian tôi thường dành để lau chùi – để đọc đi đọc lại cuốn sách mỏng hướng dẫn sử dụng xe nâng nhưng giờ tôi vẫn cứ sợ chết khiếp khi nghĩ tới lúc tôi phải một mình thực hiện nhiệm vụ nhấc anh ta lên không trung bảy mươi phân.

“Thôi nào, Clark. Có chuyện gì thế?”

“Được rồi. Tôi chỉ… tôi chỉ nghĩ lần đầu này sẽ dễ dàng hơn nếu có ai đó khác biết về dây dợ.”

“Ai đó khác tôi hả,” anh ta nói. “Tôi không có ý đó.”

“Vì không thể kỳ vọng tôi biết chút gì về việc chăm sóc chính tôi hả?”

“Anh biết hoạt động bàn nâng xe lăn hả?” tôi nói không giấu giếm. “Anh có thể nói chính xác cho tôi biết phải làm gì đúng không?”

Anh ta quan sát tôi, cái nhìn của anh ta phẳng lặng. Nếu đang đấu tranh tư tưởng, thì dường như anh ta đã thay đổi ý định. “Được rồi. Đúng thế, ông ấy sẽ tới. Ông ấy sẽ phụ một tay. Vả lại tôi nghĩ nếu có ông ấy ở đây thì cô sẽ giúp mình bớt căng thẳng đi.”

“Tôi đâu có căng thẳng,” tôi phản đối.

“Rõ ràng còn gì.” Anh ta liếc nhìn xuống lòng mình, tôi vẫn đang dùng khăn lau chùi chỗ đó. Tôi đã đánh đổ sốt mì ống, nhưng ướt cả vào người anh ta. “Thế tôi sắp được tha chưa đây?”

“Tôi chưa xong,” tôi cắm máy sấy tóc vào ổ điện và chĩa thẳng ống sấy vào đũng quần anh ta.

Khi khí nóng lan tỏa lên quần, anh ta nhướng mày.

“À, ừm,” tôi nói. “Đó không hẳn là việc tôi nghĩ mình phải làm vào chiều thứ Sáu.”

“Cô rất căng thẳng phải không?”

Tôi biết rõ là anh ta đang quan sát tôi.

“Ôi, tươi tỉnh lên nào Clark. Tôi mới là người bị luồng khí nóng bỏng sấy thẳng vào hạ bộ cơ mà.”

Tôi không đáp. Tôi nghe giọng anh ta qua tiếng rào rào của máy sấy tóc. “Thôi nào, còn chuyện gì tệ hại hơn có thể xảy ra cơ chứ – rốt cuộc tôi đã ngồi xe lăn rồi còn gì?”

Nghe thì ngớ ngẩn, nhưng quả thực tôi không thể không phá lên cười. Đây là biểu hiện rõ ràng nhất Will thực sự đang cố làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn.

Nhìn bên ngoài chiếc xe trông giống một chiếc xe chở người bình thường, nhưng khi cửa sau chỗ ghế hành khách mở ra, một đường trượt hạ từ một bên hông xe xuống đất. Trước sự quan sát của Nathan, tôi đẩy chiếc xe đi ngoài trời của Will (anh ta có một chiếc dành riêng để du ngoạn) thẳng vào đường trượt, kiểm tra phanh khóa điện.

Nathan ngồi vào ghế khách còn lại, cài dây an toàn cho anh ta và chốt bảo vệ cho xe lăn. Cố ngăn đôi tay thôi run rẩy, tôi thả phanh tay rồi từ từ lái xe về phía bệnh viện.

Khi đi xa khỏi ngôi nhà, Will có vẻ hơi co người lại. Trời rét căm căm, Nathan và tôi đã bọc anh ta trong khăn choàng và áo khoác dày cộp, nhưng anh ta trở nên im lặng hơn, cằm đơ ra, trông nhỏ bé trước khung cảnh bao la hơn ở xung quanh. Mỗi lần tôi nhìn vào gương chiếu hậu (khá thường xuyên – vì dù Nathan ở đó tôi vẫn lo sợ bằng cách nào đó chiếc xe sẽ tuột khỏi dây chằng), tôi đều thấy anh ta đang nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ, vẻ mặt không đoán định nổi. Ngay cả dăm ba lần khi tôi giảm tốc hoặc phanh quá đột ngột, anh ta cũng chỉ hơi cau mặt và chờ đợi cho tôi trấn tĩnh lại.

Khi tới được bệnh viện, tôi đã toát đẫm mồ hôi. Tôi lái xe quanh bãi đỗ của bệnh viện ba lần, quá lo sợ không dám chạy lùi vào chỗ nào chưa phải chỗ rộng nhất trong bãi, cho tới khi nhận thấy hai người đàn ông bắt đầu mất bình tĩnh. Thế rồi cuối cùng, tôi hạ thấp đường trượt và Nathan giúp đẩy xe lăn của Will xuống đường nhựa.

