Trước ngày em đến 

 

Căn phòng này cho cảm giác bình yên lạ thường. Qua khe hở của rèm cửa, tôi có thể nhìn thấy thế giới bên ngoài, phủ một màn trắng xóa, ngưng đọng mà tuyệt đẹp. Trong phòng rất ấm và tĩnh lặng, chỉ có tiếng rì rầm kỳ lạ của lò sưởi trung tâm ngắt quãng những ý nghĩ của tôi. Tôi đọc, thỉnh thoảng liếc lên kiểm tra thì thấy Will vẫn ngủ yên, khi đó tôi chợt nhận ra chưa có lúc nào trong đời mình, tôi chỉ ngồi trong lặng im, không làm gì cả như lúc này. Trong một ngôi nhà như nhà tôi thì con cái lớn lên không quen nổi với sự yên tĩnh, bởi liên tu bất tận là tiếng máy hút bụi ầm ĩ, tiếng ti-vi om sòm, tiếng hò hét. Trong những lúc hiếm hoi tắt ti-vi, bố tôi sẽ bật những bản thu âm cũ của Elvis và mở tiếng to hết cỡ. Ở quán cà-phê thì lúc nào cũng rì rầm tiếng chuyện trò.

Ở đây tôi có thể nghe được những suy tư của mình. Tôi hầu như còn nghe được cả tiếng tim đập. Tôi nhận ra, ngạc nhiên làm sao, tôi rất thích nơi này.

Tới năm giờ, điện thoại di động của tôi báo hiệu có tin nhắn. Will rục rịch, tôi bò ra khỏi ghế, lo sợ mình không kịp tới cái điện thoại trước khi nó quấy rầy anh.

Không có tàu. Có thể nào cô ngủ lại qua đêm được không? Nathan không thể ngủ lại. Camilla Traynor.

Tôi không nghĩ ngợi gì đã nhắn trả lời.

Không sao ạ.

Tôi gọi cho bố mẹ để nói với họ rằng tôi sẽ ngủ lại. Mẹ tôi nghe chừng nhẹ nhõm. Khi tôi bảo với mẹ là tôi sẽ được trả tiền để ngủ lại, giọng mẹ càng vui sướng.

“Anh nghe gì chưa Bernard?” mẹ nói, tay bà che hờ ống nghe. “Họ sẽ trả cho nó ngủ lại đấy.”

Tôi nghe bố cảm thán. “Tạ ơn Chúa. Nó đã tìm được công việc trong mơ của nó.”

Tôi gửi tin nhắn cho Patrick, bảo anh rằng người ta yêu cầu tôi ở lại chỗ làm và tôi sẽ gọi cho anh sau. Tin nhắn trả lời đến trong vài giây.

Tối nay chạy dọc cánh đồng tuyết. Tập luyện ra trò để tới Na Uy! XP.

Tôi tự hỏi sao người ta có thể phấn chấn tới vậy với ý nghĩ mặc quần tây áo chẽn chạy giữa nhiệt độ âm.

Will ngủ. Tôi nấu thức ăn cho mình, hâm lại ít súp phòng khi lát nữa anh muốn ăn rồi đỏ lò sưởi phòng khi anh cảm thấy đủ khỏe để ra phòng khách. Tôi đọc một cuốn truyện ngắn nữa và tự hỏi đã bao lâu rồi mình không mua sách cho mình. Hồi nhỏ tôi rất mê đọc sách, nhưng từ khi lớn lên tôi không nhớ mình có đọc gì ngoài tạp chí không. Treen thì nghiện sách. Khi cầm một cuốn sách lên, tôi gần như có cảm giác mình đang xâm lược địa bàn của nó. Tôi nghĩ về em gái và Thomas đi mất vào trường đại học, nhận ra mình vẫn chưa biết chuyện đó khiến tôi vui hay buồn – hay một cảm giác lẫn lộn khá phức tạp.

Tới bảy giờ Nathan gọi điện. Ông có vẻ thở phào khi biết tôi ngủ lại.

“Tôi không gọi được cho ông Traynor. Tôi đã gọi cả vào điện thoại cố định nhà họ, nhưng cuộc gọi chuyển thẳng vào máy trả lời tự động.”

“Ừ. À. ông ấy phải đi.” “Đi?”

Đột nhiên theo bản năng tôi cảm thấy hoảng sợ với ý nghĩ rằng chỉ có Will và tôi trong căn nhà đó suốt đêm. Tôi sợ lại làm điều gì đó sai cơ bản, gây nguy hiểm cho sức khỏe của Will. “Thế tôi có nên gọi cho bà Traynor không?”

Đầu dây bên kia im lặng một lát. “Không. Tốt nhất là không.” “Nhưng…”

“Nghe này, Lou, ông ấy thường… ông ấy thường đi tới một chỗ khác khi bà T ngủ lại trong thị trấn.”

Phải mất một hai phút tôi mới hiểu được ông đang nói gì. “Ồ.”

“Cô ở đó là tốt lắm rồi, thế là đủ. Nếu cô chắc Will đã khá hơn thì tôi sẽ trở lại ngay đầu sáng mai.”

Có những giờ bình thường, rồi lại có những giờ vô dụng, khi thời gian ngưng đọng rồi chảy trôi, ở đó cuộc đời – đời thực – dường như tồn tại ở một nơi xa cách. Tôi xem ti-vi một lát, ăn, lau chùi nhà bếp, lặng lẽ đi lại dật dờ quanh khu nhà phụ. Cuối cùng, tôi trở lại phòng Will.

Anh rục rịch khi tôi đóng cửa, hơi nhấc đầu lên. “Mấy giờ rồi Clark?” Giọng anh hơi nghèn nghẹn vì cái gối.

“Tám giờ mười lăm.”

Anh buông đầu xuống, suy nghĩ về điều này. “Cho tôi chút nước được không?”

Lúc này anh không còn chút nào vẻ ngang ngạnh, sắc bén. Như thể trận ốm cuối cùng đã khiến anh trở nên dễ tổn thương. Tôi mang đồ uống cho anh, rồi bật đèn ngủ lên. Tôi ngồi xuống bên mép giường, đặt tay lên trán anh, như mẹ tôi thường làm khi tôi còn nhỏ. Anh vẫn hơi ấm, nhưng không còn như hồi sáng nữa.

“Tay lạnh.”

“Lúc nãy anh càm ràm về nó rồi.”

“Thế ư?” Giọng anh nghe thật sự ngạc nhiên. “Anh muốn ít súp không?”

“Không.”

“Anh thấy dễ chịu không?”

Tôi chưa bao giờ biết anh cảm thấy thiếu thoải mái tới mức nào, nhưng tôi ngờ là nặng nề hơn anh tỏ ra.

“Nằm nghiêng thì tốt. Lăn tôi thôi. Tôi không cần ngồi dậy.”

Tôi trèo qua giường rồi lật anh sang bên, nhẹ nhàng hết sức. Anh không tỏa nhiệt như cái lò nung nữa, chỉ là cái ấm bình thường của một cơ thể nằm lâu dưới chăn.

“Tôi có thể làm gì khác không?” “Cô không về nhà đi à?”

“Không sao,” tôi nói. “Tôi ngủ lại.”

Ngoài kia, ánh sáng trời cuối cùng đã tắt từ lâu. Tuyết vẫn rơi. Qua cửa sổ, dưới ánh đèn thềm, tuyết tắm đẫm thứ ánh sáng vàng nhạt u sầu. Chúng tôi ngồi đó trong bình yên lặng lẽ, ngắm tuyết rơi như thôi miên.

“Tôi hỏi anh một chuyện được không?” cuối cùng tôi lên tiếng. Tôi có thể thấy đôi tay anh trên tấm chăn. Chừng như vô cùng kỳ lạ khi trông đôi tay ấy quá bình thường, quá khỏe mạnh, mà lại thật vô dụng.

“Tôi nghĩ được thôi.”

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Tôi không thôi thắc mắc về những vết rạch trên cổ tay anh. Đó là một câu tôi không thể nào hỏi thẳng.

Khi tôi gật đầu, anh lại nhắm cả hai mắt lại. “Tai nạn xe máy. Không phải do tôi. Tôi là kẻ bộ hành vô tội.”

“Tôi cứ tưởng là do trượt tuyết hay nhay bungee hay đại loại thế.”

“Ai cũng nghĩ vậy. Trò đùa nho nhỏ của Chúa trời. Tôi đang băng qua con đường bên ngoài nhà tôi. Không phải chỗ này,” anh nói. “Nhà ở London cơ.”

Tôi nhìn chăm chú vào sách trên giá của anh. Giữa đống tiểu thuyết – sách bìa mềm của nhà xuất bản Penguin đã lật giở nhiều lần – là những cuốn sách kinh doanh có nhan đề: Luật Doanh nghiệp, Tiếp quản, hàng loạt những cái tên lạ hoắc với tôi.

“Chẳng có cách nào để anh tiếp tục công việc của mình à?”

“Không. Không thể tiếp tục với cả căn hộ, những kỳ nghỉ, cuộc đời… Tôi tin là cô đã gặp bạn gái cũ của tôi.” Khoảng lặng trong giọng anh không giấu nổi vẻ cay đắng. “Nhưng hẳn là tôi nên thấy biết ơn, vì nhiều khi họ còn không hề nghĩ tôi đang sống nữa.”

“Anh có ghét điều này không? Ý tôi là sống ở đây ấy.” “Có.”

“Có cách nào để anh có thể trở lại sống ở London không?”

“Không phải thế này, không đâu.”

“Nhưng biết đâu anh sẽ tiến triển. Ý tôi là, Nathan đã nói là có rất nhiều tiến bộ với loại chấn thương này.”

Will lại nhắm mắt.

Tôi chờ đợi, rồi tôi điều chỉnh gối dưới đầu anh, và tấm chăn quanh ngực anh. “Xin lỗi,” tôi nói, ngồi thẳng dậy. “Nếu tôi đã hỏi quá nhiều. Anh muốn tôi ra ngoài không?”

“Không. Ở lại một chút. Nói chuyện với tôi.” Anh nuốt khan. Anh lại mở mắt ra, và cái nhìn chăm chú của anh gặp ánh mắt tôi. Trông anh mệt mỏi tới không chịu nổi. “Kể tôi nghe chuyện gì vui vui.”

Tôi chần chừ một lát, rồi tôi dựa lên đống gối bên cạnh anh. Chúng tôi ngồi đó trong không gian tranh tối tranh sáng, nhìn những bông tuyết sáng lòa trong thoáng chốc biến mất vào màn đêm đen kịt.

“Anh biết không… Tôi thường nói câu đó với bố tôi,” cuối cùng tôi lên tiếng. “Nhưng nếu tôi bảo anh ông thường đáp lại thế nào, anh sẽ nghĩ tôi bị điên mất thôi.”

“Điên hơn tôi đang nghĩ bây giờ nữa à?”

“Khi tôi gặp ác mộng hoặc buồn hoặc sợ hãi điều gì, ông thường hát cho tôi nghe…” Tôi phì cười. “Ôi… Tôi không thể.”

“Tiếp đi.”

“Ông thường hát cho tôi bài Bài hát Molahonkey.” “Bài gì cơ?”

“Bài Bài hát Molahonkey. Hồi trước tôi cứ nghĩ ai cũng biết bài đó chứ.”

“Tin tôi nhé, Clark,” anh lẩm bẩm, “Với Bài hát Molahonkey, tôi còn trinh nguyên.”

Tôi hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại rồi bắt đầu hát. Tôi lư-lơ-ước tôi lố-lố-sống ở lê-lê-quê Malahonkey Miền lê-lê-quê nơi tôi-lôi-lôi li-lí-li-lì-li-li-sinh

Để tôi-lôi-lôi được lơi-lới-chơi cây banzô-lô-lô cũ-lu-lủ Cây banzô-lô-lô cũ-lu-lủ không kêu-lêu-lí-lêu

“Chúa ơi.”

Tôi hít một hơi nữa.

Tôi đưa-lưa-lưa nó ra-lí-la hiệu-lí-liêu sửa-lữa-chữa Nhìn-lìn-lìn xem-lem-lem họ-lọ-lọ làm gì-lí-lỉ-lì-li Họ nói-lói-lói dây-lây-lây đàn lí-lứt-đứt cả-lá-la

Nó-ló-lo không-lí-lông còn kêu-lêu-lí-lêu Tiếp theo là một khoảng im lặng ngắn. “Cô điên rồi. Cả nhà cô đều điên.” “Nhưng nó có tác dụng.”

“Và cô có giọng ca đến Thượng đế cũng phải khóc. Tôi hy vọng bố cô khá hơn.”

“Tôi nghĩ điều anh muốn nói là, Cảm ơn cô Clark, vì đã cố giải khuây cho tôi.”

“Tôi nghĩ nó có giá trị không thua gì phần lớn hỗ trợ vật lý trị liệu mà tôi từng nhận. Nào, Clark,” anh nói, “kể tôi nghe chuyện gì nữa đi. Chuyện gì đó không liên quan tới hát nhé.”

Tôi nghĩ một chút.

“À… được rồi, ừm… anh có thấy đôi giày của tôi hôm nọ không?” “Khó mà không thấy.”

“Ừm, mẹ tôi cho rằng thói quen đi giày kỳ cục của tôi có từ khi tôi lên ba. Hồi đó mẹ mua cho tôi một đôi ủng màu xanh ngọc sáng lấp lánh – khi ấy một đôi ủng như vậy là khá lạ lùng – trẻ con thường chỉ đi ủng màu xanh lá cây, hoặc màu đỏ nếu gặp may. Mẹ kể từ hôm bà mang đôi ủng đó về là tôi chẳng bao giờ chịu cởi ra. Tôi đi ủng khi đi ngủ, đi tắm, tới nhà trẻ trong suốt cả mùa hè ấy. Trang phục yêu thích của tôi là đôi ủng lóng lánh đó và chiếc quần bó ong nghệ.”

“Quần bó ong nghệ ư?” “Sọc vàng sọc đen ấy mà.” “Hay gớm.”

“Nó hơi nhám.”

“À, phải thôi. Nghe đã thấy sợ rồi.”

“Có thể với anh thì nghe sợ đấy, nhưng Will Traynor ạ, điều ngạc nhiên là không phải cô gái nào cũng ăn mặc chỉ để làm hài lòng đàn ông.”

“Vớ vẩn.”

“Không, không hề.”

“Phụ nữ làm gì cũng nghĩ tới đàn ông cả. Con người ta làm gì cũng nghĩ tới tình dục. Cô đọc The Red Queen (Nữ hoàng Đỏ) chưa?”

“Tôi chẳng biết anh đang nói về cái gì cả. Nhưng tôi có thể đảm bảo là tôi không ngồi trên giường anh hát bài Bài hát Molahonkey để cố kiếm tình dục. Và năm lên ba, tôi vô cùng, vô cùng thích có đôi chân vằn.”

Tôi nhận ra rằng nỗi căng thẳng siết lấy tôi suốt ngày hôm đó đã từ từ giảm xuống cùng với từng lời bình luận của Will. Tôi không còn là kẻ một mình đảm trách một người bị liệt đáng thương nữa. Tôi lại là chính tôi, ngồi cạnh một gã ưa châm biếm, nói chuyện phiếm cùng nhau.

“Thôi tiếp nào, thế chuyện gì đã xảy ra với đôi ủng lấp lánh tuyệt trần đó?” “Mẹ tôi phải liệng nó đi. Chân tôi lở loét kinh lắm.”

“Thú vị thật.”

“Rồi mẹ cũng quẳng luôn chiếc quần bó.” “Tại sao?”

“Tôi chẳng bao giờ hiểu được. Nhưng chuyện đó khiến tôi sầu thảm. Tôi không khi nào tìm được một chiếc quần bó khiến mình yêu thích tới thế nữa. Họ không sản xuất quần bó ong nghệ nữa. Mà nếu có làm, họ cũng đâu làm cho phụ nữ trưởng thành.”

“Lạ ghê.”

“Ôi, anh cứ việc châm biếm. Anh đã bao giờ yêu thứ gì tới vậy chưa?”

Giờ đây tôi gần như không thấy mặt anh, căn phòng chìm trong bóng tối nhờ nhờ. Lẽ ra tôi phải bật ngọn đèn trên đầu lên, nhưng có điều gì đó ngăn tôi lại. Và ngay khi nhận ra mình vừa nói gì, tôi ước mình không nói thế.

“Có,” anh nói lặng lẽ. “Có chứ.”

Chúng tôi nói chuyện thêm một lát nữa, rồi Will lại thiếp đi. Tôi nằm đó, ngắm anh thở, thỉnh thoảng tự hỏi anh sẽ nói gì nếu tỉnh dậy mà thấy tôi đang nhìn anh chăm chú, nhìn mái tóc quá dài, đôi mắt mệt mỏi, và bộ râu quai nón nhú lên lởm chởm. Nhưng tôi không nhúc nhích. Những giờ vừa rồi đã trở nên không thực, một hòn đảo phi thời gian. Tôi là người duy nhất ở trong ngôi nhà này ngoài anh, tôi vẫn sợ bỏ anh lại một mình.

Sau mười một giờ một chút, tôi thấy anh lại bắt đầu đổ mồ hôi, hơi thở trở nên nặng nề hơn, thế nên tôi đánh thức anh rồi làm cho anh một liều thuốc giảm sốt. Anh chẳng nói gì, chỉ ậm ừ cảm ơn. Tôi thay mền đắp ngực và vỏ gối cho anh, rồi khi anh ngủ lại, tôi nằm xuống cách anh ba mươi phân, và một lúc lâu sau, tôi cũng ngủ.

Tôi tỉnh giấc khi có tiếng ai đó gọi mình. Tôi đang ở trong lớp, ngủ gật trên bàn học, và thầy giáo đang gõ vào bảng, nhắc đi nhắc lại tên tôi. Tôi biết đáng lẽ mình phải tập trung chú ý, biết rằng thầy giáo sẽ xem chuyện ngủ gật này là hành động phá hoại, nhưng tôi không nhấc đầu lên khỏi bàn được.

“Louisa.”

“Ưmmm.”

“Louisa.”

Cái bàn sao mà mềm thế. Tôi mở mắt. Tiếng nói văng vẳng ngay trên đầu tôi, khẽ thôi, nhưng nhấn nhá rất dữ. Louisa.

Tôi đang ở bên giường. Tôi chớp mắt, tập trung nhìn, rồi ngước lên thì thấy Camilla Traynor đang đứng bên cạnh. Bà mặc áo khoác len dày cộp, chiếc túi xách treo trên vai.

“Louisa.”

Tôi kéo người bật thẳng dậy. Bên cạnh tôi, Will vẫn say ngủ dưới chăn, miệng anh mở nhẹ, cùi chỏ anh tạo thành một góc vuông phía trước anh. Ánh sáng luồn qua cửa sổ, báo hiệu một buổi sáng lạnh lẽo nhưng sáng sủa.

“Ừm.”

“Cô đang làm gì vậy?”

Tôi cảm thấy như thể tôi vừa bị bắt gặp làm chuyện gì tồi tệ lắm. Tôi xoa mặt, cố trấn tĩnh đầu óc. Sao tôi lại ở đây nhỉ? Tôi có thể nói gì với bà đây?

“Cô đang làm gì trong phòng ngủ của Will thế?”

“Will…” tôi nói lặng lẽ. “Will đã không khỏe… Tôi chỉ nghĩ tôi nên để mắt…”

“Ý cô là sao, nó đã không khỏe ư? Nghe này, đi ra ngoài sảnh đi.” Bà sải bước ra khỏi phòng, rõ ràng là chờ tôi bắt kịp.

Tôi đi theo, cố vuốt phẳng quần áo. Tôi có cảm giác khủng khiếp là lớp trang điểm đã tèm lem khắp mặt tôi.

Bà đóng cửa phòng Will lại sau lưng tôi.

Tôi đứng trước mặt bà, cố vuốt thẳng tóc khi sắp xếp mọi ý nghĩ. “Will bị sốt. Khi Nathan tới thì ông ấy hạ sốt cho Will, nhưng tôi chưa biết việc điều chỉnh nhiệt này, nên tôi muốn để mắt tới anh ấy… Nathan bảo tôi nên để mắt tới anh ấy…” Giọng tôi nghe khàn khàn, không rõ ràng. Tôi không chắc mình có nói câu cú gãy gọn không.

“Sao cô không gọi tôi? Nếu Will ốm thì cô phải gọi tôi ngay chứ. Hoặc gọi ông Traynor.”

Não tôi bấy giờ như đột nhiên sáng ra. Ông Traynor. Ôi Chúa ơi. Tôi liếc nhìn đồng hồ. Tám giờ kém mười lăm.

“Tôi không… Hình như Nathan…”

“Nghe này, Louisa. Đây thực sự không phải khoa học nghiên cứu phản lực đâu. Nếu Will ốm đủ nặng để cô phải ngủ trong phòng nó thì đó là việc cô nên liên hệ cho tôi hay.”

“Vâng.”

Tôi chớp mắt, nhìn chằm chằm xuống đất.

“Tôi không hiểu tại sao cô không gọi. Cô có thử gọi cho ông Traynor không?”

Nathan bảo không được nói gì. “Tôi…”

Đúng lúc đó, cửa khu nhà phụ mở, và ông Traynor đứng đó, một tờ báo gập dưới cánh tay ông. “Em về rồi à!” ông nói với vợ, phủi tuyết khỏi vai. “Anh vừa ra đường mua tờ báo với ít sữa. Đường sá nguy hiểm kinh khủng. Anh phải đi mãi tới Hansford Corner để tránh những đoạn đường đóng băng.”

Bà nhìn ông, trong một thoáng tôi tự hỏi không biết bà có nhận ra ông vẫn mặc chiếc áo sơ-mi và áo khoác hôm trước.

“Anh có biết tối qua Will ốm không?”

Ông nhìn thẳng vào tôi. Tôi cúi nhìn xuống chân. Tôi không biết mình đã bao giờ cảm thấy lúng túng tới thế chưa.

“Cô có cố để gọi tôi không, Louisa? Xin lỗi nhé – tôi không nghe cuộc nào cả. Tôi e là điện thoại nội bộ hỏng rồi. Dạo gần đây thỉnh thoảng cũng có những lần tôi lỡ cuộc gọi. Với lại tối qua chính tôi cũng thấy không khỏe lắm. Ngủ say như chết.”

Tôi vẫn đang đi đôi tất của Will. Tôi nhìn nó chằm chằm, tự hỏi liệu bà Traynor có xử lý tôi cả chuyện đó không.

Nhưng dường như bà còn bận nghĩ chuyện khác. “Đường về nhà cũng khó đi lắm. Tôi nghĩ… tôi sẽ bỏ qua cho cô. Nhưng nếu có chuyện thế này xảy ra lần nữa, cô phải gọi tôi ngay. Cô hiểu chưa?”

Tôi không muốn nhìn thẳng ông Traynor. “Vâng,” tôi nói, rồi biến mất vào trong bếp.

Chương 7

Một đêm tỉnh giấc mùa xuân đã tới, như thể mùa đông giống một vị khách không ai mong chờ, đột ngột xốc áo khoác lên vai rồi biến mất, chẳng buồn tạm biệt. Vạn vật xanh tươi hơn, đường sá tắm trong ánh nắng vàng nhạt, không gian bỗng nhiên thơm ngát. Không khí thoang thoảng hương hoa và nhựa sống, tiếng chim líu lo đây đó suốt ngày.

Tôi chẳng để ý thấy điều gì trong số đó. Đêm trước tôi ngủ lại nhà Patrick. Gần một tuần rồi tôi mới gặp anh vì lịch tập luyện của anh tăng lên, nhưng mất bốn mươi phút với nửa gói muối tắm, anh đã quá mệt nên chẳng trò chuyện được gì với tôi. Tôi đã đấm lưng cho anh, một nỗ lực hiếm hoi nhằm quyến rũ, nhưng anh lầm bầm rằng anh thực sự quá mệt, rồi xua tay như thể đuổi tôi đi. Suốt bốn tiếng sau, tôi vẫn thức chong chong và nhìn chằm chằm lên trần nhà anh một cách bất mãn.

Patrick và tôi gặp nhau khi tôi đang làm công việc khác duy nhất tôi từng làm ngoài công việc ở quán cà-phê, đó là học việc ở The Cutting Edge, tiệm cắt tóc dành cho cả nam lẫn nữ duy nhất ở Hailsbury. Anh bước vào khi chị Samantha chủ tiệm đang bận rộn, và yêu cầu số bốn. Tôi cắt cho anh mái tóc mà về sau anh mô tả là không chỉ là mái tóc tệ hại nhất anh từng có, mà còn là mái tóc xấu xí nhất trong lịch sử nhân loại. Ba tháng sau, nhận ra rằng tình yêu với trò nghịch ngợm mái tóc của chính mình không nhất thiết có nghĩa tôi sinh ra để làm tóc cho người khác, tôi bỏ làm ở đó và nhận việc ở quán cà-phê với Frank.

Khi chúng tôi bắt đầu hẹn hò, Patrick đang làm nhân viên kinh doanh, những thứ yêu thích của anh có thể liệt kê ra là bia, sô-cô-la, nói chuyện về thể thao và tình dục (làm, chứ không phải nói về), theo đúng thứ tự đó. Một đêm đi chơi tử tế cho chúng tôi có lẽ sẽ bao gồm cả bốn thứ đó. Anh trông bình thường thì đúng hơn là đẹp trai, và mông anh to hơn mông tôi, nhưng tôi thích nó. Tôi thích sự vững chãi của anh, cảm giác của anh khi tôi phủ bọc thân mình quanh anh. Bố anh mất rồi, tôi thích cách anh cư xử với mẹ; bảo vệ và quan tâm. Bốn anh chị em nhà anh giống nhà Walton(1). Họ dường như thực lòng yêu mến nhau. Lần đầu tiên chúng tôi ra ngoài hẹn hò, một giọng nói khe khẽ vang lên trong đầu tôi: Người đàn ông này sẽ không bao giờ làm mi đau, và bảy năm kể từ ngày đó anh chưa bao giờ làm gì khiến tôi phải nghi ngờ điều ấy.

Thế rồi anh trở thành Anh chàng Marathon.

Patrick không còn đưa bụng anh ra cho tôi nép vào nữa; bụng anh trở thành một thứ cứng rắn, không khoan dung, giống như tấm ván, và anh thích kéo áo lên rồi dùng thứ này thứ khác đập vào nó, để chứng tỏ nó cứng rắn cỡ nào. Mặt anh phẳng lặng, và dạn gió dày sương vì suốt ngày phơi ngoài trời. Cơ đùi anh cứng như đá. Bản thân chuyện đó hẳn là sẽ rất quyến rũ, nếu anh thực sự muốn làm tình. Nhưng chúng tôi giảm xuống chỉ còn hai lần mỗi tháng, mà tôi thì không phải kiểu người đòi hỏi chuyện đó.

Cứ như thế càng khỏe mạnh, càng trở nên ám ảnh với vóc dáng của bản thân, anh càng giảm hứng thú với cơ thể tôi. Đôi lần tôi hỏi anh xem có phải anh không còn thích thú tôi nữa, thì anh trả lời nghe rất đinh ninh. “Em đẹp tuyệt,” anh thường nói. “Chỉ là anh mệt quá. Dù sao anh cũng không muốn em giảm cân. Đám con gái ở câu lạc bộ bọn anh – ta chẳng thể lựa được một cái mông cho ra hồn nếu để mông cả bọn họ cạnh nhau.” Tôi muốn hỏi chính xác thì anh đã giải phương trình phức tạp này như thế nào, nhưng về cơ bản nói ra chuyện đó quả là thiếu tế nhị nên tôi bỏ qua.

Tôi muốn cảm thấy thú vị với những gì anh làm, thực sự muốn. Nhiều đêm tôi tới câu lạc bộ tập luyện ba môn phối hợp của anh, cố trò chuyện với các cô gái khác. Nhưng tôi sớm nhận ra tôi là người dị thường – chẳng có ai mang danh bạn gái như tôi – mọi người khác trong câu lạc bộ đều lẻ bóng, hoặc phải cặp kè với ai đó có thân hình hấp dẫn tương đương với mình. Các cặp này đẩy nhau lên sàn tập, mặc quần soóc thể thao cùng lên kế hoạch cho cuối tuần, và đều mang trong ví ảnh họ tay trong tay cùng nhau tham dự những cuộc thi ba môn phối hợp, hoặc tự hãnh so sánh những tấm huy chương chung. Thật hết chỗ nói.

“Em không biết chị phàn nàn cái gì nữa,” em gái tôi đáp khi nghe tôi kể chuyện. “Từ khi có Thomas tới giờ em chỉ làm tình có một lần.”

“Gì cơ? Với ai?”

“À, với một anh chàng nào đó tới đặt hoa,” nó nói. “Em chỉ muốn đảm bảo em vẫn biết làm thôi.”

Thế rồi, khi tôi há hốc mồm, nó nói tiếp, “Ồ, không như chị nghĩ đâu. Nó không xảy ra trong giờ làm việc. Và anh ta đặt hoa đi phúng. Chứ nếu đó là hoa cho vợ thì tất nhiên em sẽ không chạm vào anh ta dù chỉ với một cành dơn.”

Nói thế không có nghĩa tôi là kiểu người say mê tình dục – xét cho cùng chúng tôi cũng đã ở bên nhau lâu lắm rồi. Chỉ là chút ương bướng nào đó trong tôi bắt đầu tự hỏi về sự quyến rũ của bản thân.

Trước đây Patrick không bao giờ phiền lòng chuyện tôi ăn mặc “đầy sáng tạo”, như chính lời anh nói. Nhưng nếu anh không hoàn toàn thật lòng thì sao công việc của Patrick, toàn bộ đời sống xã hội của anh lúc này đều xoay quanh sự tập trung vào da thịt – nhuộm màu nó, giảm cân cho nó, mài dũa nó. Nếu khi đối diện với những cặp mông bó chặt trong đồ thể thao kiệm vải, mông tôi đột nhiên trở nên thật tầm thường thì sao? Nếu đường cong của tôi, thứ tôi luôn nghĩ là khêu gợi một cách dễ thương, giờ đây dường như nhão bệu dưới con mắt cặn kẽ của anh thì sao?

Những ý nghĩ đó vẫn đang rì rầm lộn xộn quanh đầu tôi khi bà Traynor bước vào và gần như ra lệnh cho Will và tôi đi ra ngoài. “Mẹ vừa yêu cầu những người quét dọn tới lau chùi đặc biệt để đón xuân, thế nên mẹ nghĩ có lẽ con nên thưởng thức thời tiết dễ chịu trong khi tất cả bọn họ ở đây.”

Mắt Will gặp mắt tôi, mày anh khẽ nhướng lên. “Đó không phải là một mệnh lệnh đấy chứ mẹ?”

“Mẹ chỉ nghĩ sẽ thật tốt nếu con hít chút không khí,” bà nói. “Đường trượt đặt vào vị trí rồi. Louisa, có lẽ cô nên mang ít trà ra theo cùng nhỉ?”

Đó không hoàn toàn là một gợi ý vô lý. Khu vườn quả là tuyệt đẹp. Cứ như thể vì thời tiết ấm lên một tí mà mọi vật đột ngột quyết định trông mình phải xanh hơn đôi chút. Thủy tiên vàng bỗng nhú ra không báo trước, những cái búp vàng ươm báo hiệu cánh hoa sắp nở. Chồi non bung ra từ những cành cây nâu, cây lưu niên ngập ngừng chui ra từ đất sình đen. Tôi mở cửa rồi chúng tôi đi ra ngoài, Will giữ xe lăn chạy trên lối đi lát đá sa thạch vùng Yorkshire. Anh ra hiệu về chiếc ghế dài bằng gang có phủ một tấm khăn trải, tôi ngồi xuống đó một lát, chúng tôi ngửa mặt lên hứng ánh nắng dịu êm, lắng nghe chim sẻ véo von bên bờ giậu.

“Cô có chuyện gì vậy?” “Sao anh hỏi thế?”

“Cô cứ im lặng.”

“Anh đã nói anh muốn tôi im lặng mà.” “Không phải kiểu im lặng này. Nó làm tôi lo.”

“Tôi không sao đâu,” tôi nói. Rồi tiếp, “Chỉ là chuyện bạn trai thôi mà, nếu anh thực sự muốn biết.”

“À,” anh nói. “Ông Chạy chứ gì.”

Tôi mở to mắt, chỉ để xem có phải anh đang châm chọc tôi. “Có chuyện gì vậy?” anh nói. “Thôi nào, kể cho Chú Will đi.” “Không đâu.”

“Mẹ tôi sẽ để những người lau chùi chạy tới chạy lui ở đó như những người mất trí trong ít nhất một giờ đồng hồ nữa. Cô sẽ phải kể chuyện gì đi chứ.”

Tôi kéo người ngồi thẳng dậy, rồi quay mặt nhìn anh. Xe lăn của anh có một nút điều khiển nâng chỗ ngồi lên khiến anh có thể cao hơn người ta cả cái đầu.

Anh ít khi sử dụng nó, vì nó thường khiến anh chóng mặt, nhưng giờ đây nó đang hoạt động. Tôi thực sự phải ngước nhìn anh.

Tôi kéo áo khoác quanh người, rồi liếc nhìn anh. “Được rồi, thế thì anh muốn biết gì nào?”

“Hai người đã quen nhau bao lâu rồi?” anh hỏi. “Hơn sáu năm.”

Anh tỏ vẻ ngạc nhiên. “Lâu quá nhỉ.”

“Phải,” tôi nói. “Lâu.”

Tôi vươn tới điều chỉnh một tấm chăn quanh anh. Nó chuyên lừa gạt người ta, ánh nắng ấy mà – nó hứa hẹn nhiều hơn khả năng ban phát thực sự. Tôi nghĩ tới Patrick, dậy đúng 6.30 sáng nay để chạy buổi sáng. Có khi tôi nên tham gia chạy, để chúng tôi trở thành một trong những cặp đôi thể hình đẹp. Có khi tôi nên mua một chiếc quần lót nhiều tầng và tìm hiểu các tư thế sex trên mạng. Tôi biết tôi sẽ chẳng làm việc gì trong số đó.

“Anh ấy làm gì?”

“Anh ấy là huấn luyện viên thể hình.” “Thế mới gọi là Ông Chạy.”

“Thế mới gọi là Ông Chạy.”

“Anh ấy thế nào? Trong ba chữ, nếu chuyện này làm cô không thoải mái.” Tôi ngẫm nghĩ. “Lạc quan. Chung thủy. Ám ảnh với tỉ lệ mỡ cơ thể.” “Mười hai chữ mất rồi.”

“Anh được thêm chín chữ miễn phí còn gì. Thế cô ấy thế nào?” “Ai? Alicia à?”

Tôi nhìn anh đúng như anh đã nhìn tôi, thẳng vào mắt.

Anh hít một hơi thật sâu rồi ngước nhìn một cây tiêu huyền cổ thụ. Tóc anh rủ xuống mắt, tôi chợt khao khát được hất nó qua một bên cho anh.

“Xinh đẹp. Gợi cảm. Cầu toàn. Bất an kỳ lạ.”

“Cô ấy thì phải thấy bất an về cái gì cơ chứ?” Những từ đó buột ra khỏi miệng tôi trước khi tôi kịp ngăn lại. Mặt anh tỏ vẻ buồn cười. “Cô hẳn sẽ rất ngạc nhiên,” anh nói. “Những cô gái như Lissa dựa dẫm vào nhan sắc của họ lâu tới mức họ nghĩ mình chẳng có thứ gì khác nữa. Thật ra nói vậy cũng không công bằng. Cô ấy rất giỏi về những thứ đó. Những thứ như – quần áo, nội thất. Cô ấy có thể khiến mọi thứ trở nên xinh đẹp.”

Tôi rất muốn nói rằng ai mà chẳng có khả năng làm mọi thứ trở nên xinh đẹp nếu ví họ sâu như cái mỏ kim cương.

“Cô ấy chỉ cần di chuyển vài món đồ trong phòng thôi là trông nó khác hẳn ngay. Tôi chẳng bao giờ hiểu nổi sao cô ấy làm được thế.” Anh hất đầu về phía ngôi nhà. “Cô ấy đã làm khu nhà phụ này, từ hồi đầu tôi chuyển vào.”

Trong đầu tôi lướt qua hình ảnh phòng khách được thiết kế hoàn mỹ. Tôi nhận ra sự ngưỡng mộ của tôi trước nó đột nhiên rối rắm hơn một chút so với trước đây.

“Anh đã ở bên cô ấy bao lâu?” “Tám, chín tháng.”

“Chưa lâu lắm nhỉ.” “Với tôi thì lâu rồi.”

“Hai người gặp nhau thế nào.”

“Tiệc đêm. Một bữa tiệc đêm tuyệt đỉnh. Cô thì sao?” “Ở tiệm cắt tóc. Tôi là người cắt. Anh ấy là khách hàng.”

“Haha. Cô là phần thưởng thêm cho dịp cuối tuần của anh ta.”

Hẳn là vẻ mặt tôi rất ngơ ngác vì anh lắc đầu rồi nói khẽ, “Không có gì.”

Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng rì rì của máy hút bụi ở trong nhà. Có bốn cô ở công ty lau dọn, tất cả đều mặc áo tạp vụ đồng bộ. Lúc trước tôi cứ tự hỏi họ sẽ phải tìm việc gì để làm trong hai giờ ở khu nhà phụ bé tí đó.

“Anh nhớ cô ấy chứ?”

Tôi nghe tiếng họ trò chuyện với nhau. Ai đó vừa mở cửa sổ, thế nên thỉnh thoảng những tràng cười lại tuôn ra ngoài không khí mỏng tang.

Will chừng như đang nhìn thứ gì ở một nơi rất xa. “Trước đây thì thường xuyên.” Anh quay sang tôi, giọng anh bằng lặng. “Nhưng gần đây tôi suy nghĩ về điều này, và tôi quyết định rằng cô ấy và Rupert rất đẹp đôi.”

Tôi gật đầu. “Họ sẽ có một đám cưới nực cười, đẻ ra một hai đứa nhóc, như cách anh nói, mua một cơ ngơi ở miền quê, rồi năm năm sau anh ta sẽ ngoại tình với cô thư ký,” tôi nói.

“Có lẽ cô đúng.”

Giờ tôi đang làm nóng chủ đề của mình. “Cô ta sẽ quàu quạu anh ta suốt ngày mà chẳng hiểu tại sao và chê bai anh ta trong những bữa tiệc thật sự tuyệt đỉnh trước sự bối rối của chúng bạn, và anh ta sẽ không muốn ly dị vì anh ta sợ mọi loại tiền cấp dưỡng sau ly hôn.”

Will quay sang nhìn tôi.

“Và họ sẽ làm tình sáu tuần một lần, anh ta sẽ thương yêu lũ con nhưng để góp phần chăm sóc chúng thì anh ta chỉ biết làm mỗi món bánh kẹp. Cô ấy sẽ có mái tóc hoàn hảo nhưng lại mang bộ mặt gượng gạo…” tôi nhẹt miệng ra “… không bao giờ nói ra những điều thật sự muốn nói, và bắt đầu nghiện tập thể dục thẩm mỹ tới phát rồ, hoặc có thể sẽ mua một con chó hoặc một tòa nhà rồi phát triển quan hệ ngoài luồng với huấn luyện viên phi ngựa. Còn anh ta sẽ tập chạy bộ khi bước sang tuổi bốn mươi, và có thể sẽ mua một chiếc mô-tô Haney- Davidson, món đồ mà cô ấy xem thường, hằng ngày anh ta sẽ đi làm, rồi khi ở bên quầy bar anh ta nhìn tất cả lũ trai trẻ trong cơ quan và lắng tai nghe xem bọn chúng bám đuôi cô nàng nào vào dịp cuối tuần hoặc bọn chúng chơi bời giải trí ở đâu, và chẳng hiểu sao cảm thấy như thể – mà rồi anh ta sẽ không bao giờ biết chắc tại sao – anh ta đã bị gạt ra ngoài lề.”

Tôi quay mặt sang.

Will đang nhìn tôi chăm chú.

“Xin lỗi,” tôi nói, sau một giây. “Tôi không biết rõ những thứ đó chui ra từ đâu nữa.”

“Tôi đang bắt đầu cảm thấy một chút xíu xiu tội nghiệp cho ông Chạy đây.” “Ồ, không phải là vì anh ấy. Do làm việc ở quán cà-phê nhiều năm thôi. Ở đó ta nghe và thấy mọi thứ. Những khuôn mẫu trong cách cư xử của con người.