“Tốt lắm,” Nathan nói, vỗ lưng tôi khi ông ra khỏi xe, nhưng tôi thấy khó tin đó là sự thật.

Có những thứ phải tới khi đồng hành với người ngồi xe lăn ta mới để ý thấy. Một trong số đó là hầu hết các vỉa hè đều đầy rác rến, lỗ rỗ bao nhiêu hố hốc chắp vá khủng khiếp, hoặc đơn giản là không bằng phẳng. Đi chầm chậm bên Will trong khi anh ta tự điều khiển xe đẩy dọc đường, tôi để ý thấy từng phiến đá nham nhở đều khiến anh ta bật nảy lên đau đớn, anh ta phải cẩn thận tránh vòng quanh những chỗ có khả năng gây dằn xóc. Nathan vờ như không để ý nhưng tôi thấy ông cũng đang quan sát. Will thì chỉ lộ vẻ đăm đăm và quyết tâm.

Một điều khác nữa là, hầu hết các tài xế đều hết sức vô tâm. Họ đỗ xe sát vỉa hè hoặc quá gần nhau tới nỗi chẳng có lối cho xe lăn qua đường. Tôi quá kinh ngạc, đôi lần thậm chí còn muốn để lại một tờ giấy nhắn thô lỗ trên cần gạt nước, nhưng Nathan và Will dường như đã quen rồi. Nathan chỉ ra một chỗ có thể qua đường, thế rồi chúng tôi mỗi người đi một bên Will, cuối cùng cũng qua được bên kia.

Từ khi rời nhà, Will không nói một lời.

Bản thân bệnh viện là một tòa nhà thấp tầng sáng choang, khu vực tiếp tân sạch bong trông giống một khách sạn hiện đại hơn là bệnh viện, có lẽ đây là biểu hiện của bảo hiểm tư nhân. Tôi đứng lùi phía sau khi Will xưng tên với cô tiếp tân, rồi theo anh ta và Nathan xuống một hành lang dài. Nathan mang một ba-lô to đùng chứa mọi thứ mà có thể Will sẽ cần trong cuộc hẹn ngắn ngủi này, từ cốc bê-se cho tới quần áo dự phòng. Sáng nay ông đã gói ghém đồ đạc trước mặt tôi, trình bày tỉ mỉ từng tình huống có thể xảy ra. “Tôi nghĩ sẽ rất tốt nếu chúng ta không phải làm việc này quá thường xuyên,” ông nói khi thấy vẻ mặt sợ hãi của tôi.

Tôi không theo Will vào cuộc hẹn. Nathan và tôi ngồi trên những chiếc ghế thoải mái bên ngoài phòng bác sĩ tư vấn. Ở đây không hề có mùi bệnh viện, chỉ có hương hoa tươi trong bình bên cửa sổ. Cũng không có cả những bông hoa cũ. Những thứ đồ ngoại lai to đùng mà tôi không biết gọi tên là gì được sắp xếp nghệ thuật thành những khối đơn giản.

“Họ đang làm gì trong đó?” tôi nói sau khi chúng tôi ngồi chờ được nửa tiếng.

Nathan ngước lên khỏi cuốn sách. “Chỉ là cuộc kiểm tra định kỳ sáu tháng thôi.”

“Sao, để xem anh ấy có tiến bộ tí nào không à?”

Nathan đặt sách xuống. “Cậu ấy sẽ không tốt lên chút nào cả. Đó là tổn thương tủy sống.”

“Nhưng ông vẫn trị liệu các thứ cho anh ấy.”

“Đó là để cố giữ cho thể trạng của cậu ấy ổn định – để ngăn cho cậu ấy không bị teo cơ, xương không bị khử khoáng, chân không bị tụ máu, đại loại thế.”

Khi cất tiếng trở lại, giọng ông nhẹ nhàng, như thể ông nghĩ có lẽ ông đã làm tôi thất vọng. “Cậu ấy sẽ không đi được nữa đâu, Louisa. Những chuyện đó chỉ xảy ra trên phim Hollywood. Tất cả những gì chúng ta đang làm là tránh cho cậu ấy đau đớn, và duy trì biến chuyển của cậu ấy dù ở mức độ nào đi nữa.”

“Có phải anh ấy làm những thứ này là vì ông không? Những thứ vật lý trị liệu ấy? Dường như anh ấy không muốn làm bất cứ thứ gì mà tôi đề nghị.”