Ta có thể sẽ kinh ngạc trước những thứ sẽ xảy ra.” “Vì thế mà cô chưa chịu lấy chồng?”

Tôi chớp mắt. “Có lẽ thế.”

Tôi không muốn nói tôi chưa bao giờ thực sự được nghe hỏi cưới.

Nghe thì có vẻ như chúng tôi chẳng làm gì nhiều. Nhưng thực tình, những ngày đó Will có đôi chút thay đổi – dựa theo tâm trạng của anh, và quan trọng hơn là anh đang đau mức nào. Có những ngày khi tới và nhìn thấy hàm anh mím chặt, tôi biết anh không muốn nói chuyện với tôi – hay với bất kỳ ai – và khi hiểu điều đó, tôi sẽ luôn tay luôn chân với việc vặt trong khu nhà phụ, cố đoán trước anh cần gì để không phải làm phiền anh mở miệng yêu cầu.

Có đủ thứ làm anh đau. Cái đau chung nhất là đau vì bị teo cơ – anh hầu như chẳng khá lên chút nào, dù Nathan cố hết sức trị liệu. Rồi còn có đau ở bụng do những vấn đề tiêu hóa, đau vai, đau do nhiễm trùng bàng quang – cơn đau hiển nhiên không thể tránh khỏi, bất chấp nỗ lực hết cỡ của mọi người. Anh bị loét dạ dày do dùng quá nhiều thuốc giảm đau trong giai đoạn đầu hồi phục, thời điểm mà rõ ràng là anh nuốt chúng như nuốt kẹo.

Thỉnh thoảng lại có những cơn đau huyết áp do ngồi nguyên một tư thế quá lâu. Đôi lần Will được đặt lên giường, chỉ để làm giảm cơn đau, nhưng anh ghét phải nằm sấp. Những khi ấy anh sẽ nằm đó nghe radio, mắt anh lóe lên cơn giận dữ cố kìm nén. Will còn bị đau đầu – tôi nghĩ đó là tác động phụ của nỗi tức giận và tuyệt vọng trong anh. Tinh thần anh phải chịu nỗi đau ghê gớm mà chẳng biết trút vào đâu. Nỗi đau ấy hẳn đã chất chứa ở đâu đó.

Nhưng thứ gây suy sụp nhất là cảm giác bốc hỏa trong bàn tay và bàn chân anh; tàn bạo, bùng phát, nó không bao giờ để anh được phép tập trung vào bất cứ thứ gì khác. Tôi thường chuẩn bị một bát nước lạnh để lau chân tay cho anh, hoặc bọc chúng trong vải flanen lạnh, hy vọng xoa được cảm giác khó chịu trong anh. Chừng đó một sợi cơ ở cằm anh sẽ giật giật, và đôi khi anh cứ làm như mình đã biến mất, như thể cách duy nhất để anh sống chung được cảm giác đó là để linh hồn biến khỏi cơ thể mình. Tôi đã trở nên quen thuộc đến kỳ lạ với những phản ứng của cơ thể trong cuộc sống của Will. Dường như thật bất công khi dù anh không thể sử dụng, cũng không cảm nhận được chân tay mình, chúng vẫn gây ra quá nhiều bất tiện.

Bất chấp tất cả điều này, Will không than thở. Đó là lý do tại sao phải mất nhiều tuần tôi mới để ý thấy anh đang phải chịu đựng đau đớn. Giờ đây tôi có thể giải mã được cái nhìn khắc khoải trong mắt anh, sự câm nín, cách anh dường như rụt vào trong lớp da của chính mình. Anh hỏi rất đơn giản, “Cô mang nước lạnh tới được không Louisa?” hoặc “Tôi nghĩ chắc đến giờ uống thuốc giảm đau rồi.” Đôi khi anh đau tới nỗi mặt cắt không ra chút máu, trở nên tái xanh tái tử. Đó là những ngày tồi tệ nhất.

Nhưng những ngày còn lại, chúng tôi xoay xở với nhau khá tốt. Khi tôi nói chuyện với anh, anh dường như không còn ngoa ngoắt kinh khủng như hồi đầu nữa. Hôm nay rõ ràng là một ngày anh không đau. Khi bà Traynor ra bảo rằng còn hai mươi phút nữa người ta mới lau dọn xong, tôi làm cho hai người hai ly nước nữa rồi chúng tôi nhởn nha chầm chậm quanh vườn, Will chạy yên trên lối đi còn tôi cứ nhìn đôi giày bọc sa-tanh thẫm lại trên cỏ ướt.

“Lựa chọn giày dép thú vị thật đấy,” Will nói.

Đôi giày đó màu xanh ngọc. Tôi đã tìm ra nó ở cửa hàng từ thiện. Patrick nói rằng nó khiến tôi trông giống một nàng tiểu yêu.

“Cô biết không, cô ăn mặc chẳng giống ai quanh đây cả. Giờ đây ngày nào tôi cũng khá mong đợi để xem tiếp theo cô sẽ khoác lên người bộ đồ quái dị nào.”

“Thế ai đó quanh đây mặc thế nào?”

Anh chỉnh xe qua trái một chút để tránh một nhánh cây nhỏ trên lối đi. “Lông cừu. Hoặc nếu cô có thẩm mỹ giống mẹ tôi, thì sẽ là thứ gì đó từ hàng Jaeger hoặc Whistles.” Anh nhìn tôi. “Thế cô lấy cái gu kỳ quặc ấy ở đâu ra vậy? Cô từng sống ở nơi nào khác à?”

“Chưa từng.”

“Sao cơ, xưa tới giờ cô chỉ sống ở đây thôi sao? Cô từng làm việc ở đâu?” “Chỉ ở đây thôi.” Tôi quay sang nhìn anh, khoanh tay trước ngực đầy phòng vệ. “Thế thì sao? Chuyện đó có gì mà lạ thế?”

“Đây là một thị trấn quá nhỏ. Quá hạn chế. Mọi thứ chỉ xoay quanh tòa lâu đài.” Chúng tôi dừng lại trên lối đi, nhìn tòa lâu đài mọc trên ngọn đồi xa xa, hoàn hảo như được một đứa trẻ vẽ nên. “Tôi luôn nghĩ đây là nơi để người ta trở về. Khi người ta mệt mỏi với mọi thứ khác. Hoặc khi họ không đủ trí tưởng tượng để đi tới nơi nào khác.”

“Cảm ơn.”

“Bản thân nó chẳng có gì sai quấy cả. Nhưng… Chúa ơi. Nó chẳng có động lực gì cả, phải không? Cũng chẳng chứa đầy ý tưởng hay những con người thú vị hay cơ hội. Quanh đây người ta cứ nghĩ nếu cửa hàng lưu niệm bắt đầu bán những tấm thảm ăn có hình ảnh khác lạ của đường ray mini thì mọi thứ tiêu tùng cả.”

Tôi không thể không phá lên cười. Tuần trước trên báo địa phương vừa có một bài viết về đúng chủ đề đó.

“Cô hai mươi sáu tuổi, Clark. Cô nên đi ra ngoài kia, đòi hỏi ở cuộc đời như đòi hỏi ở chính mình, gặp rắc rối ở quán bar, khoe tủ đồ kỳ lạ của cô với những anh chàng láu cá…”

“Tôi hạnh phúc ở đây,” tôi nói. “Ôi, không nên thế.”

“Anh thích chỉ cho người khác họ nên làm gì phải không?”

“Chỉ khi tôi biết tôi đúng,” anh nói. “Cô điều chỉnh ly nước cho tôi được không? Tôi không với được.”

Tôi xoay ống hút lại để anh với tới dễ dàng hơn rồi chờ đợi khi anh uống một ngụm. Cái lạnh nhẹ đã khiến chỏm tai anh hồng lên.

Anh nhăn mặt. “Chúa ơi, với một cô gái pha trà kiếm sống thì cô làm ly này dở quá.”

“Anh chỉ toàn uống trà dởm thôi,” tôi nói. “Tất cả những loại trà thảo dược đen là thế cả.”

“Trà dởm?” Anh gần như cười khùng khục. “Ờ, còn ngon hơn thứ véc-ni đánh cầu thang sanh sánh này. Chúa ơi. Người ta cắm được cả cái thìa vào đây.”

“Vậy là đến cả trà của tôi cũng không ổn.” Tôi ngồi xuống chiếc ghế dài trước mặt anh. “Thế thì với từng việc tôi làm, từng câu tôi nói, anh đều đưa ra ý kiến có được không, chừng đó sẽ chẳng ai phải nói tới nói lui gì cả?”

“Được rồi, nào, Louisa Clark. Cho tôi nghe ý kiến của cô.” “Về anh?”

Anh thở dài rất kịch. “Tôi có được lựa chọn không?”

“Anh nên cắt tóc đi. Nó khiến anh trông như người rừng.” “Giờ giọng cô không khác gì giọng mẹ tôi.”

“Ờ, trông anh kinh chết đi được. Ít nhất anh cũng phải cạo râu đi. Chẳng phải mớ tóc rũ xuống mặt đó đang bắt đầu châm chích ngứa ngáy sao?”

Anh liếc sang tôi.

“Phải quá còn gì? Tôi biết mà. Được rồi – chiều nay tôi sẽ cắt hết tóc anh.” “Ồ không.”

“Có chứ. Anh đã hỏi ý kiến của tôi. Đây là câu trả lời của tôi. Anh chẳng phải làm gì cả.”

“Nếu tôi nói không thì sao?”

“Dù sao tôi vẫn cứ làm. Nếu nó dài ra tí nữa, tôi sẽ phải gỡ thức ăn ra khỏi nó. Và nói thẳng nhé, nếu chuyện đó xảy ra tôi sẽ phải đi kiện anh vì vắt kiệt sức lao động ở chỗ làm.”

Khi đó anh mỉm cười, như thể tôi đã châm chọc anh. Nghe thì hơi buồn, nhưng quả thực nụ cười của Will hiếm hoi tới nỗi xúi giục anh cười được một lần cũng khiến tôi ngất ngây niềm tự hào.

“Này, Clark,” anh nói. “Giúp tôi một chút nhé?” “Sao cơ?”

“Gãi tai giúp tôi được không? Tôi ngứa quá.”

“Nếu tôi làm anh phải cho tôi cắt tóc anh nhé? Chỉ cắt tỉa chút chút thôi nhé?”

“Đừng có được đằng chân lân đằng đầu.”

“Suỵt. Đừng làm tôi căng thẳng. Tôi cầm kéo không giỏi lắm đâu.”

Tôi tìm được dao cạo và ít kem cạo râu trong tủ trong phòng tắm, vùi sâu sau những bịch giấy ướt và bông gòn, như thể từ lâu đã không ai dùng chúng. Tôi đưa anh vào phòng tắm, vặn đầy một bồn nước ấm, để anh ngửa đầu ra sau một chút rồi đặt một miếng vải flanen nóng lên cằm anh.

“Cái gì đây? Cô định đi làm ở tiệm cắt tóc ư? Tấm vải flanen để làm gì?” “Tôi không biết,” tôi thú nhận. “Ở trên phim người ta làm thế. Giống như nước nóng và khăn tắm khi ai đó sinh em bé ấy mà.”

Tôi không thấy miệng anh, nhưng mắt anh nheo nheo vui thích. Tôi muốn giữ đôi mắt ấy như thế mãi. Tôi muốn anh hạnh phúc – để gương mặt anh không còn vẻ đau đáu ám ảnh đó nữa. Tôi nói líu lo. Tôi kể chuyện cười. Tôi bắt đầu hát rì rầm. Bất cứ thứ gì để kéo dài khoảnh khắc này trước khi anh lại trở nên khắc khổ.

Tôi xăn ống tay áo lên và bắt đầu thoa kem cạo râu quanh cằm anh, lên tới tận mang tai. Rồi tôi chần chừ, lưỡi lam đặt trên cằm anh. “Đã đến lúc nói với anh là trước nay tôi chỉ từng cạo lông chân chưa nhỉ?”

Anh nhắm mắt, dựa người ra sau. Tôi bắt đầu nhẹ nhàng cạo lưỡi lam lên da anh, không gian yên tĩnh chỉ bị phá vỡ bởi tiếng soàn soạt khi tôi rửa dao cạo trong cái bồn đầy nước. Tôi im lặng làm việc, vừa cạo vừa quan sát gương mặt Will Traynor, những vết nhăn chạy qua khóe miệng anh, những vết nhăn dường như già trước tuổi. Tôi vuốt tóc bên mặt anh thì thấy lộ ra nhiều vết khâu, có lẽ từ vụ tai nạn. Tôi thấy những đường thâm quầng cho biết bao đêm mất ngủ, vết hằn giữa đôi mày nói lên nỗi đau lặng lẽ. Một cảm giác ngọt ngào ấm áp tỏa ra từ làn da anh, hương thơm kem cạo râu, và một cái gì đó rất riêng ở bản thân Will, khôn ngoan và giàu có.

Gương mặt anh bắt đầu lộ ra thì tôi hiểu hẳn anh đã rất dễ dàng lôi cuốn một người như Alicia.

Tôi làm việc chậm chạp và cẩn thận, được khích lệ bởi ý nghĩ anh đang có bình yên trong chốc lát. Ý nghĩ đó lóe lên cho tôi biết thời điểm duy nhất có ai chạm vào Will đều liên quan tới trị liệu hoặc thuốc thang, thế nên tôi để ngón tay thả lỏng nhẹ nhàng trên da anh, cố lướt xa hết mức so với những động chạm có thể nói là không mang hơi ấm con người của Nathan và vị bác sĩ.

Hành động cạo râu cho Will này quả là thân mật kỳ lạ. Khi tiếp tục cạo, tôi sực nhận ra rằng lúc trước tôi đã nghĩ chiếc xe lăn sẽ là rào chắn; rằng tình trạng tàn phế của anh sẽ ngăn chặn mọi mặt cảm xúc lẻn vào. Lạ lùng thay, mọi chuyện không diễn ra như thế. Không thể nào ở bên một người sát thế này, cảm nhận làn da họ căng lên dưới móng tay mình, hít vào luồng hơi thở của họ, với gương mặt họ cách mặt bạn chỉ dăm phân, mà không có chút cảm giác mất cân bằng. Tới lúc chạm vào tai kia của anh, tôi bắt đầu cảm thấy kỳ cục, như thể tôi đã vượt quá một điểm mốc vô hình.

Có thể Will cảm nhận được những thay đổi vi tế ở áp lực tôi đè lên da anh, có thể chỉ là anh thấy hòa hợp hơn với cảm giác có người ở gần mình. Nhưng đúng lúc đó anh mở mắt ra, và tôi thấy đôi mắt ấy nhìn vào mắt tôi.

Có một khoảng ngắn ngập ngừng, rồi anh nói với nét mặt bình thản, “Làm ơn đừng nói với tôi là cô đã cạo mất lông mày của tôi đấy nhé.”

“Chỉ mới một bên thôi,” tôi nói. Tôi rửa lưỡi dao, hy vọng màu đỏ đã phai trên má tôi khi tôi quay lại. “Được rồi,” cuối cùng tôi nói. “Anh thấy đủ chưa? Chốc nữa Nathan không qua đây sao?”

“Tóc tôi thì sao?” anh nói.

“Anh thực sự muốn tôi cắt tóc cho à?” “Có lẽ cô cũng muốn mà.”

“Tôi cứ nghĩ anh không tin tưởng tôi.”

Anh nhún vai, cố nhất trong khả năng của mình. Nó chỉ là cử động nhỏ nhất ở vai anh. “Nếu chuyện đó khiến cô thôi càm ràm tôi trong vài tuần thì tôi nghĩ giá phải trả là khá rẻ.”

“Ôi Chúa ơi, mẹ anh sẽ mừng lắm đây,” tôi nói, lau một vạt kem cạo râu. “Ồ phải, chúng ta sẽ không để chuyện đó làm chúng ta phát rồ.”

Chúng tôi cắt tóc cho anh trong phòng khách. Tôi đỏ lò sưởi, chúng tôi bật phim – một bộ phim kinh dị Mỹ – rồi tôi đặt một chiếc khăn tắm quanh vai anh. Tôi đã cảnh báo Will là tay nghề tôi hơi kém, nhưng nói thêm rằng dù sao cũng không thể trông tệ hơn mái tóc hiện thời đâu.

“Cảm ơn về câu đó,” anh nói.

Tôi bắt tay vào việc, để tóc anh trượt qua giữa những ngón tay tôi, cố nhớ những điểm cơ bản tôi đã học. Will ngồi xem phim, có vẻ như rất thư giãn, gần như là thích thú. Thỉnh thoảng anh nói với tôi đôi điều về bộ phim – tay nam chính này từng đóng phim gì rồi, nơi lần đầu tiên anh xem phim đó – và tôi ậm ừ ra chiều thích thú (y như tôi vẫn làm với Thomas khi nó tặng tôi đồ chơi của nó), dù tất cả chú tâm của tôi thực sự chỉ tập trung vào chuyện làm sao để không cắt hỏng tóc anh. Cuối cùng, tôi cắt xong phần xấu xí nhất của mái tóc, rồi đi vòng ra trước để xem trông anh thế nào.

“Sao?” Will ngừng đầu DVD.

Tôi đứng thẳng lưng. “Tôi không chắc mình thích nhìn thấy gương mặt anh thế này. Nó hơi căng thẳng.”

“Thấy lạnh,” anh nhận định, đưa đầu từ trái qua phải, như thể để kiểm tra cảm giác.

“Yên nào,” tôi nói. “Để tôi đi lấy hai cái gương. Rồi anh sẽ thấy nó dễ dàng. Nhưng đừng di chuyển. Vẫn còn phải tỉa thêm chút nữa. Có lẽ một nhát bên tai.”

Tôi đang ở trong phòng ngủ, lục tung tủ ngăn kéo để tìm một chiếc gương nhỏ, thì nghe tiếng cửa chính mở. Hai tiếng bước chân vội vã, giọng của bà Traynor vút lên, căng thẳng.

“Georgina, làm ơn thôi đi.”

Cửa phòng khác vặn mở. Tôi chộp lấy chiếc gương rồi chạy ra. Tôi không muốn bị phát hiện bỏ vị trí một lần nữa. Bà Traynor đứng ở lối vào phòng khách, hai tay đưa lên bịt miệng, rõ ràng là đang chứng kiến một cuộc chạm trán chưa bao giờ thấy.

“Anh là kẻ ích kỷ nhất em từng thấy!” một cô gái đang hét lên. “Em không tin nổi chuyện này, Will. Ngày xưa anh đã ích kỷ rồi, giờ thì càng tệ bạc hơn.”

“Georgina.” Ánh mắt bà Traynor lướt về phía tôi khi tôi bước vào. “Làm ơn thôi đi.”

Tôi bước vào phòng, đứng sau bà. Will với chiếc khăn tắm quấn quanh vai, những lọn tóc nâu mềm mại phủ dưới bánh xe lăn, đang đối mặt với một cô gái. Cô có mái tóc dài sẫm màu búi thành một túm rối bời sau đầu. Da cô rám nắng, cô mặc chiếc quần jean xé gối và đi đôi bốt da lộn đắt đỏ. Giống Alicia, vóc dáng cô rất đẹp và cân đối, răng cô trắng đến kinh ngạc như trong thước phim quảng cáo kem đánh răng. Tôi nhìn thấy hàm răng cô bởi vì, với nét mặt căng ra giận dữ, cô vẫn đang rít lên với Will. “Em không tin nổi. Em không tin nổi anh dám nghĩ tới chuyện đó. Anh định…”

“Làm ơn. Georgina.” Giọng bà Traynor vút lên sắc lạnh. “Không phải lúc này.”

Gương mặt Will bình thản, anh nhìn thẳng vào một điểm vô định nào đó. “Ờ… Will à? Anh cần giúp không?” tôi nói khẽ.

“Cô là ai?” cô gái nói, quay ngoắt lại. Lúc đó tôi mới thấy mắt cô ầng ậc nước.

“Georgina,” Will nói. “Đây là Louisa Clark, bạn đồng hành có thù lao kiêm tay kéo sáng tạo đến ngạc nhiên. Louisa, đây là em gái tôi, Georgina. Cô ấy rõ là vừa bay cả chặng đường từ Úc về đây để la mắng tôi.”

“Đừng có làm trò,” Georgina nói. “Mẹ kể với em rồi. Mẹ đã kể hết.” Ai cũng khựng lại.

“Tôi để mọi người lại một lát nhé,” tôi nói.

“Đó là ý hay đấy.” Đốt tay của bà Traynor trắng bệch đặt trên tay ghế sofa. Tôi chuồn ra khỏi phòng.

“Louisa ạ, có lẽ giờ cô nghỉ trưa đi thì tốt.”

Hôm nay là một ngày phù hợp để đi ra bến xe buýt. Tôi lấy sandwich ở trong bếp, chui vào áo khoác, rồi đi ra đường từ lối sau. 

Khi đi ra, tôi nghe thấy tiếng Georgina Traynor ầm ĩ trong nhà. “Đã bao giờ anh nghĩ chưa Will, rằng tin hay không tùy anh, nhưng chuyện này hẳn không phải chuyện chỉ của anh?”

Khi tôi quay trở lại, đúng nửa tiếng sau, ngôi nhà im ắng. Nathan đang rửa một cái tách bên bồn rửa phòng bếp.

Khi thấy tôi, ông quay lại. “Cô thế nào?”

“Cô ấy đi rồi à?” “Ai cơ?”

“Cô em gái?”

Ông liếc ra phía sau. “À. Đó là em gái à? Ừ, cô ta đi rồi. Vừa chui vào xe ngay khi tôi tới. Kiểu cãi vã gia đình phải không?”

“Tôi không biết,” tôi nói. “Tôi đang cắt tóc dở cho Will thì cô ta tới và cứ thế la mắng anh ấy. Tôi cứ tưởng đó là một cô bạn gái khác.”

Nathan nhún vai.

Tôi nhận ra ông không thích nói chuyện cuộc sống riêng của Will, dù ông có biết đi chăng nữa.

“Nhưng giờ cậu ấy hơi trầm lặng. Mà này, việc cạo râu được đấy. Thật tốt khi lôi được cậu ấy ra khỏi mớ tóc tai bờm xờm ấy.”

Tôi trở vào phòng khách. Will đang ngồi nhìn chằm chằm vào ti-vi, nó vẫn đang dừng đúng chỗ lúc tôi đi ra.

“Anh có muốn tôi bật lại không?” tôi nói.

Trong một phút anh dường như chẳng nghe thấy tôi nói gì. Đầu anh gục giữa hai vai, vẻ mặt thư giãn ban nãy đã thay thế bằng một màn sương. Will lại đóng sập cửa, ẩn vào một nơi tôi không thể xuyên qua.

Anh chớp mắt, như thể anh vừa để ý thấy tôi ở đó. “Ừ,” anh đáp.

Tôi đang ôm giỏ đồ giặt đi xuống hành lang thì nghe thấy tiếng họ. Cánh cửa chính khu nhà phụ mở hờ, thế nên tiếng của bà Traynor và cô con gái bay xuống dãy hành lang dài, âm thanh lan tới thành từng đợt âm thầm. Em gái Will đang khóc lặng lẽ, giờ đây cơn giận dữ đã biến sạch khỏi giọng cô. Cô nói nghe như một đứa trẻ.

“Người ta làm được cái gì đó chứ. Một tiến bộ y khoa nào đó. Sao mẹ không đưa anh ấy tới Mỹ? Ở Mỹ mọi thứ luôn tiến triển.”

“Bố con cập nhật mọi tiến bộ hằng ngày. Nhưng không, con yêu, chẳng có gì… cụ thể cả.”

“Giờ anh ấy quá… khác. Như thể anh ấy quyết tâm không nhìn thấy mặt tốt trong bất cứ điều gì.”

“Nó đã như thế ngay từ đầu rồi, George. Mẹ nghĩ chỉ là vì con không gặp anh con ngoài những lần con bay về nhà đó thôi. Từ khi ấy, mẹ nghĩ nó đã luôn… quyết tâm. Từ khi ấy, nó đã tin chắc rồi sẽ có điều gì đó thay đổi.”

Tôi cảm thấy hơi vô duyên khi nghe một cuộc nói chuyện riêng tư như thế. Nhưng nội dung kỳ lạ của nó kéo tôi lại gần hơn. Tôi thấy mình bước nhẹ về phía cửa, bàn chân nhón lên để không tạo ra tiếng động trên sàn.

“Nghe này, bố mẹ đã không kể với con. Bố mẹ không muốn con buồn. Nhưng nó đã cố…” bà đánh vật thốt ra những từ đó. “Will đã cố… nó đã cố tự sát.”

“Gì cơ?”

“Bố con tìm ra nó. Hồi tháng Mười hai. Chuyện đó… chuyện đó thật khủng khiếp.”

Dù điều này chỉ xác nhận lại những gì tôi đã suy đoán, tôi vẫn cảm thấy như máu rút sạch khỏi cơ thể mình. Tôi nghe một tiếng khóc nghẹn ngào, một tiếng thì thầm trấn an. Rồi tới một khoảng im lặng kéo dài nữa. Sau đó Georgina lên tiếng, giọng cô nặng trĩu buồn đau. “Cô gái đó…?”

“Ừ. Louisa ở đây để đảm bảo chuyện như thế không xảy ra nữa.”

Tôi khựng lại. Tôi có thể nghe thấy tiếng Nathan và Will trò chuyện rì rầm trong phòng tắm phía cuối hành lang, chẳng hay biết gì về cuộc trò chuyện đang diễn ra cách họ chỉ chừng mấy mét. Tôi bước thêm một bước tới gần cửa. Tôi nghĩ tôi đã biết chuyện đó từ khi tôi phát hiện ra những vết sẹo trên cổ tay Will. Rốt cuộc nó đã làm rõ mọi chuyện – nỗi lo lắng của bà Traynor khi yêu cầu tôi không được để Will một mình quá lâu, sự ác cảm của anh khi thấy tôi ở đó, chuyện phần lớn thời gian tôi cảm thấy mình như chẳng hề làm việc gì có ích. Tôi đang là cô trông trẻ. Tôi không biết chuyện đó, nhưng Will biết, và anh ghét tôi vì điều ấy.

Tôi với tay lên tay cầm trên cửa, chuẩn bị khép nhẹ cánh cửa lại. Tôi tự hỏi Nathan biết những gì. Tôi tự hỏi giờ Will có thấy vui hơn không. Tôi nhận ra tôi cảm thấy, kể cũng hơi ích kỷ, một thoáng nhẹ người khi biết bấy nay Will không khó chịu với tôi, chỉ là anh khó chịu với chuyện tôi – một con người bất kỳ – đã được mướn để trông chừng anh. Những ý nghĩ của tôi ong ong tới nỗi tôi suýt lỡ mất đoạn trò chuyện tiếp theo.

“Mẹ không thể để anh ấy làm chuyện này, mẹ ạ. Mẹ phải ngăn anh ấy lại.” “Chúng ta không có quyền lựa chọn, con yêu.”

“Có chứ. Có chứ – nếu anh ấy đang đòi hỏi mẹ tham gia chuyện đó,” Georgina phản đối.

Cái tay cầm đờ ra trong tay tôi.

“Con không tin nổi mẹ có thể đồng ý với chuyện đó. Tôn giáo của mẹ thì sao? Tất cả những việc mẹ đã làm thì sao? Thế sao mẹ còn cứu anh ấy lần mới đây nhất làm gì?”

Giọng bà Traynor gượng bình thản. “Như thế không công bằng.” “Nhưng mẹ đã nói mẹ sẽ cho phép anh ấy. Chuyện gì…”

“Con có nghĩ lấy một giây rằng nếu mẹ khước từ, nó sẽ không hỏi ai khác hay sao?”

“Nhưng Dignitas? Chuyện đó không được đâu. Con biết thật khó khăn cho anh ấy, nhưng chuyện đó sẽ hủy hoại bố mẹ. Con biết thế mà. Nghĩ xem bố mẹ sẽ cảm thấy ra sao! Nghĩ đến bàn dân thiên hạ! Công việc của mẹ! Danh dự của cả bố lẫn mẹ! Anh ấy phải biết chứ. Dù chỉ đề nghị thế thôi cũng ích kỷ lắm rồi. Sao anh ấy dám đề nghị? Sao anh ấy có thể làm chuyện này? Sao mẹ có thể làm chuyện này?” Cô gái lại khóc thổn thức.

“George…”

“Đừng nhìn con như thế. Con rất quan tâm tới anh ấy mẹ ạ. Con rất quan tâm. Anh ấy là anh trai con và con yêu anh ấy. Nhưng con không chịu nổi chuyện này. Con thậm chí không chịu nổi ý nghĩ về nó. Anh ấy sai trái khi đề nghị, mẹ cũng sai trái khi xem xét nó. Nếu mẹ tiếp tục chuyện này thì anh ấy sẽ không chỉ phá hủy cuộc đời mình đâu.”

Tôi lùi một bước khỏi cửa sổ. Mạch máu đập ầm ầm trong tai tôi tới nỗi tôi nghe bập bõm câu trả lời của bà Traynor.

“Sáu tháng, George. Nó hứa cho mẹ sáu tháng. Thôi. Giờ mẹ không muốn con nhắc tới chuyện này nữa, và tất nhiên không nhắc tới trước mặt bất kỳ ai. Và chúng ta phải…” Bà hít một hơi thật sâu. “Chúng ta phải cầu nguyện thật nhiều rằng tới khi đó sẽ có điều gì đấy xảy ra khiến nó thay đổi ý định.”

Chương 8

Camilla

Tôi không có ý định góp tay giết con trai tôi.

Chỉ đọc những từ đó thôi cũng đủ thấy lạ lùng rồi – giống như thứ ta có thể nhìn thấy trên một trang bìa báo, hoặc trên một trong những loại tạp chí giật gân mà cô gái giúp việc đó vẫn thường để thò ra ngoài túi xách, với đầy rẫy những câu chuyện về những người phụ nữ có con gái trốn nhà theo lũ người tình lừa đảo hay chuyện về hiện tượng giảm cân thần kỳ và chuyện những đứa trẻ sơ sinh hai đầu.

Tôi không phải kiểu người phải đón nhận những chuyện thế này. Hoặc ít nhất, tôi nghĩ là như vậy. Cuộc đời tôi gần giống như một công thức – một cuộc đời bình thường, theo những tiêu chuẩn hiện đại. Tôi kết hôn được gần ba mươi bảy năm, tôi nuôi lớn hai con, tôi vẫn đi làm, hỗ trợ công việc ở trường, trong hội Phụ huynh và Giáo viên, rồi vào làm việc trong tòa án khi các con không còn cần tôi nữa.

Đến giờ tôi đã là một thẩm phán được gần mười một năm. Tôi quan sát tất thảy đời người đi qua tòa án của tôi: những người lang thang vô vọng không đủ sức lết mình đến cuộc hẹn ở tòa đúng giờ, những kẻ phạm tội nhiều lần, những cậu thanh niên hung hãn, xấc xược và những người mẹ tuyệt vọng, ngập trong nợ nần. Rất khó có thể giữ bình tĩnh và thông cảm khi ta nhìn thấy cùng những gương mặt đó, cùng những tội lỗi đó được thực hiện đi thực hiện lại nhiều lần. Đôi khi tôi có thể nghe thấy sự mất kiên nhẫn trong giọng nói của tôi. Sự khước từ tuyệt đối dù chỉ là cố gắng thực hiện nghĩa vụ làm người sao cho có trách nhiệm quả là một điều vô cùng đáng buồn.

Và thị trấn nhỏ của chúng tôi, bất chấp vẻ đẹp của tòa lâu đài, của những dãy nhà cổ kính lâu đời, những con đường đồng quê tuyệt mỹ, cũng không thể miễn nhiễm khỏi tội ác. Quảng trường Regency ở đây luôn quy tụ đám thanh niên nổi loạn, những ngôi nhà lợp lá che giấu tiếng những người chồng đánh đập vợ con. Đôi khi tôi thấy mình giống Vua Canute, đưa ra những lời tuyên án vô nghĩa đối với một cơn thủy triều của những hỗn loạn và sự tha hóa từng ngày. Nhưng tôi yêu công việc của mình. Tôi làm công việc này bởi vì tôi tin vào kỷ cương, tin vào một hệ thống đạo đức. Tôi tin rằng có sự tách bạch cái đúng và cái sai, một quan điểm cũ kỹ hết mức.

Tôi vượt qua được những ngày khó khăn trong cuộc sống là nhờ có khu vườn. Khi bọn trẻ lớn, khu vườn gần như đã trở thành mối quan tâm thường trực của tôi. Tôi có thể đọc cho bạn nghe tên Latin của hầu hết mọi loại cây mà bạn muốn biết. Điều đáng buồn cười là, tôi thậm chí còn chưa được học tiếng Latin ở trường – trường tôi là một ngôi trường công nhỏ bé dành cho nữ sinh, tập trung chủ yếu vào dạy nấu ăn và khâu vá, những công việc giúp chúng tôi trở thành người vợ tốt – nhưng tên của những loại cây đó lại cứ găm chặt vào đầu tôi. Tôi chỉ cần nghe một lần là nhớ mãi: Helleborus niger (Cây bông hồng Giáng sinh), Eremurus stenophyllus (Hoa eremurus vàng xanh), Athyrium niponicum (Cây dương xỉ Nhật Bản). Tôi có thể nhắc lại những cái tên đó với sự trôi chảy mà tôi chưa bao giờ có với bài học ở trường.

Người ta nói rằng phải tới một ngưỡng tuổi nào đó bạn mới thật sự quan tâm đến khu vườn, tôi nghĩ điều đó có phần đúng. Có lẽ chuyện này liên quan đến vấn đề vòng đời chung. Dường như có điều gì đó thật kỳ diệu khi cảm nhận niềm lạc quan vô bờ của những mầm xanh vươn lên sau mùa đông ảm đạm, một niềm vui sướng với sự đổi thay qua từng năm, con đường mà tự nhiên lựa chọn để làm nổi bật từng mảnh khác nhau để tôn lên vẻ hoàn mỹ nhất của khu vườn. Đã có những thời gian – những thời gian khi hôn nhân của tôi dường như nặng nề hơn tôi tưởng – khu vườn đã là nơi nương náu, những thời gian khi khu vườn trở thành niềm vui.

Cũng có những lúc khu vườn này, nói một cách chân thực, là một nỗi đau trong tôi. Chẳng có gì có thể tuyệt vọng hơn khi trồng một bờ giậu mới mà phải thấy nó không tốt tươi nổi, hay khi nhìn một hàng tỏi tây tuyệt đẹp bị đám côn trùng phá nát sau một đêm. Nhưng ngay cả khi tôi than thở về thời gian và công sức bỏ ra để chăm sóc vườn, về những khớp xương chống đối lại buổi chiều dài nhổ cỏ, hay về những chiếc móng tay chẳng bao giờ thật sự sạch sẽ, tôi vẫn yêu nó. Tôi yêu cảm giác thảnh thơi trong cơ thể khi ở ngoài trời, hương vị của khu vườn, cảm giác chạm vào đất dưới ngón tay tôi, niềm vui sướng khi nhìn thấy cây cỏ sinh động, tươi sáng, rạng rỡ với vẻ đẹp viên mãn nhất thời của chính chúng.

Sau tai nạn của Will suốt một năm tôi không làm vườn. Đó không chỉ là vấn đề thời gian, mặc cho những giờ dài không dứt trong bệnh viện, những lúc lái xe chạy tới chạy lui, và những cuộc hội chẩn – ôi Chúa ơi, những cuộc hội chẩn – đã ngốn mất bao nhiêu thời gian. Tôi phải nghỉ việc sáu tháng vì hoàn cảnh đặc biệt và chừng đó vẫn còn là chưa đủ.

Mà đó là bởi đột nhiên tôi không còn tìm được ý nghĩa trong việc làm vườn. Tôi thuê một người làm vườn đến chăm sóc cho khu vườn gọn gàng và tôi không nghĩ tôi đã dành cho khu vườn nhiều hơn những cái nhìn thoáng qua trong suốt gần một năm.

Chỉ đến khi đưa Will về nhà, khi khu nhà phụ đã được chỉnh sửa thích hợp, tôi mới lại tìm ra ý nghĩa của việc làm đẹp khu vườn. Tôi cần phải cho con trai tôi một cái gì đó để ngắm nhìn. Tôi cần phải âm thầm nói với nó rằng mọi thứ có thể thay đổi, sinh trưởng hay lụi tàn, nhưng cuộc đời vẫn tiếp tục. Rằng tất cả chúng ta đều chỉ là một phần của vòng đời chung, của tạo hóa mà chỉ có ý Chúa mới hiểu được. Tôi không thể nói bằng lời với con điều đó, dĩ nhiên rồi – trước nay Will và tôi chưa bao giờ nói chuyện nhiều với nhau – nhưng tôi muốn chỉ cho nó thấy. Một lời hứa hẹn thầm lặng, cứ cho là thế, rằng có một viễn cảnh lớn lao hơn, một tương lai tươi sáng hơn.

Steven đang đẩy củi vào lò sưởi. Ông khéo léo gạt những thanh củi cháy dở bằng que cời, hất những tàn lửa lấp lánh bay lên ống khói rồi bó một khúc gỗ mới vào giữa lò. Ông đứng lùi lại – ông luôn làm thế – để ngắm nhìn ngọn lửa đang cháy với sự mãn nguyện âm thầm, rồi quẹt hai bàn tay vào chiếc quần nhung. Ông quay lại khi tôi bước vào phòng. Tôi mang cho ông một ly nước.

“Cảm ơn em. George xuống chưa?” “Chắc là chưa.”

“Nó đang làm gì vậy?”

“Xem ti-vi trên lầu. Nó không muốn nói chuyện. Em cũng không hỏi.” “Nó sẽ khỏe lên thôi. Chắc đang mệt sau chuyến bay dài.”

“Em hy vọng là vậy, Steven. Nó không hạnh phúc lắm khi ở nhà thời điểm này.”

Hai chúng tôi đứng lặng lẽ nhìn lò lửa. Xung quanh chúng tôi, căn phòng u tối và tĩnh mịch, khung kính cửa sổ rung lạch cạch khe khẽ khi mưa gió thổi tạt vào.

“Thật là một buổi tối rét mướt.” “Vâng.”

Con chó chạy vào phòng, thở phì một tiếng rồi nằm phịch xuống trước lò sưởi, tha thiết nhìn cả hai chúng tôi từ chỗ nó nằm.

“Em nghĩ thế nào?” ông nói. “Về mái tóc gọn gàng đó.”

“Em cũng không biết nữa. Em mong rằng đó sẽ là một dấu hiệu tốt.” “Cô Louisa đó cũng khá cá tính đấy, phải không?”

Tôi nhìn cách chồng tôi mỉm cười với chính ông. Chẳng phải cô ta cũng vậy sao, tôi thấy mình suy nghĩ thế, rồi tự dập tan ý nghĩ ấy đi. “Vâng. Đúng vậy, em nghĩ cô ấy khá cá tính.” “Em có nghĩ cô ấy là người thích hợp?”

Tôi uống một ngụm nước trước khi trả lời. Hai đốt ngón tay rượu gin, một lát chanh và thật nhiều tonic. “Ai biết được chứ anh?” tôi nói. “Em không nghĩ em còn biết cái gì là phù hợp, cái gì là không phù hợp một chút nào nữa.”

“Will thích cô ấy. Anh chắc chắn là nó thích con bé. Tối hôm trước khi anh và nó nói chuyện trong lúc xem bản tin, anh thấy nó đã nhắc đến con bé hai lần. Trước đây nó chưa bao giờ làm vậy cả.”

“Vâng. Phải. Nhưng em vẫn không thể làm tăng thêm hy vọng của anh được.”

“Em có nhất thiết phải như vậy không?”

Steven quay lại từ lò lửa. Tôi có thể thấy ông đang nhìn tôi dò xét, có thể ông nhận ra những nếp nhăn mới quanh mắt tôi, hay cách tôi mím môi vì căng thẳng trong lúc này. Ông nhìn cây thánh giá bằng vàng nhỏ bé luôn luôn nằm trên cổ tôi. Tôi không thích khi ông nhìn tôi như vậy. Tôi không bao giờ thoát được cảm giác đang bị so sánh với một ai đó.

“Em chỉ muốn thực tế thôi.”

“Em nói như thể… em nói như thể em đã sẵn sàng chờ đợi điều đó xảy ra.” “Em hiểu con trai em.”