Nathan nhăn mũi. “Cậu ấy làm việc đó, nhưng tôi nghĩ cậu ấy không tin tưởng. Hồi đầu tôi tới, cậu ấy khá quyết tâm. Cậu ấy đã rất chịu khó chữa trị, nhưng sau một năm không tiến triển gì, tôi nghĩ cậu ấy thấy khó giữ niềm tin chuyện chữa trị có ý nghĩa.”

“Ông có nghĩ anh ấy nên tiếp tục cố gắng không?”

Nathan nhìn chằm chằm xuống sàn nhà. “Nói thật nhé? Cậu ấy bị liệt tứ chi mức độ C5/6. Điều đó có nghĩa không có gì hoạt động từ phần này trở xuống…” ông đặt một bàn tay lên phần trên của ngực mình. “Người ta chưa tìm ra cách chữa trị tổn thương cột sống.”

Tôi nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, nghĩ về gương mặt của Will khi chúng tôi lái xe dọc con đường tràn nắng mùa đông, cái khuôn mặt tươi cười rạng rỡ của chàng thanh niên đi trượt tuyết trong kỳ nghỉ. “Nhưng có mọi loại dịch vụ y tế trên đời mà, phải không? Ý tôi là… ở chỗ nào đó như thế này… họ hẳn sẽ chữa trị những thứ bệnh trạng thế này mọi lúc.”

“Đây là một bệnh viện rất tốt,” ông nói bình thản. “Nơi còn sống, còn mọi thứ đó?”

Nathan nhìn tôi, rồi nhìn lại vào sách. “Phải,” ông nói.

Ba giờ kém mười lăm, tôi đi lấy một tách cà-phê, Nathan cũng muốn một tách. Ông nói rằng những cuộc hẹn khám thường kéo dài khá lâu, thế nên ông sẽ giữ chỗ cho tới khi tôi quay lại. Tôi giết thời gian một lát ở khu tiếp tân, lướt qua mấy cuốn tạp chí trên sạp báo, nấn ná bên những thanh sô-cô-la.

Có lẽ đúng như đoán trước, tôi bị lạc khi tìm đường trở lại hành lang cũ và phải hỏi mấy cô y tá xem tôi phải đi hướng nào, thậm chí hai người trong số họ cũng không biết. Khi tôi về lại chỗ đó, cà-phê đã lạnh trên tay, dãy hành lang trống trơn. Khi bước lại gần hơn, tôi thấy cửa phòng bác sĩ tư vấn hé mở. Tôi lưỡng lự bên ngoài, nhưng giờ đây lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng bà Traynor trong lỗ tai, chỉ trích tôi vì đã bỏ mặc anh ta. Tôi lại làm thế rồi.

“Thế thì chúng tôi sẽ gặp lại ngài sau ba tháng nữa, ngài Traynor,” một giọng đang nói. “Tôi vừa điều chỉnh thuốc chống co giật và tôi sẽ đảm bảo có người gọi cho ngài để báo kết quả xét nghiệm. Có lẽ là vào thứ Hai.”

Tôi nghe giọng Will. “Tôi lấy những viên này ở quầy thuốc dưới lầu được không?”

“Được. Đây. Có thể họ sẽ đưa cho ngài thêm một số viên kia nữa.” Một giọng phụ nữ. “Tôi lấy tập hồ sơ đó được chứ?”

Tôi nhận thấy chắc là họ sắp ra. Tôi gõ cửa, và có ai đó gọi mời tôi vào. Hai cặp mắt hướng về phía tôi.

“Xin lỗi,” bác sĩ tư vấn nói, đứng lên khỏi ghế. “Tôi tưởng cô là người chăm sóc y tế.”

“Tôi là… người giúp việc của Will,” tôi nói, đứng nán lại ở cửa. Will được giữ ngả người về phía trước trên ghế để Nathan kéo áo xuống cho anh. “Xin lỗi – tôi tưởng mọi người xong xuôi rồi.”

“Cho chúng tôi thêm một phút nữa thôi, được không, Louisa?” Giọng Will vang khắp căn phòng.

Tôi vừa lầm bầm xin lỗi vừa lui ra ngoài, mặt đỏ bừng. Không phải hình ảnh tấm thân trần trụi của Will khiến tôi kinh ngạc, gầy guộc và chằng chịt sẹo. Không phải cái nhìn hơi giận dữ của bác sĩ tư vấn, hệt như ánh mắt bà Traynor nhìn tôi ngày qua ngày – một cái nhìn khiến tôi thấy mình vẫn là con ngốc chuyên làm hỏng việc như cũ, dù thực tế tôi đã nhận được mức thù lao theo giờ cao hơn.

Không, mà đó là những đường đỏ bầm rạch trên cổ tay Will, những vết sẹo dài nham nhở không lẫn vào đâu được, dù Nathan có kéo ống tay áo của Will nhanh cỡ nào.

Tin tức khác...