“Con trai chúng ta.”

“Phải. Con trai chúng ta.” Con trai em thì đúng hơn, tôi thấy mình đang nghĩ vậy. Anh chưa bao giờ thật sự ở bên nó. Không bên nó về phương diện tình cảm. Dù nó có nỗ lực gây ấn tượng thế nào thì anh vẫn rất xa xôi.

“Nó sẽ thay đổi ý định,” Steven nói. “Từ giờ đến lúc đó vẫn còn nhiều thời gian.”

Chúng tôi đứng yên. Tôi uống một ngụm nước, dòng nước đá mát lạnh tương phản với hơi ấm phả ra từ lò sưởi.

“Em vẫn nghĩ…” tôi nói, chằm chằm nhìn vào bếp lò. “Em vẫn nghĩ là em đang mất một cái gì đó.”

Chồng tôi vẫn quan sát tôi. Tôi có thể cảm thấy ông nhìn tôi trân trối nhưng tôi không nhìn lại. Có lẽ lúc đó ông ấy đã có thể chìa tay ra vỗ về tôi. Nhưng tôi nghĩ có lẽ chúng tôi chắc đã quá xa nhau để làm được như vậy.

Ông uống một ngụm nước. “Em chỉ có thể làm những điều em làm được thôi, em yêu.”

“Em hiểu điều đó lắm chứ. Nhưng như thế là chưa đủ, đúng không?”

Ông quay lại phía lò sưởi, gạt gạt một thanh củi dù không cần thiết cho mãi tới khi tôi quay người lặng lẽ rời khỏi căn phòng.

Vì ông biết trước tôi sẽ làm như vậy.

Khi Will lần đầu tiên nói với tôi về điều nó muốn, nó đã phải nói đi nói lại hai lần, bởi vì tôi đã không chắc tôi nghe chính xác điều nó nói vào lần đầu tiên. Tôi gần như câm lặng khi hiểu ra điều nó muốn, sau đó tôi bảo nó rằng nó thật quá nực cười rồi tôi đi thẳng ra khỏi phòng. Đi tránh được khỏi một người ngồi trên xe lăn quả là một lợi thế bất công. Có hai bậc cấp từ khu nhà phụ sang nhà chính, nếu không có sự giúp đỡ của Nathan nó không thể vượt qua đó được. Tôi đóng cửa nhà phụ lại rồi đứng một mình trên hành lang, văng vẳng bên tai là những lời điềm tĩnh mà cậu con trai vừa nói.

 

Tôi nghĩ mình đã không nhích chân trong suốt nửa tiếng đồng hồ.

Nó không chịu từ bỏ điều đó. Với con người của Will, nó luôn phải là người đưa ra quyết định. Lần nào tôi vào gặp, nó cũng nhắc lại lời yêu cầu đó cho dến khi từng ngày tôi phải làm tinh thần cho mình trước khi tới chỗ nó. Mẹ, con không muốn sống như thế này nữa. Đây không phải là cuộc sống con đã chọn. Không có triển vọng nào cho sự phục hồi của con, vì thế mong muốn được kết thúc tất cả theo cách mà con thấy phù hợp là một mong muốn hoàn toàn hợp lý. Nghe nó nói, tôi có thể tưởng tượng rõ ràng trông nó như thế nào trong những cuộc đàm phán thương mại, công việc đã khiến nó giàu sang và kiêu hãnh. Rốt cuộc, nó là người đã quen được người khác nghe lời. Nó không thể chịu đựng được việc theo một cách nào đó tôi có quyền năng điều khiển tương lai của nó, một cách nào đó tôi lại trở thành mẹ nó.

Nó đã phải rất nỗ lực để khiến tôi đồng ý. Không phải vì tín ngưỡng của tôi nghiêm cấm điều đó – mặc dù viễn cảnh Will bị đẩy vào địa ngục vì sự tuyệt vọng của chính nó thật vô cùng khủng khiếp. (Tôi chọn niềm tin rằng Đức Chúa, Đức Chúa lòng lành, có thể thấu hiểu nỗi đau của chúng tôi và tha thứ lỗi lầm cho chúng tôi.)

Một điều mà ta không bao giờ hiểu về chuyện làm mẹ, cho tới khi ta thực sự làm mẹ, đó là khi nhìn con, ta không chỉ thấy một người đàn ông trưởng thành – đứa con ngỗ ngược, râu ria bồm xồm, hôi hám, cứng đầu cứng cổ – với giấy phạt đỗ xe, giày dép cáu bẩn, chuyện yêu đương đầy ngang trái. Mà là, ta thấy hình hài nó qua từng năm tháng cuộc đời gói trong con người nó lúc này.

Khi nhìn Will tôi thấy đứa trẻ sơ sinh mà tôi đã bế trên tay, mụ cả người, không tin nổi mình đã tạo ra một con người khác. Tôi thấy đứa trẻ lên ba, với tay để nắm lấy tay tôi, thấy cậu học sinh đang lau những giọt nước mắt ấm ức sau khi bị mấy đứa trẻ khác ăn hiếp. Tôi nhìn thấy những tổn thương, tình yêu, quá khứ. Đó là những gì mà con tôi yêu cầu tôi phải hủy hoại – cả đứa trẻ con lẫn người đàn ông trưởng thành – tất cả tình yêu thương đó, tất cả quá khứ đó.

Rồi sau đó đến ngày 22 tháng Giêng, một ngày mà tôi đang bận túi bụi ở phòng xử án với việc gọi vào tòa một danh sách bất tận những tên ăn trộm và những tay tài xế không có bảo hiểm, những cặp vợ chồng cũ đang giận dữ khóc lóc. Steven đi vào khu nhà phụ thì thấy con trai chúng tôi lịm đi, đầu ngả sang tay ghế, một vũng máu đen nhầy nhụa quanh chiếc xe lăn. Nó phát giác ra một chiếc đinh rỉ dài chừng một phân nhô ra từ một tấm ván đóng sơ sài ở hành lang phía sau nên đã ấn cổ tay vào đó, day đi day lại cho đến khi da thịt bị cắt rách bươm. Đến tận hôm nay tôi vẫn không thể hiểu nổi ý chí nào đã khiến nó kiên trì làm như vậy, dù chắc chắn nó đã sắp ngất vì đau. Các bác sĩ khẳng định nó chỉ cách cửa tử thần chưa đầy hai mươi phút.

Đó không phải là hành động để kêu gọi sự quan tâm, họ lưu ý gia đình với lời nói giảm vô cùng tế nhị.

Khi các bác sĩ ở bệnh viện gọi về nói với tôi rằng Will còn sống, tôi đã chạy ra vườn và nổi giận. Tôi nổi giận với Chúa, với tạo hóa, với số phận nào đó đã đẩy gia đình tôi đến vực thẳm như thế này. Giờ đây khi nhìn lại tôi nghĩ chắc lúc ấy mình rất giống người điên. Tôi đứng trong vườn vào buổi đêm lạnh giá đó, ném mạnh ly rượu brandy xa dăm mét văng vào bụi cây Euonymus compactus (chỉ suốt), rồi gào thét dữ dội đến nỗi tiếng tôi phá lan không khí, đâm vào những bức tường của lâu đài và vang vọng ra xa. Tôi vô cùng giận dữ, bạn thấy đấy, tất cả mọi thứ xung quanh tôi đều có thể di chuyển, nghiêng uốn, trưởng thành và sinh sản, vậy mà con trai tôi – cậu bé đẹp đẽ, tài năng, đầy sức sống của tôi – lại chỉ là một thứ như thế. Không thể di chuyển, tàn héo, đầy vết máu, đau đớn. Vẻ đẹp của cây cối xung quanh giống như một sự khiêu khích. Tôi gào thét và gào thét rồi chửi thề – những từ ngữ mà tôi chưa từng biết là mình có biết – cho đến khi Steven bước ra và đứng đó, đặt hai tay lên vai tôi, chờ đợi cho tới lúc ông có thể chắc chắn là tôi sẽ im lặng trở lại.

Ông ấy không hiểu, bạn biết đấy. Ông ấy vẫn chưa nhận ra. Rằng Will sẽ làm lại. Rằng chúng tôi sẽ phải sống trong tình trạng cảnh giác triền miên, chờ đợi lần tiếp theo, chờ đợi để chứng kiến xem nó tự làm tổn thương bản thân rùng rợn đến mức nào. Chúng tôi sẽ phải nhìn thế giới qua đôi mắt của Will – những chất độc tiềm tàng, những vật thể sắc nhọn, những thứ đồ sáng chế mà với chúng Will có thể kết thúc công việc mà kẻ lái mô-tô khốn kiếp đó đã khởi đầu. Cuộc sống của chúng tôi sẽ phải co lại, chỉ còn nghĩ tới sự tiềm tàng của hành động duy nhất đó. Thế là nó lại càng có lợi thế – nó chẳng còn gì khác để nghĩ tới nữa, bạn hiểu không?

Hai tuần sau đó tôi nói với Will, “Thôi được rồi.” Dĩ nhiên là tôi phải làm vậy.

Tôi còn có thể làm gì khác được nữa chứ?

Chương 9

Đêm đó tôi đã không ngủ được. Tôi nằm thao thức trên căn gác lửng, chằm chằm nhìn lên trần nhà từ từ hình dung lại hai tháng qua dựa trên những gì bây giờ tôi mới hiểu. Cứ như thể mọi thứ đã thay đổi, cắt đoạn và chắp nối ở một vị trí khác, thành một câu chuyện mà tôi hầu như không thể nhận ra.

Tôi cảm thấy bị lừa dối, thấy mình như một kẻ đồng lõa ngu ngốc không hiểu điều gì đang diễn ra. Tôi nghĩ bọn họ chắc hẳn đã phải cười thầm khi tôi cố gắng cho Will ăn rau hay cắt tóc cho anh – những điều nho nhỏ giúp anh cảm thấy thoải mái hơn. Rốt cuộc, ý nghĩa của chúng là gì chứ?

Tôi lật đi lật lại cuộc nói chuyện đã nghe trộm, cố gắng để hiểu nó theo một cách khác, cố gắng để thuyết phục bản thân mình là tôi đã hiểu nhầm những điều họ nói. Nhưng Dignitas hoàn toàn không phải một nơi để nghỉ mát. Tôi không tin nổi Camilla Traynor có thể nghĩ tới chuyện làm điều đó cho con trai bà. Phải, tôi đã nghĩ bà ấy thật lạnh lùng và phải, rất gượng gạo khi ở bên cạnh anh ta. Thật khó có thể tưởng tượng việc bà âu yếm anh ta, giống như mẹ tôi đã âu yếm chị em tôi – mãnh liệt, vui sướng – cho đến khi chúng tôi vùng vằng, đòi mẹ thả cho chúng tôi đi mới thôi. Thật tình, tôi chỉ nghĩ đơn giản đó là cách những người thuộc tầng lớp trên đối xử với con cái họ. Nói cho cùng tôi vừa đọc xong cuốn Love in a Cold Climate (Yêu trong giá lạnh) ở nhà Will. Nhưng còn chuyện đóng một vai trò tích cực, tình nguyện trong cái chết của chính con trai bà ấy thì sao?

Nhìn lại mới thấy dường như thái độ của bà còn lạnh lẽo hơn, hành động của bà còn thấm đẫm một ý đồ độc ác hơn nữa. Tôi tức giận với bà ta và tức giận với Will. Tức giận với họ vì đã đẩy tôi vướng vào một màn kịch. Tôi tức giận vì tất cả những lần đã ngồi suy nghĩ xem phải làm thế nào để khiến mọi thứ tốt đẹp hơn cho anh, làm thế nào để anh cảm thấy thoải mái, hay vui vẻ. Khi thôi không tức giận, tôi cảm thấy buồn. Tôi nhớ lại chút nghẹn ngào trong giọng nói của bà khi bà cố gắng an ủi Georgina và cảm thấy xiết bao buồn đau cho bà. Tôi biết, bà đang ở trong tình thế tuyệt vọng.

Nhưng trên tất cả, tôi thấy mình ngập chìm trong nỗi sợ hãi. Tôi ám ảnh với những gì tôi mới biết. Làm sao để có thể sống mỗi ngày khi biết rằng mình chỉ đang tồn tại qua ngày đoạn tháng để chờ đến cái chết của chính mình? Làm sao người đàn ông mà sáng nay làn da còn mang lại cảm giác dưới tay tôi – ấm áp và sinh động – lại chọn con đường hủy diệt bản thân? Làm sao trong sáu tháng nữa chính làn da ấy sẽ mục nát dưới lòng đất, với sự đồng thuận của tất cả mọi người?

Tôi không thể nói với ai cả. Đó có lẽ là điều tồi tệ nhất. Bây giờ tôi là kẻ đồng lõa trong bí mật nhà Traynor. Mệt mỏi bơ phờ, tôi gọi cho Patrick để bảo với anh tôi cảm thấy không được khỏe nên sẽ ở nhà. Không vấn đề gì đâu, anh đang lập chạy 10 km, anh ấy nói. Dù thế nào thì chắc anh cũng không thể xong việc ở câu lạc bộ thể hình trước chín giờ được. Tôi sẽ gặp anh vào thứ Bảy. Giọng anh nghe rất sao lãng như thể tâm trí anh đang ở đẩu đâu, trôi theo đường đua huyền thoại nào đó.

Tôi nhịn bữa tối. Tôi nằm trên giường cho đến khi những ý nghĩ của tôi tối sầm và đông cứng lại đến nỗi tôi không chịu đựng được sức nặng của chúng nữa, thế là tới tám rưỡi tối tôi xuống gác và ngồi lặng lẽ xem ti-vi bên cạnh ông ngoại, người duy nhất trong gia đình chắc chắn sẽ không hỏi tôi câu nào. Ông ngồi trên chiếc ghế yêu thích của mình, chằm chằm nhìn vào màn hình với đôi mắt hết sức vô hồn. Tôi không bao giờ dám chắc ông có xem ti-vi không hay tâm trí ông hoàn toàn đang ở một nơi nào khác.

“Con chắc là không muốn ăn gì chứ, con yêu?” Mẹ đến bên cạnh tôi với một tách trà. Chẳng có gì trong gia đình tôi không thể giải quyết được bằng một tách trà, chắc chắn là vậy.

“Không. Con không đói, cảm ơn mẹ.”

Tôi nhìn cách mẹ liếc sang bố. Tôi biết lát nữa sẽ có những tiếng thì thầm rằng nhà Traynor bắt tôi làm việc quá vất vả, sự căng thẳng khi chăm sóc một người tàn phế như vậy đang thể hiện quá rõ ràng. Tôi biết bố mẹ sẽ tự trách mình vì đã hối thúc tôi nhận công việc này.

Tôi sẽ phải làm cho họ nghĩ là họ đúng.

Trái ngược lại, ngày hôm sau Will ở trong tình trạng rất tốt – nói nhiều, ưa trêu chọc, hiếu chiến một cách khác thường. Chắc chắn anh nói nhiều hơn bất kỳ ngày nào trước đó. Dường như anh rất muốn tranh cãi với tôi và cảm thấy thất vọng khi tôi không tham gia.

“Thế cô định khi nào thì kết thúc trò bêu riếu này đây?”

Tôi đang dọn dẹp phòng khách. Tôi ngước mắt lên nhìn khi đang làm phồng mấy cái nệm sofa. “Trò gì cơ?”

“Tóc tôi. Mới cắt được một nửa thôi. Trông tôi cứ như một đứa trẻ ở trại mồ côi thời Victoria vậy. Hay một thằng ngố Hoxton nào ấy.” Anh quay đầu lại để tôi có thể nhìn thấy công việc thủ công của tôi rõ hơn. “Trừ phi đây là sự trình diễn một phong cách khác của cô.”

“Anh muốn tôi cắt tiếp?”

“Phải, có vẻ như nó làm cô cảm thấy thích thú. Mà chắc là sẽ tốt hơn khi trông tôi không giống như đang sống trong nhà thương điên.”

Tôi lặng lẽ lấy khăn và kéo.

“Giờ chắc Nathan sung sướng hơn rồi khi trông tôi đã ra dáng một anh chàng,” anh nói. “Tuy nhiên ông ấy cũng chỉ ra rằng để khôi phục gương mặt tôi về trạng thái ban đầu, từ nay tôi cần phải cạo râu mỗi ngày.”

“Ồ,” tôi nói.

“Cô không phiền hà gì chứ? Những ngày cuối tuần tôi sẽ phải chịu đựng bộ râu lởm chởm.”

Tôi không thể trả lời anh. Tôi thấy thậm chí rất khó để nhìn mắt anh. Nó gần giống như cảm giác khi phát hiện ra bạn trai không chung thủy. Thật kỳ lạ, tôi cảm thấy như thể anh đã phản bội tôi.

“Cô Clark?” “Ừm?”

“Cô lại có thêm một ngày im lặng mệt mỏi nữa. Điều gì đã xảy ra làm cô nàng lắm điều trở nên bực bội vậy?” “Tôi xin lỗi,” tôi nói.

“Lại ông Chạy ấy à? Anh ta đã làm gì vậy? Anh ta vẫn chưa chịu thôi chạy đi à?”

“Không phải.” Tôi kẹp một lọn tóc mềm của Will giữa ngón trỏ và ngón giữa của tôi rồi đưa lưỡi kéo tỉa lớp tóc nhô ra phía trên. Những sợi tóc vẫn nằm trong tay tôi. Họ làm việc đó bằng cách nào được chứ? Họ sẽ tiêm cho anh? Hay dùng thuốc uống? Hay họ cứ thế vứt người ta trong một căn phòng có hàng đống dao lam?

“Trông cô rất mệt mỏi. Tôi không định nói gì lúc cô đến, nhưng – quái quỷ – trông cô thật khủng khiếp.”

“Ờ.”

Họ làm gì để trợ giúp người bị liệt tứ chi? Tôi nhìn xuống hai cổ tay anh, luôn luôn bị che lấp dưới ống tay áo dài. Suốt nhiều tuần tôi đã tưởng rằng đó là bởi vì anh cảm thấy lạnh hơn người bình thường. Thêm một sự dối trá nữa.

“Cô Clark?” “Sao cơ ạ?”

Tôi thấy thật may mắn vì mình đang ở phía sau anh. Tôi không muốn anh nhìn thấy gương mặt tôi.

Anh chần chừ. Ở phía sau cổ anh nơi có tóc che phủ, làn da còn nhợt nhạt hơn những phần da khác. Trông nó rất mềm, trắng bợt và hết sức dễ bị tổn thương.

“Nghe này, tôi xin lỗi về chuyện em gái tôi. Nó đã… nó đã rất đau khổ, nhưng điều đó không cho nó quyền được thô lỗ. Đôi khi nó hơi thẳng thắn. Không biết được là nó làm người khác bực bội đến mức nào.” Anh ngừng lại. “Đó là lý do vì sao nó thích sống ở Úc, tôi nghĩ vậy.”

“Ý anh là, họ nói với nhau sự thật?” “Sao cơ?”

“Không có gì. Anh ngẩng đầu lên một chút.”

Tôi tỉa bằng kéo rồi lấy lược chải, cẩn thận xén vòng quanh đầu anh cho đến khi từng sợi tóc đã được cắt tỉa và tất cả những gì còn lại là một thảm tóc nằm rải rác quanh chân anh.

Cuối ngày hôm đó, tôi đã nghĩ thông mọi chuyện. Trong khi Will đang ngồi xem ti-vi với bố, tôi lấy một tờ giấy A4 từ máy in và một chiếc bút trong hộp bên cửa sổ phòng bếp rồi viết ra những điều tôi muốn nói. Tôi gấp tờ giấy lại, tìm một cái phong bì rồi để nó lại trên bàn bếp, thư đề gửi cho mẹ anh.

Buổi tối khi tôi ra về, hai bố con Will đang ngồi nói chuyện. Sự thực thì lúc đó Will đang cười. Tôi dừng lại ở hành lang để lắng nghe, chiếc túi vẫn khoác trên vai. Làm sao anh có thể cười chứ? Cái gì có thể gợi lên niềm vui đó khi mà chỉ còn mấy tuần nữa là anh tự kết thúc đời mình?

“Tôi về đây,” tôi gọi với lại từ cửa chính rồi bắt đầu bước ra.

“Này, cô Clark…” anh cất tiếng nhưng tôi đã đóng lại cánh cửa ở phía sau lưng mình.

Tôi dùng thời gian trên chuyến xe buýt ngắn ngủi để cố lên kế hoạch sẽ nói với bố mẹ tôi như thế nào. Bố mẹ sẽ giận dữ vì tôi đã bỏ công việc mà họ cho là một công việc hoàn toàn phù hợp và được trả hậu hĩnh. Sau cơn sốc ban đầu, mẹ sẽ tỏ ra đau khổ và bênh vực tôi, sẽ nói rằng tất cả những chuyện đó đã là quá đủ rồi. Bố có thể sẽ hỏi sao tôi không thể giống em gái hơn một chút. Bố luôn luôn như vậy, dù tôi chẳng phải là kẻ đã phá hoại cuộc đời của cô em gái bằng việc làm nó mang thai rồi phải dựa dẫm vào tất cả những người khác trong gia đình về tài chính và chuyện chăm sóc con. Không ai được nói những lời đó ra trong ngôi nhà của chúng tôi bởi vì với mẹ, nói như vậy là có ý ám chỉ Thomas không phải là một phúc lành. Tất cả trẻ em đều là phúc lành Chúa ban, bất chấp bọn nó luôn mồn nói bậy chết tiệt và bất chấp sự có mặt của đứa trẻ đó đồng nghĩa một nửa nhân lực tiềm năng của gia đình tôi chắc chắn không thể ra ngoài kiếm một công việc tử tế.

Tôi chẳng thể nói với mọi người sự thật. Tôi biết tôi chẳng nợ Will và gia đình anh điều gì nhưng tôi không thể để hàng xóm nhìn anh bằng con mắt tọc mạch được.

Tất cả những suy nghĩ đó xáo trộn trong đầu tôi khi tôi rời xe buýt đi bộ xuống chân đồi. Lúc về đến góc con ngõ nhà mình, tôi nghe thấy tiếng la hét, cảm thấy những rung chấn nhẹ trong không khí rồi tất cả yên lặng trong thoáng chốc.

Một nhóm người đang tụ tập quanh nhà tôi. Tôi rảo bước nhanh, lo sợ đã có điều gì đó xảy ra, nhưng tới khi thấy bố mẹ đang đứng ở thềm chăm chú nhìn sang ngôi nhà ấy thì tôi mới nhận ra đó không phải chuyện nhà tôi. Đó chỉ là cuộc chiến tranh mới nhất trong một chuỗi dài những cuộc chiến lặt vặt đã trở thành đặc thù trong cuộc sống hôn nhân của hàng xóm nhà tôi.

Chuyện Richard Grisham là ông chồng không chung thủy chẳng phải là tin gì mới với phố chúng tôi. Nhưng có lẽ chỉ cô vợ ấy mới chọn cách làm ầm mọi chuyện ở ngay vườn trước nhà anh ta.

“Chắc anh đã nghĩ tôi là một con điên. Cô ta mặc áo thun của anh! Đúng cái áo mà tôi mua cho anh hôm sinh nhật!”

“Em yêu… Dympna… không phải như em nghĩ đâu.”

“Tôi vào hàng mua trứng bọc thịt chiên chết tiệt cho anh! Và thấy cô ta ở đó, mặc áo của anh! Thật trơ trẽn! Tôi thậm chí còn chẳng thèm cái món trứng bọc thịt chiên đó!”

Tôi bước chậm lại, đi len qua đám người đang tụ tập đến khi vào được cổng nhà mình, theo dõi cảnh Richard cúi xuống để né chiếc đầu đĩa DVD. Rồi sau đó là một đôi giày.

“Vợ chồng họ cãi nhau bao lâu rồi?”

Mẹ tôi đang quàng tạp dề gọn gẽ ngang thắt lưng, buông khoanh tay xuống để nhìn đồng hồ. “Ít ra cũng phải bốn lăm phút rồi. Bernard, anh nói có phải là ít ra cũng bốn lăm phút rồi không?”

“Còn tùy em tính thời gian từ lúc cô ta ném quần áo ra ngoài hay từ khi cậu ta về và thấy đống quần áo.”

“Em tính từ khi cậu ấy về nhà.”

Bố tôi tính toán lại thời gian. “Thế thì chỉ khoảng nửa tiếng thôi. Nhưng mà trong mười lăm phút đầu cô ta đã ném rất nhiều thứ ra khỏi cửa sổ.”

“Bố con nói là nếu lần này cô ấy thật sự ném anh chồng ra khỏi nhà thì ông ấy sẽ tham dự vụ đấu giá chiếc máy khoan Black and Decker của Richard.”

Đám người đã đông thêm nhưng Dympna Grisham chẳng có dấu hiệu gì sẽ dừng lại. Nói đúng hơn cô ta dường như được khích lệ bởi sự gia tăng số lượng khán giả.

“Anh có thể mang tặng cô ta đống tạp chí khiêu dâm này đây,” cô vợ rú lên, quẳng một cơn mưa tạp chí ra khỏi cửa sổ.

Đống tạp chí đó khiến đám đông khẽ ồ lên.

“Xem coi cô ta có thích anh ngồi trong nhà tắm với cái đống này suốt nửa chiều Chủ nhật không nhé?” Cô ta biến mất vào trong, rồi lại quay ra cửa sổ, hất mạnh tất tật quần áo trong một chiếc giỏ đựng đồ xuống chỗ trống còn sót trên bãi cỏ. “Cả đống đồ lót nhơ bẩn của anh nữa. Xem coi cô ta có nghĩ anh là một – cái gì nhỉ? – anh chàng nóng bỏng khi ngày nào cô ta cũng phải giặt mấy thứ này cho anh nữa không!”

Richard vô vọng ôm quần áo của mình lên khi cô vợ đổ chúng xuống bãi cỏ. Anh ta thét một câu gì đó lên phía cửa sổ nhưng giữa tiếng ồn ào và chòng ghẹo của đám đông thật khó để nghe rõ anh ta nói gì. Như bỗng chấp nhận sự thất bại, anh ta lao ra khỏi đám đông, mở khóa xe, ôm một đống đồ dùng ném vào ghế sau rồi đóng sầm cửa xe lại. Lạ lùng là dù bộ sưu tập CD và video game trên bãi cỏ khá đáng ngưỡng mộ, chẳng ai rời mắt khỏi đống đồ dơ của anh ta.

Rầm. Tất cả im bặt trong một thoáng khi dàn âm thanh nổi của anh ta rơi xuống đường.

Anh ta ngước nhìn lên với ánh mắt kinh ngạc. “Cô là con chó cái điên!” “Anh ngủ với con mắt lác bệnh hoạn đó trong gara mà tôi là con chó cái điên hả?”

Mẹ tôi quay sang bố: “Bernard, anh muốn một tách cà-phê không? Em thấy trời có vẻ hơi lạnh rồi đấy.”

Bố tôi không rời mắt khỏi nhà hàng xóm. “Tuyệt đấy, em yêu. Cảm ơn em.”

Đúng khi mẹ tôi quay gót vào nhà tôi nhìn thấy chiếc xe hơi đó. Tôi ngạc nhiên tới nỗi thoạt đầu không nhận ra nó – chiếc Mercedes của bà Traynor, màu xanh nước biển, gầm thấp và trang nhã. Bà dừng xe lại, nhìn ra khung cảnh khu phố rồi chần chừ một phút trước khi xuống xe. Bà đứng đó, chằm chằm nhìn vào rất nhiều ngôi nhà khác nhau, có lẽ đang đếm xem có bao nhiêu ngôi nhà. Rồi sau đó bà nhìn thấy tôi. Tôi vụt ra khỏi cổng và đi xuống con ngõ trước khi bố kịp hỏi tôi định đi đâu. Bà Traynor đứng trước đám đông, chăm chú theo dõi cuộc cãi vã giống như Hoàng hậu Marie Antoinette đứng nhìn một cuộc nổi loạn của nông dân.

“Tranh cãi gia đình,” tôi nói.

Bà quay đi, gần như ngượng ngùng khi bị phát hiện đang theo dõi trận cãi cọ. “Tôi hiểu.”

“Theo tiêu chuẩn của họ thì đây là một cuộc tranh luận khá mang tính xây dựng đấy. Họ vừa đi gặp tư vấn hôn nhân.”

Bộ suit lịch lãm, bộ trang sức ngọc trai và mái tóc sang trọng của bà đủ để làm bà trở nên khác biệt trong khu phố của tôi với toàn những bộ đồ nỉ thể thao, những thứ vai rẻ tiền sáng màu, những bộ quần áo sản xuất hàng loạt lòe loẹt. Trông bà rất nghiêm khắc, kinh khủng hơn cả buổi sáng khi bà trở về nhà thấy tôi đang ngủ trong phòng Will. Ở đâu đó trong đầu mình, tôi đã đinh ninh rằng sau này tôi sẽ không nhớ nhung gì Camilla Traynor cả.

“Tôi băn khoăn không biết liệu cô có thể nói chuyện với tôi một lúc được không.” Bà phải nói to lên để át tiếng ồn ào.

Cô vợ Grisham đang ném những chai rượu vang của Richard ra ngoài. Mỗi chai rượu vỡ choang lại được chào đón bởi những tiếng la hét thích thú của đám đông và tiếng cầu xin khẩn khoản của anh chồng. Một sông rượu đỏ chảy qua chân đám đông trôi xuống rãnh nước.

Tôi nhìn lướt qua đám người rồi nhìn về sau phía nhà tôi. Tôi không thể tưởng tượng nổi việc đưa bà Traynor vào phòng khách nhà mình với những chiếc tàu hỏa đồ chơi bừa bộn, ông ngoại đang ngáy o o trước ti-vi, mẹ xịt nước khử mùi khắp xung quanh để át đi mùi tất chân của bố và Thomas lầm bầm chết tiệt với vị khách lạ.

“Ờ… đây không phải thời điểm thích hợp.”

“Chúng ta nói chuyện trong xe của tôi nhé? Nghe này, chỉ năm phút thôi,

Louisa. Chắc chắn cô phải làm điều đó cho chúng tôi.”

Một vài người hàng xóm liếc nhìn về phía tôi khi tôi leo lên xe. Tôi thật may mắn khi câu chuyện nhà Grisham đang là chủ đề nóng hổi tối nay nếu không tôi chắc đã trở thành trung tâm của cuộc đàm tiếu. Trong khu phố nhà tôi, khi có ai leo lên một chiếc xe đắt tiền đều có nghĩa là người đó hoặc đã quyến rũ được một anh chàng cầu thủ bóng đá hoặc đang bị cảnh sát mặc thường phục bắt.

Những cánh cửa xe đóng lại với tiếng phập nhẹ nhàng, sang trọng rồi đột nhiên không gian trở nên im lặng như tờ. Chiếc xe hơi đầy mùi da thuộc, chẳng có gì trong đó ngoài tôi và bà Traynor. Không vỏ kẹo, bùn, đồ chơi hay những đồ vật đẫm hương nước khử mùi để giấu đi mùi hộp sữa bị đánh đổ từ ba tháng trước.

“Tôi cứ nghĩ cô và Will đã rất hòa hợp.” Bà nói như thể đang nói với ai đó ở trước mặt. Khi không thấy tôi trả lời, bà nói,” Có vấn đề gì liên quan đến tiền à?”

“Không phải.”

“Cô có cần nghỉ trưa dài thêm không? Tôi thấy nó có vẻ hơi ngắn. Tôi có thể hỏi Nathan xem ông ấy…”

“Không phải vấn đề thời gian. Hay tiền bạc.” “Thế là…”

“Là tôi thật sự không muốn…”

“Nghe này, cô không thể để lại lời nhắn sẽ nghỉ việc ngay lập tức mà hy vọng tôi thậm chí không hỏi xem đã có chuyện quái quỷ gì xảy ra?”

Tôi hít một hơi thật sâu. “Tôi đã nghe trộm hai người. Bà và con gái bà. Đêm hôm qua. Và tôi không muốn… tôi không muốn tham dự vào chuyện đó.”

“À.”

Chúng tôi ngồi im lặng. Anh chồng nhà Grisham đang chen lấn để đi ra cửa trước còn cô vợ vẫn tiếp tục ném qua cửa sổ bất cứ thứ gì có thể nhằm vào đầu anh ta. Đồ đạc đang phóng ra – cuộn giấy, những hộp tampon, bàn cọ nhà vệ sinh, những chai dầu gội đầu – cho thấy cô ta đang ở trong nhà tắm.

“Xin cô đừng bỏ việc,” bà Traynor nói khẽ. “Will đang rất thoải mái khi có cô. Hơn hẳn nó từng cảm thấy trước đây. Tôi… sẽ rất khó cho chúng tôi để thay thế người khác.”

“Nhưng bà sẽ… bà sẽ đưa anh ấy đến chỗ mà người ta cho phép tự tử đó. Dignitas.”

“Không. Tôi sẽ làm mọi thứ có thể để chắc chắn nó không làm như vậy.” “Ví dụ như điều gì – cầu nguyện ư?”

Bà nhìn tôi bằng một ánh nhìn mà mẹ tôi vẫn gọi là cái nhìn “cổ điển”. “Cô phải hiểu rằng nếu Will quyết định tự rời xa mọi người thì sẽ chẳng có ai làm gì được.”

“Tôi hiểu hết rồi,” tôi nói. “Về cơ bản tôi chỉ ở đây để đảm bảo rằng anh ấy không nói dối và thực hiện hành động đó trước khi sáu tháng của anh ấy kết thúc. Chỉ thế thôi, phải không ạ?”

“Không. Không phải là như vậy.”

“Đó là lý do vì sao bà không quan tâm đến trình độ của tôi.”

“Tôi đã nghĩ là cô hoạt bát, vui tươi và cá tính. Trông cô không giống một y tá. Cô không hành xử… giống như bất kỳ ai khác. Tôi nghĩ… tôi nghĩ cô có thể làm con tôi vui vẻ lên. Và cô thật sự – thật sự làm nó vui lên, Louisa. Hãy nhìn nó không còn mang bộ râu khủng khiếp vào ngày hôm qua… cô có lẽ là một trong rất ít người có thể hiểu được nó.”

Bộ chăn gối bay ra khỏi cửa sổ. Vo thành một đống, những tấm ga khẽ tung ra mềm mại trước khi rơi xuống đất. Hai đứa trẻ con cầm một tấm trùm lên đầu rồi bắt đầu chạy vòng quanh khu vườn nhỏ bé.

“Bà không nghĩ lẽ ra bà phải nói trước nhiệm vụ chính của tôi là canh chừng việc tự tử thì mới công bằng sao?”

Tiếng Camilla Traynor thở dài giống như tiếng của một người buộc phải giải thích thật lịch sự điều gì đó cho một thằng đần. Tôi tự hỏi liệu bà có biết bất cứ điều gì bà nói đều khiến người khác có cảm giác mình giống như kẻ ngốc không. Tôi băn khoăn phải chăng đó là một điều bà thật sự đã được nuôi dạy kỹ càng. Tôi không nghĩ tôi đã từng khiến ai đó cảm thấy thấp kém hơn mình.

“Có thể hoàn cảnh trong thời gian đầu tôi gặp cô là như thế… nhưng bây giờ tôi chắc chắn Will sẽ giữ lời. Nó đã hứa cho tôi sáu tháng và đó là những gì tôi có. Chúng ta cần khoảng thời gian đó, Louisa. Chúng ta cần khoảng thời gian đó để đem đến cho nó ý nghĩ rằng sẽ có một khả năng nào đó. Tôi hy vọng thời gian đó sẽ gieo lên trong nó ý nghĩ về một cuộc sống mà nó có thể hạnh phúc, ngay cả khi đó không phải là cuộc sống mà nó đã hướng tới.”

“Nhưng tất cả chỉ là lừa dối thôi. Bà đang lừa dối tôi và tất cả mọi người trong gia đình bà đang lừa dối nhau.”

Bà dường như không nghe tôi nói. Bà quay lại nhìn vào mặt tôi, rút một tờ ngân phiếu từ túi xách ra cùng với một chiếc bút sẵn sàng trên tay.

“Nghe này, cô muốn như thế nào? Tôi sẽ tăng gấp đôi số tiền cô muốn. Cho tôi biết đi cô muốn bao nhiêu.” “Tôi không muốn tiền của bà.”

“Một chiếc xe hơi. Nhiều phúc lợi. Tặng phẩm…” “Không…”

“Thế… tôi có thể làm gì để thay đổi được ý định của cô?”

“Tôi xin lỗi. Chỉ là tôi không…”

Tôi quay người định xuống xe. Bà giơ tay ra rất nhanh. Đặt ở đó trên cánh tay tôi, lạ lùng và rung động. Hai chúng tôi cùng nhìn vào đó.

“Cô đã ký một hợp đồng, cô Clark,” bà nói. “Cô đã ký một hợp đồng với cam kết sẽ làm việc cho chúng tôi sáu tháng. Theo tôi tính thì cô mới làm được hai tháng. Tôi chỉ yêu cầu cô hoàn thành các trách nhiệm của cô trong hợp đồng.”

Giọng bà trở nên gắt gao. Tôi nhìn xuống tay bà Traynor và nhận ra nó đang run rẩy.

“Bà nuốt khan. Xin cô đấy.”

Bố mẹ tôi đang nhìn ra từ phía cổng. Tôi có thể nhìn thấy họ, hai tách trà nằm im trên tay, hai người duy nhất không ngoảnh mặt về phía vở kịch nhà hàng xóm. Họ ngượng ngùng quay đi khi nhận ra tôi đã nhìn thấy họ. Tôi nhận ra bố đang đi đôi dép lê kẻ sọc với những vết sơn loang lổ.

Tôi đẩy tay cầm cửa xe hơi. “Bà Traynor, tôi thật sự không thể cứ ngồi đó và nhìn… thật quá kỳ dị. Tôi không muốn tham dự vào chuyện này.”

“Cô cứ suy nghĩ đi. Ngày mai là Thứ Sáu Tuần Thánh – tôi sẽ nói với Will cô phải đi lễ cùng gia đình nếu cô thật sự cần một chút thời gian. Hãy dành ngày nghỉ cuối tuần để suy nghĩ về vấn đề này. Nhưng xin cô. Hãy trở lại. Trở lại và giúp đỡ nó.”

Tôi đi về nhà mà không quay đầu lại. Tôi ngồi trong phòng khách, nhìn chằm chằm vào ti-vi, bố mẹ vào theo sau tôi, liếc nhìn nhau và vờ như không nhìn tôi.

Cuối cùng, khoảng mười một phút sau đó, tôi nghe tiếng xe bà Traynor khởi động và phóng đi.

***

Em gái tôi chạy tới gây sự với tôi chỉ năm phút sau khi về nhà, ầm ầm bước lên cầu thang, lao vào mở cửa phòng tôi.

“Đây rồi, vào đi,” tôi nói. Tôi đang nằm trên giường, hai chân duỗi lên tường, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà. Tôi đang mặc quần tất cùng với quần soóc sequin màu xanh ôm quanh hai đùi chẳng chút hấp dẫn.

Katrina đứng trước cửa phòng tôi. “Đó là sự thật sao?”

“Cô Dympna Grisham cuối cùng đã tống cổ anh chồng bội bạc tệ hại đó và…”

“Đừng có đánh trống lảng. Em hỏi công việc của chị cơ.”

Ngón chân cái của tôi vẽ theo những họa tiết trên giấy dán tường.

“Phải, chị đã xin thôi việc. Phải, chị biết bố mẹ chẳng vui mừng gì cho lắm về chuyện đó. Phải, phải và phải với tất cả những gì mà em sắp ném vào chị.”

Nó đóng chặt cánh cửa phía sau lưng, rồi ngồi phịch xuống giường và chửi thề thật to. “Em đếch tin nổi điều chị nói.”

Nó hất mạnh hai chân tôi khiến tôi trượt khỏi tường, nằm bẹp xuống giường.

Tôi ngồi bật dậy. “Ôi.”

Mặt nó đỏ dừ. “Em không tin được. Mẹ đang ngồi đau khổ dưới nhà kia kìa. Bố thì giả vờ không cảm thấy như vậy nhưng thật ra bố cũng thế đấy. Bố mẹ phải làm gì với chuyện tiền bạc đây? Chị biết là bố đang rất hoảng hốt về vấn đề công việc rồi còn gì. Cái quái quỷ gì đã khiến chị vứt một công việc tốt tuyệt vời vậy?”

“Đừng có lên lớp chị, Treen.”

“Ồ, phải có ai làm điều đó chứ! Chị sẽ không bao giờ kiếm được số tiền như thế ở một nơi nào khác nữa. Còn cái hồ sơ xin việc của chị rồi nó sẽ trông ra sao?”

“Ôi, đừng cỏ giả vờ điều này là vì bất kỳ cái gì khác ngoài em và những thứ em cần.”

“Cái gì cơ?”

“Em chẳng quan tâm chị làm cái gì, miễn là em có thể đi tìm lại công việc đầy tham vọng của em. Em chỉ cần chị ở đó chống đỡ kinh tế gia đình và làm nhiệm vụ chăm sóc trẻ em chết tiệt. Mọi người khác cũng vậy.” Tôi biết mình nói như thế thật ghê gớm và kinh khủng nhưng tôi không thể kiềm chế bản thân được. Xét cho cùng chính tại hoàn cảnh của em gái tôi đã đẩy cả gia đình vào đống bế tắc này. Sự phẫn uất dồn nén nhiều năm trong tôi bắt đầu trào ra. “Tất cả mọi người trong gia đình đã phải bám lấy những công việc mà mọi người rất ghét chỉ để cô Katrina bé nhỏ hoàn thành những tham vọng chết tiệt của cô ta.”

“Đó không phải là vì em.” “Không phải hả?”

“Không, đó là vì chị không thể giữ được công việc duy nhất phù hợp mà chị đã phải tìm trong nhiều tháng.”

“Em chẳng biết tí gì về công việc của chị, đúng không?”

“Em biết đó là công việc được trả lương cao với thời gian làm việc ít nhất.

Đó là tất cả những gì em cần biết về nó.”

“Không phải mọi thứ trong cuộc đời này đều liên quan đến tiền bạc đâu, em biết chứ.”

“Thật thế hả? Chị xuống tầng nói với bố mẹ câu đó đi.”

“Em mà dám lên lớp chị về chuyện tiền bạc trong khi chưa từng chu cấp một thứ chết tiệt nào cho gia đình này trong suốt bao nhiêu năm qua hả.” “Chị biết em không thể chu cấp được gì nhiều bởi vì có Thomas mà.”

Tôi đẩy cô em gái ra khỏi cửa. Tôi không thể nhớ lần cuối cùng tôi thật sự đặt tay lên người nó là khi nào, nhưng chính xác là lúc này tôi đang rất muốn đấm ai đó thật mạnh và tôi sợ việc tôi có thể sẽ làm nếu nó vẫn cứ ngồi trước mặt tôi. “Biến ra ngoài đi, Treen. Okay? Ra ngoài và để chị yên một mình.”

Tôi đóng sầm cửa trước mặt em gái. Khi cuối cùng tôi nghe tiếng nó đi chậm chậm xuống cầu thang, tôi quyết định không suy nghĩ về việc nó sẽ nói gì với bố mẹ, về cách họ xem việc lần này như một minh chứng rõ ràng hơn nữa về sự vô dụng khiếp khủng của tôi khi làm bất cứ công việc dù ở trình độ nào. Tôi quyết định không nghĩ về anh chàng Syed ở trung tâm giới thiệu việc làm, không nghĩ xem tôi sẽ phải giải thích lý do bỏ công việc được trả lương cao nhất trong số những công việc giúp việc gia đình này ra sao. Tôi quyết định không nghĩ về lò giết mổ gà hay chuyện ở đâu đó sâu trong lòng khu xưởng ấy, có thể vẫn có một bộ đồ yếm bảo hộ bằng nhựa và cả một chiếc mũ chụp vệ sinh còn ghi tên tôi.

Tôi lại nằm xuống giường và suy nghĩ về Will. Tôi nghĩ về sự giận dữ và nỗi buồn của anh. Tôi nghĩ về những gì mẹ anh đã nói – rằng tôi là người duy nhất có thể hiểu được anh. Tôi nghĩ đến lúc anh cố gắng không bật cười với bài “Bài hát Molahonkey” vào buổi đêm khi tuyết bay vàng rộm ngoài ánh đèn cửa sổ. Tôi nghĩ về làn da ấm áp, mái tóc mềm mại và đôi tay của một con người còn đang sống, một con người thông minh và vui tính hơn nhiều so với tôi, con người đến giờ vẫn không thấy một tương lai nào sáng sủa hơn cách tự chấm dứt cuộc đời mình. Rồi cuối cùng, đầu tôi nặng trĩu vùi vào gối, tôi bắt đầu khóc bởi vì đột nhiên giờ đây cuộc đời tôi trở nên tăm tối và phức tạp hơn tôi từng có thể tưởng tượng ra rất nhiều, tôi ước tôi có thể quay lại, quay lại thời gian khi nỗi lo lắng lớn nhất của tôi là liệu Frank và tôi đã đặt đủ bánh mì ngọt Chelsea chưa.

Có một tiếng gõ cửa.

Tôi hừ mũi. “Cút đi, Katrina.” “Em xin lỗi.”

Tôi nhìn chằm chằm ra ngoài cửa.

Giọng nói của nó nghe nghèn nghẹt như thể môi nó đã gí vào lỗ chìa khóa. “Em mang theo rượu đây. Nghe này, cho em vào ngay lập tức nếu không mẹ sẽ nghe thấy em nói đấy. Em giấu theo hai cái cốc trong áo đây. Chị biết là mẹ sẽ thế nào nếu biết chị em mình uống rượu trên gác rồi đấy.”

Tôi nhảy xuống giường ra mở cửa.

Nó liếc nhìn lên gương mặt còn dấu nước mắt của tôi rồi nhanh chóng đóng cửa phòng lại. “Được rồi,” nó nói, vặn mạnh nút chai rượu rồi rót cho tôi một cốc, “thật sự thì đã có chuyện gì vậy?”

Tôi nhìn em gái tôi rất nghiêm túc. “Em phải không được nói với ai chuyện chị kể đâu nhé. Không nói với bố. Đặc biệt không nói với mẹ.”

Rồi tôi kể cho nó nghe.

Tôi phải kể cho ai đó.

Có rất nhiều điều khiến tôi không thích em gái tôi. Mấy năm trước tôi còn có thể đưa ra những bản danh sách lằng ngoằng toàn bộ các câu chuyện mà tôi đã viết ra về chính chủ đề này. Tôi ghét nó vì nó có mái tóc dài suôn thẳng trong khi tóc tôi chưa dài đến vai đã chẻ ngọn. Tôi ghét nó vì chẳng ai có thể kể cho nó nghe bất cứ chuyện gì mà nó chưa hề biết. Tôi ghét nó vì tất cả giáo viên hướng nghiệp ở trường tôi đều suốt ngày nói với tôi rằng nó vô cùng tài giỏi, cứ như thể chuyện nó tài giỏi không liên quan gì tới việc tôi phải sống trong cái bóng mãi mãi. Tôi ghét nó vì ở tuổi hai mươi sáu tôi sống trong một cái gác lửng trong ngôi nhà liên kế chỉ để nó được ở với đứa con trai vô thừa nhận của nó trong căn phòng ngủ rộng rãi hơn. Nhưng cũng có đôi khi tôi thật sự vui sướng vì nó là em gái của tôi.

Bởi vì Katrina không kêu lên kinh hãi. Nó không tỏ ra sốc hoặc khăng khăng bắt tôi phải nói với bố mẹ. Nó không hề nói một câu nào rằng tôi đã làm sai khi bỏ đi.

Nó uống một ngụm lớn. “Ôi chao.” “Thế đấy.”

“Chuyện đó cũng là hợp pháp. Họ không thể ngăn cản anh ta được.” “Chị biết.”

“Quái thật. Em thậm chí không thể tưởng tượng được ra chuyện như vậy.”

Chúng tôi đặt ly xuống khi kể chuyện đó và tôi có thể cảm thấy hai má mình nóng lên. “Chị ghét cái ý nghĩ mình đã bỏ rơi anh ta. Nhưng chị không thể tham dự vào đó được, Treen. Chị không thể.”

“Ừm.” Nó đang suy nghĩ. Em gái tôi thật sự có một “gương mặt đang suy nghĩ”. Gương mặt ấy khiến mọi người phải chờ đợi trước khi nói điều gì với nó. Bố tôi nói gương mặt tôi khi đang suy nghĩ trông giống như thể tôi muốn đi vệ sinh.

“Chị không biết phải làm gì cả,” tôi nói.

Nó nhìn tôi, mặt đột nhiên sáng bừng lên. “Rất đơn giản.” “Đơn giản.”

Nó rót thêm rượu vào cả hai ly. “Ồ. Chúng ta dường như vừa xong việc này rồi. Phải. Đơn giản. Họ có nhiều tiền, đúng không?”

“Chị không muốn tiền của họ. Bà ấy đã đề nghị tăng lương. Nhưng đó không phải là vấn đề.”

“Yên nào. Không phải là cho chị, ngốc thế. Họ sẽ có tiền riêng của mình. Và anh ta có thể có cả đống tiền bảo hiểm từ vụ tai nạn. Phải, chị hãy nói với họ là chị cần một tài khoản và rồi chị sẽ sử dụng số tiền đó, chị sử dụng – làm gì nhỉ? – chị còn lại bốn tháng. Và chị sẽ thay đổi ý định của Will Traynor.” “Cái gì cơ?”

“Chị thay đổi ý định của anh ta. Chị nói anh ta hầu như khi nào cũng ở trong nhà phải không? Được rồi, hãy bắt đầu từ những việc thật nhỏ, sau đó một khi đã đưa được anh ta đi chơi, chị hãy nghĩ ra tất cả mọi thứ thật tuyệt diệu mà chị có thể làm cho anh ta, tất cả mọi thứ khiến anh ta muốn sống – phiêu lưu mạo hiểm, du lịch nước ngoài, bơi với cá heo, bất cứ cái gì – rồi chị thực hiện chúng. Em có thể giúp chị. Em sẽ lên thư viện tra cứu internet. Em cá chúng ta có thể tìm ra những thứ rất tuyệt vời mà anh ta có thể làm. Những thứ thật sự làm anh ta vui vẻ.”

Tôi nhìn nó chằm chằm. “Katrina…”

“Em biết mà.” Nó cười nhăn nhở khi tôi bắt đầu mỉm cười. “Em cực kỳ tài mà.”

Chương 10

Họ tỏ vẻ hơi ngạc nhiên. Thật ra đó là một câu nói giảm. Bà Traynor trông choáng váng, rồi hơi lúng túng, rồi cả gương mặt bà tối sầm lại. Cô con gái đang nằm co người trên sofa cạnh bà thì mặt mũi hằm hằm – mẹ thường cảnh cáo tôi là lúc nào cũng mang bộ mặt kiểu đó khi trời chuyển gió. Đó rõ ràng không phải là phản ứng đầy khích lệ mà tôi đã kỳ vọng.

“Nhưng thật ra cô muốn làm gì?”

“Tôi vẫn chưa biết. Em gái tôi rất giỏi tìm kiếm mọi thứ. Nó đang cố tìm ra những thứ khả dĩ cho người bị liệt tứ chi. Nhưng trước tiên tôi muốn biết liệu ông bà có sẵn sàng với kế hoạch đó không đã.”

Chúng tôi đang ngồi trong phòng khách nhà họ. Đây chính là căn phòng tôi từng tới phỏng vấn, chỉ khác là lần này bà Traynor và con gái đang ngồi trên sofa, chú chó già ngồi giữa họ. Ông Traynor đang đứng bên lò sưởi. Tôi mặc chiếc áo khoác vải bông màu chàm quê mùa kiểu Pháp và chiếc váy ngắn, đi đôi bốt kiểu nhà binh. Giờ tôi mới sực nhận ra đáng lẽ tôi nên mặc một bộ đồng phục trông chuyên nghiệp hơn để trình bày phác thảo kế hoạch của mình.

“Để tôi nói rõ ra nhé,” bà Traynor vươn người tới trước. Cô muốn đưa Will rời khỏi nhà.

“Vâng.”

“Và đưa nó tham gia một loạt chuyến phiêu lưu.” Bà nói về điều đó cứ như thể tôi đang đề nghị được biểu diễn màn phẫu thuật nội soi nghiệp dư trên cơ thể anh vậy.

“Đúng thế. Như tôi đã nói, tôi chưa biết có thể làm những gì. Nhưng kế hoạch này là nhằm đưa anh ấy đi ra ngoài đổi gió, mở rộng chân trời trước mắt anh ấy. Có thể trước tiên chúng tôi sẽ thực hiện vài chuyến phiêu lưu ở ngay trong vùng, sau đó hy vọng không bao lâu sẽ tới một nơi nào đó xa ra bên ngoài.”

“Ý cô là đi nước ngoài ấy hả?”

“Nước ngoài…?” Tôi chớp mắt. “Tôi đang nghĩ có lẽ sẽ đưa anh ấy tới quán rượu thì đúng hơn. Hoặc đi xem ca nhạc, khởi đầu là thế.”

“Hai năm qua Will hầu như không đi đâu khỏi nhà, trừ những cuộc hẹn khám ở bệnh viện.”

“À, phải… Tôi đã nghĩ tôi sẽ cố thuyết phục anh ấy.”

“Và tất nhiên cô sẽ đi cùng anh ấy trong mọi chuyến phiêu lưu đó,” Georgina Traynor nói.

“Nghe này. Không có gì to tát đâu. Thật ra tôi chỉ nói tới chuyện đưa anh ấy ra khỏi nhà, ban đầu là thế. Một chuyến dạo bộ quanh lâu đài, hoặc vào chơi quán rượu một lát. Nếu cuối cùng chúng tôi đi chơi cùng cá heo ở Florida thì cũng hay lắm. Nhưng thực tình tôi chỉ muốn đưa anh ấy ra khỏi nhà để được nghĩ về những điều khác đi.” Tôi không nói thêm rằng chỉ nghĩ tới chuyện một mình lái xe chở Will tới bệnh viện thôi vẫn đủ khiến tôi toát mồ hôi lạnh. Thì ý nghĩ đưa anh ra nước ngoài nghe thật chẳng khác gì chuyện tôi chạy marathon.

“Tôi nghĩ đó là một ý rất hay,” ông Traynor nói. “Tôi cho rằng đưa được Will đi đổi gió thì quá tuyệt vời. Rõ ràng là không hề tốt khi cứ để nó nhìn bốn bức tường ngày này qua ngày khác.”

“Bọn em đã cố gắng đưa con ra ngoài, Steven,” bà Traynor nói. “Đâu có phải bọn em để mặc nó ở đó cho tới mục ruỗng. Em đã thử không biết bao nhiêu lần rồi.”

“Anh biết điều đó, em yêu, nhưng chúng ta có thành công gì đáng kể đâu, phải không? Nếu cô Louisa đây có thể nghĩ ra những thứ mà Will sẵn sàng thử thì tốt quá đi chứ còn gì nữa nhỉ?”

“À, phải, sẵn sàng thử quả là cụm từ thực tế.”

“Đó chỉ là một ý kiến thôi,” tôi nói. Bỗng nhiên tôi thấy bực mình. Tôi hiểu những gì bà ta đang nghĩ. “Nếu bà không muốn tôi làm việc đó thì…”

“… thì cô sẽ bỏ việc?” Bà nhìn thẳng vào mắt tôi.

Tôi không quay đi. Bà ta không khiến tôi sợ được nữa. Vì giờ tôi biết bà ta không tử tế hơn tôi. Bà ta là kiểu đàn bà có thể ngồi khoanh tay nhìn con trai chết ngay trước mắt mình.

“Phải, có lẽ là thế.”

“Thế ra đây là một vụ tống tiền.” “Georgina!”

“Ôi, cứ nói toạc móng heo ra thôi bố ơi.”

Tôi ngồi thẳng người lên một chút. “Không. Không phải là tống tiền đâu. Mà là một việc tôi đã sẵn sàng tham dự. Tôi không thể cứ ngồi yên, lặng lẽ chờ thời gian trôi qua cho tới khi… Will… ừm…” Giọng tôi nhỏ dần.

Tất cả chúng tôi đều nhìn trân trân xuống tách trà.

“Như tôi đã nói,” ông Traynor quả quyết. “Tôi nghĩ đó là một ý kiến rất hay. Nếu có thể làm Will đồng tình với chuyện này thì tôi thấy chẳng có gì phương hại cả. Tôi rất thích ý tưởng đưa nó đi nghỉ. Chỉ cần… chỉ cần cho chúng tôi biết cô muốn chúng tôi làm gì.”

“Mẹ có một ý này.” Bà Traynor đặt một tay lên vai cô con gái. “Có lẽ con nên đi nghỉ cùng họ, Georgina.”

“Với tôi thì tốt thôi,” tôi nói. Đúng là thế thật. Vì cơ hội đưa Will đi nghỉ của tôi cũng sánh bằng khả năng chiến thắng trong trò Mastermind – thử thách trí thông minh.

Georgina Traynor nhúc nhích ngại ngùng trên ghế. “Con không thể. Mẹ biết hai tuần nữa con bắt đầu công việc mới rồi mà. Một khi đã nhận việc thì trong một thời gian con sẽ không thể về lại Anh được.”

“Con sắp trở lại Úc à?”

“Đừng tỏ ra ngạc nhiên thế. Con đã nói với mẹ con chỉ về thăm nhà thôi rồi còn gì.”

“Mẹ chỉ nghĩ rằng… vì… vì những chuyện gần đây, có khi con muốn ở nhà lâu hơn.” Camilla Traynor nhìn chằm chằm cô con gái với ánh mắt bà chưa bao giờ chiếu vào Will, dù anh có thô lỗ với bà tới đâu.

“Việc đó tốt lắm mẹ ạ. Con đã phấn đấu vì công việc ấy suốt hai năm nay.” Cô ta liếc nhìn sang ông bố. “Con không thể ngưng trệ cả cuộc đời mình chỉ vì tình trạng tâm thần của Will.”

Một khoảng im lặng kéo thật dài.

“Như thế thật bất công. Nếu con ngồi xe lăn, mẹ có yêu cầu Will gác mọi kế hoạch của anh ấy qua một bên không?”

Bà Traynor không nhìn con gái nữa. Tôi liếc xuống bản danh sách, đọc đi đọc lại khổ đầu tiên.

“Con còn có cuộc đời, bố mẹ biết mà.” Câu nói đó thốt ra như một lời biện hộ.

“Chúng ta sẽ thảo luận chuyện này vào lúc khác.” Ông Traynor đặt tay lên vai con gái rồi bóp nhẹ.

“Vâng, cứ thế đi.” Bà Traynor bắt đầu lật giở những trang giấy trước mặt mình. “Thế thôi, được rồi. Tôi nghĩ chúng ta sẽ làm thế này. Tôi muốn biết mọi điều cô đang ấp ủ,” bà nói, ngước nhìn tôi. “Tôi muốn lên dự toán chi phí, và nếu có thể, tôi muốn một lịch trình để tôi có thể sắp xếp nghỉ một số buổi để đi cùng hai người. Tôi còn mấy ngày phép chưa dùng nên tôi có thể…”

“Không.”

Tất cả chúng tôi quay sang nhìn ông Traynor. Ông đang xoa đầu chú chó, vẻ mặt ông rất dịu dàng nhưng giọng thì cương quyết. “Không đâu. Anh nghĩ em không nên đi, Camilla. Will được phép tự mình làm việc này.”

“Will không thể tự mình làm nó, Steven. Có cực kỳ nhiều thứ cần được tính toán khi Will đi đâu. Phức tạp lắm. Em không nghĩ chúng ta cứ thế để nó cho…”

“Không, em yêu,” ông nhắc lại. “Nathan có thể giúp, và Louisa sẽ sắp xếp ổn cả thôi.” “Nhưng…”

“Will cần được phép cảm thấy như một người đàn ông. Chuyện đó sẽ là không thể nếu mẹ nó – hay em gái nó cũng thế – lúc nào cũng khư khư bên cạnh.”

Lúc đó tôi thoáng thấy thương cho bà Traynor. Bà vẫn giữ vẻ mặt kiêu hãnh như thường lệ, nhưng tôi có thể thấy dưới vẻ mặt ấy, bà dường như hơi lạc lối, như thể bà không hiểu nổi chồng bà đang làm gì. Tay bà lướt lên cổ.

“Tôi sẽ đảm bảo an toàn cho anh ấy,” tôi nói. “Và tôi sẽ cho bà biết mọi chuyện chúng tôi định làm sớm nhất có thể.”

Quai hàm bà siết chặt tới nỗi một đường cơ nhỏ hằn lên ngay dưới gò má.

Tôi tự hỏi có phải lúc này bà thực sự căm ghét tôi. “Tôi cũng muốn Will thấy muốn sống,” tôi chốt lại.

“Chúng tôi rất hiểu điều đó,” ông Traynor nói. “Và chúng tôi đánh giá rất cao quyết tâm của cô. Và cả óc suy xét.” Tôi tự hỏi phải chăng từ cuối cùng đó là ám chỉ Will, hoặc một điều gì hoàn toàn khác, thế rồi ông đứng dậy và tôi nhận ra đó là dấu hiệu tiễn tôi. Georgina và bà mẹ vẫn ngồi trên sofa, chẳng nói chẳng rằng. Tôi có cảm giác khi tôi rời khỏi phòng sẽ có một cuộc trao đổi toàn diện hơn ở đây.

“Vâng, được rồi,” tôi nói. “Tôi sẽ trình giấy tờ cụ thể ngay khi tôi lên kế hoạch xong xuôi trong đầu. Sẽ sớm thôi ạ. Chúng ta không có nhiều…”

Ông Traynor vỗ vai tôi.

“Tôi hiểu. Chỉ cần cho chúng tôi biết cô định làm gì là được,” ông nói.

Treena đang thổi phù phù hai bàn tay, đôi chân thì di chuyển lên xuống một cách vô thức như đang chạy nâng cao gối. Nó đội chiếc mũ bê-rê màu xanh sẫm của tôi, thật bực mình là cái mũ đó ở trên đầu nó trông đẹp hơn rất nhiều so với khi ở trên đầu tôi. Nó vươn người đưa bản danh sách vừa rút từ trong túi áo ra đưa cho tôi.

“Có lẽ chị sẽ phải gạch mục số ba đi, không thì ít nhất cũng phải đợi khi trời ấm hơn mới thực hiện nó được.”

Tôi kiểm tra bản danh sách. “Bóng rổ cho người liệt tứ chi? Chị còn không dám chắc anh ta có thích bóng rổ không.”

“Chuyện đó đâu có quan trọng. Ôi trời ơi, ở trên này sao mà lạnh thế.” Nó kéo mũ bê-rê xuống chụp lấy hai tai. “Vấn đề là nó sẽ cho anh ấy một cơ hội xem coi mình làm được gì. Anh ấy có thể thấy rằng có những người ở trong tình trạng tệ không kém gì anh ấy vẫn chơi được thể thao và làm nhiều thứ khác.”

“Chị không chắc nữa. Anh ta thậm chí không nâng nổi cái ly. Chị nghĩ chắc những người đó chỉ bị liệt hai chân thôi. Chị chẳng hiểu nổi làm sao không dùng tay mà người ta ném bóng được.”

“Chị không hiểu vấn đề rồi. Anh ấy không buộc phải làm thật cái gì cả, mà đây là để mở rộng tầm nhìn của anh ấy thôi, phải không? Chúng ta đang cho anh ấy thấy người tàn tật làm được gì.”

“Cứ cho là vậy đi.”

Đám đông bỗng rì rầm xôn xao. Những tay chạy đua xuất hiện trong tầm mắt, phía xa xa. Nếu bật lên đứng nhón chân, tôi có thể chỉ rõ chỗ bọn họ lúc này, có lẽ cách chừng ba cây số về dưới thung lũng, một cụm nhỏ những đốm trắng lắc lư kéo mình đi trong giá lạnh dọc con đường ướt át xám xịt. Tôi liếc đồng hồ. Tôi đã đứng trên đỉnh ngọn đồi tên là Đồi Gió Lộng này gần bốn mươi phút rồi, hai chân tê cóng không còn cảm giác gì nữa.

“Em đã tìm kiếm những hoạt động trong vùng, nếu chị không muốn lái xe quá xa thì vài tuần nữa có một trận đấu ở trung tâm thể thao đấy. Anh ta còn có thể cá cược kết quả nữa cơ.”

“Cá cược hả?”

“Như thế anh ta có thể tham gia trận đấu một chút mà không hề phải chơi. Ô nhìn xem, bọn họ kìa. Chị nghĩ mất bao lâu thì họ tới chỗ bọn mình?”

Chúng tôi đứng bên vạch đích. Trên đầu chúng tôi là tấm banner bằng vải bạt đề “Vạch Đích Kỳ Thi Ba Môn Phối Hợp Mùa Xuân” bay phần phật trong gió lộng.

“Ai mà biết. Hai mươi phút à? Hay lâu hơn? Chị có một thanh kẹo Mars cứu đói nếu em muốn chia sẻ.”

Tôi thò tay vào túi. Chỉ giữ bản danh sách bằng một tay nên tôi không thể ngăn nó bay phần phật. “Thế em còn nghĩ ra cái gì nữa?”

“Chị bảo chị muốn đi xa ra bên ngoài phải không?” Nó chỉ vào tay tôi. “Chị lấy phần to hơn kìa.”

“Thì ăn phần này đi. Chị nghĩ nhà đó cho là chị đang hôi của.”

“Cái gì, chỉ vì chị muốn đưa anh ấy đi chơi lăng quăng vài ngày thôi hả? Chúa ơi. Lẽ ra họ phải thấy biết ơn vì có người nỗ lực làm điều đó chứ. Khác hẳn bọn họ.”

Treena lấy nửa kia thanh Mars. “Thôi kệ họ đi. Số năm, em nghĩ nó được đấy. Có một khóa học vi tính anh ấy có thể tham dự. Người ta đặt một thứ có gắn một cái que lên đầu người bị liệt để họ gật đầu là chạm được vào bàn phím. Có rất nhiều nhóm người liệt tứ chi trên mạng. Anh ấy có thể kết vô khối bạn mới bằng cách đó. Điều đó có nghĩa anh ta không phải thường xuyên ra khỏi nhà. Em thậm chí còn nói chuyện với vài người trong chat-room. Họ có vẻ dễ chịu. Khá…” nó nhún vai “… bình thường.”

Chúng tôi im lặng ăn thanh Mars, quan sát nhóm người chạy đua bơ phờ tiến lại mỗi lúc một gần. Tôi chẳng phát hiện ra Patrick. Tôi chưa bao giờ làm được thế. Anh có kiểu mặt rất dễ lẫn trong đám đông.

Treena chỉ vào mẩu giấy.

“Thôi nào, tới phần văn hóa đi. Có một buổi hòa nhạc đặc biệt dành cho những người tàn tật đây này. Chị bảo anh ta đam mê văn hóa phải không? À, anh ta chỉ cần ngồi đó thăng hoa cùng âm nhạc. Thế gọi là đưa tâm hồn thoát khỏi thể xác phải không nhỉ? Ông Derek có bộ ria mép ở chỗ làm bảo với em thế đấy. Ông ta nói buổi hòa nhạc có thể hơi ồn ào vì những người tàn phế hay rên i ỉ, nhưng em chắc anh ấy vẫn sẽ thích nó.”

Tôi nhăn mũi. “Chị không biết nữa, Treen…”

“Chị lo sợ vì em nói tới từ văn hóa chứ gì. Chị chỉ phải ngồi đó với anh ấy thôi. Và đừng có ăn bim bim xào xạo. Mà nếu chị thích thứ gì đó vui nhộn hơn một chút thì…” Nó cười nhăn nhở với tôi. “Có một câu lạc bộ múa cột. Chị có thể đưa anh ấy tới London xem trò đó.”

“Đưa ông chủ của chị đi xem múa cột ấy hả?”

“Ồ, chị nói chị làm mọi thứ khác cho anh ta – nào là lau dọn, cho ăn, đủ thứ. Thế thì sao chị không thể ngồi bên cạnh trong khi anh ta cương cứng chứ nhỉ.” “Treena!”

“Ôi, chắc anh ấy nhớ chuyện đó lắm. Thậm chí chị còn có thể mua cho anh ấy một màn múa khiêu dâm.”

Vài người trong đám đông quanh chúng tôi quay đầu lại. Em gái tôi đang cười to. Nó có thể nói về tình dục như thế đấy. Như thể đó là một kiểu giải trí. Như thể tình dục là chuyện nhỏ.

“Rồi mặt khác còn có những chuyến đi hay ho hơn. Chẳng biết bọn chị thích gì, nhưng bọn chị có thể đi nếm rượu ở Loire… khởi đầu như thế cũng không quá đáng lắm đâu.”

“Người bị liệt tứ chi có được say không?” “Em đâu biết. Hỏi anh ấy xem.”

Tôi cau mày khi xem bản danh sách. “Thế… chị sẽ trở lại nói với nhà Traynor rằng chị định chuốc say cậu con trai bị liệt tứ chi mang ý đồ tự vẫn của họ, dùng tiền nhà họ vào trò múa cột và múa khiêu dâm, sau đó đẩy anh ta tới Paralympics…”

Treena giật bản danh sách khỏi tay tôi. “Ôi, em nghĩ chị chẳng thể nghĩ ra trò gì gợi cảm hứng hơn được đâu.”

“Chị chỉ nghĩ… chị không biết nữa.” Tôi xoa mũi. “Chị chỉ cảm thấy hơi nản, thật đấy. Thuyết phục được anh ấy ra vườn thôi cũng khó lắm rồi.”

“Đó đâu phải chuyện thái độ, đúng không? Ồ, nhìn kìa. Họ tới rồi. Chúng ta nên mỉm cười.”

Chúng tôi chen lên phía trước đám đông và bắt đầu cổ vũ. Chẳng dễ gì hò reo giòn giã được khi mà đôi môi đã cứng đờ vì lạnh.

Rồi tôi thấy Patrick, đầu anh nhấp nhô giữa biển những tấm thân đang căng ra, gương mặt anh bóng nhẫy mồ hôi, từng thớ gân cổ căng lên và gương mặt khắc khổ như thể anh đang phải chịu đựng một kiểu tra tấn nào đó. Cũng gương mặt đó sẽ bừng sáng ngay khi anh băng qua vạch đích, như thể chỉ khi đo lường được tâm tư cá nhân sâu xa nào đó, anh mới đạt được kết quả cao. Anh không nhìn thấy tôi.

“Tiến lên, Patrick!” tôi kêu lên, yếu ớt.

Rồi anh lướt qua, băng về vạch đích.

Hai ngày sau hôm tôi không thể hiện được mức nhiệt tình cần thiết với bản danh sách “Phải Làm” của Treena, nó không thèm nói chuyện với tôi. Bố mẹ tôi không để ý thấy chuyện đó; họ còn mải vui sướng như điên khi nghe nói tôi quyết định không bỏ việc. Ban quản lý xưởng đồ gỗ gia dụng đã triệu tập một loạt cuộc gặp vào cuối tuần đó, và bố tôi tin rằng ông sẽ nằm trong số bị buộc phải thôi việc. Chưa một ai quá tuổi bốn mươi mà trụ lại được sau cuộc sát hạch.

“Bố mẹ rất biết ơn về công việc giúp việc của con, con yêu,” mẹ tôi nói, thường xuyên tới mức khiến tôi cảm thấy hơi mất thoải mái.

Đó là một tuần kỳ khôi. Treena bắt đầu đóng đồ đi học, thế nên ngày nào tôi cũng phải lẻn lên tầng xem hết lượt những túi đồ nó đóng sẵn để xem thứ đồ dùng nào của tôi mà nó dự định mang đi. Đa số quần áo của tôi được an toàn, nhưng theo những gì mới phát hiện ra thì tôi sắp mất một chiếc máy sấy, cặp kính Prada dởm, và cái túi đựng đồ trang điểm có in hình trái chanh ưa thích. Nếu tôi có hạch sách nó về món nào trong số đó, nó sẽ nhún vai rồi nói, “Ôi, chị có khi nào dùng nó đâu,” như thể toàn bộ vấn đề chỉ có vậy.

Đó quả tình là con người của Treena. Nó luôn coi bản thân là số một. Dù đã có Thomas, nó chưa bao giờ mất hẳn cảm giác mình là bé cưng trong nhà – cái cảm giác ăn sâu bám rễ rằng cả thế giới thực sự vận hành quanh nó. Khi chúng tôi còn nhỏ, mỗi lần nó nổi cơn điên vì thích một thứ đồ của tôi, mẹ lại ra năn nỉ tôi “thôi cho em thứ đó đi”, ít nhất cũng để nhà cửa yên bình một chút. Gần hai mươi năm sau, chẳng có gì thật sự thay đổi. Chúng tôi phải trông Thomas để Treena vẫn được đi chơi, cho thằng bé ăn để nó không phải lo lắng, mua cho nó những món quà Giáng sinh và sinh nhật thật giá trị “vì có Thomas rồi con bé thường không có những món đồ đó khi đi ra dường”. Ồ, nó có thể đi mà không có cái túi đựng đồ trang điểm in hình trái chanh của tôi quá đi chứ. Tôi dán một mẩu giấy trên cửa đề: “Đồ của chị là ĐỒ CỦA CHỊ. BIẾN ĐI.” Treena giật phăng nó đi rồi bảo với mẹ tôi là đứa trẻ to đầu nhất nó từng thấy, Thomas bé xíu là vậy mà còn người lớn hơn tôi.

Nhưng tôi vẫn phải nghĩ ngợi. Một tối, khi Treena đã tới lớp học ban đêm, tôi ngồi trong bếp trong khi mẹ sắp xếp những chiếc áo sơ-mi cần là của bố.

“Mẹ này…” “Sao con.”

“Mẹ nghĩ xem khi nào Treena đi rồi con chuyển vào phòng nó được không?”

Mẹ ngừng tay, chiếc áo xếp dở ấn trên ngực mẹ. “Mẹ không biết nữa. Mẹ chưa nghĩ tới chuyện đó.”

“Ý con là, nếu nó và Thomas không còn ở đây, thì con phải được phép ở trong phòng ngủ có diện tích hợp lý mới công bằng. Thật vô lý khi để căn phòng trống không khi hai mẹ con nó đi học.”

Mẹ gật đầu, rồi cẩn thận đặt chiếc áo vào giỏ đồ là ủi. “Mẹ nghĩ con nói đúng.”

“Và nói cho đúng, cái phòng đó phải là của con, vì con là chị. Chỉ vì nó có Thomas nên nó mới được cái phòng đó.”

Mẹ thấy tôi nói có lý. “Đúng thế. Mẹ sẽ nói với Treena về chuyện này,” bà nói.

Mãi sau tôi mới hiểu câu đó có nghĩa tốt nhất mẹ nên đề cập chuyện này với em gái tôi trước.

Ba tiếng sau, nó lao vào phòng khách với vẻ mặt hầm hầm. “Sao chị nhảy vào mồ em nhanh thế?”

Ông ngoại giật bắn mình trên ghế, tay ông ôm chặt lấy ngực theo phản xạ.

 Tôi ngước mắt lên khỏi ti-vi. “Em đang nói gì thế?”

“Em và Thomas phải đi đâu vào dịp cuối tuần? Bọn em không thể chui cả hai vào cái phòng gác lửng ấy. Trong đó còn không đủ chỗ cho hai cái giường.”

“Rõ là thế. Vậy mà chị đã phải gắn với nó năm năm trời đấy.” Biết mình hầu như chẳng sai chút nào nên giọng tôi nghe cáu bẳn hơn dự định.

“Chị không thể lấy phòng em được. Như thế thật bất công.” “Sắp tới em thậm chí còn không ở đó!”

“Nhưng em cần nó! Em và Thomas chẳng thể nào ngủ vừa trong phòng gác lửng được. Bố, nói với chị ấy đi!”

Cằm bố tôi thụt sâu vào đâu đó trong cổ áo, hai tay khoanh lại trước ngực. Ông ghét thấy những lúc chúng tôi cãi nhau và thường để mặc cho mẹ tôi giải quyết. “Bình tĩnh chút đi, hai đứa,” ông nói.

Ông ngoại lắc đầu, như thể chúng tôi hoàn toàn khó hiểu đối với ông. Dạo này ông tôi hay lắc đầu tới kỳ cục.

“Thật không tin nổi chị. Chẳng trách gì chị hào hứng giúp em đi học thế.” “Cái gì? Thế ra chuyện em xin xỏ chị giữ việc để có thể hỗ trợ tiền bạc cho em giờ đây lại thành một phần kế hoạch nham hiểm của chị đấy hả?”

“Chị quá tráo trở.”

“Katrina, bình tĩnh.” Mẹ xuất hiện ở ngưỡng cửa, đôi găng tay cao su nhỏ nước xà phòng xuống thảm phòng khách. “Chúng ta có thể bình tĩnh nói về chuyện này. Mẹ không muốn các con làm ông ngoại quá căng thẳng.”

Mặt Katrina đỏ rần lên, hồi nhỏ mặt nó thường bị thế mỗi khi nó không có được thứ nó muốn. “Thật ra chị ấy muốn con đi. Chuyện rõ rành rành là thế. Chị ấy nóng lòng muốn con đi, vì chị ấy ghen tị khi thấy con đang làm một việc có ý nghĩa với đời mình. Chị ấy chỉ muốn cản trở con quay về nhà.”

“Chẳng có gì đảm bảo em sẽ về nhà vào cuối tuần cả,” tôi hét lên tức tối. “Chị cần phòng ngủ, không phải một cái tủ ly, mà bấy nay em luôn có phòng ngủ tốt nhất rồi, chỉ vì em quá ngu ngốc đến nỗi phải dính bầu.”

“Louisa!” mẹ ré lên.

“Ôi, phải rồi, nếu chị không trì độn tới vậy thì sao chị không thể kiếm nổi một việc tử tế, chừng đó chị có thể có một chỗ chết giẫm cho riêng mình. Chị đủ già rồi đấy. Hay có vấn đề gì à? Cuối cùng chị cũng hiểu ra Patrick sẽ chẳng bao giờ hỏi cưới chị?”

“Thôi đi!” Tiếng hét của bố khiến mọi người im bặt. “Bố nghe đủ rồi! Treena, đi vào bếp. Lou, ngồi xuống và im miệng lại. Không nghe hai đứa xỉ vả lẫn nhau thì bố cũng có đủ chuyện căng thẳng trong đời rồi.”

“Nếu chị nghĩ giờ đây em đang giúp chị với bản danh sách ngu xuẩn đó thì chị phải nghĩ khác đi rồi,” Treena rít lên với tôi khi mẹ lôi mạnh nó ra khỏi cửa.

“Tốt thôi. Dù sao chị cũng chẳng cần em giúp, đồ ăn bám,” tôi nói, rồi cúi đầu xuống né khi bố ném tờ Radio Times vào đầu tôi.

***

Sáng thứ Bảy, tôi đi tới thư viện. Có lẽ từ thời đi học tới giờ tôi chưa từng trở lại đó – chắc vì quá sợ họ sẽ nhớ ra cuốn sách của Judy Blume tôi đã đánh mất năm lớp Bảy, sợ rằng khi tôi đi qua cánh cửa giữa những hàng cột kiểu Victoria thì một bàn tay công chức lạnh ẩm sẽ tóm lấy để đòi 3.853 bảng tiền phạt.

Thư viện không giống như trong trí nhớ của tôi. Nửa số sách dường như đã được thế chỗ bởi CD và DVD, những giá sách khổng lồ đầy nhóc audiobook, rồi còn có cả những kệ để thiệp. Thư viện không yên tĩnh. Tiếng hát và tiếng vỗ tay lan ra từ góc đọc sách của trẻ em, nơi một nhóm mẹ và bé đang đùa vui hết cỡ. Mọi người đọc báo và chuyện trò khe khẽ. Góc phòng nơi các cụ ông thường ngủ vùi trên đống báo miễn phí đã biến mất, thay vào đó là cái bàn ovan lớn với hàng loạt máy tính đặt vòng quanh. Tôi rón rén ngồi xuống bên một chiếc máy tính, hy vọng không ai để ý tới mình. Máy tính, cũng giống sách, là sở trường của em gái tôi. May là có vẻ như người ta đã lường trước được nỗi lo sợ của những kẻ như tôi. Một cô thủ thư dừng lại bên bàn, đưa cho tôi một tấm thẻ và một tờ bìa cứng có in các chỉ dẫn. Cô không đứng sau lưng quan sát tôi, chỉ nói khẽ rằng cô luôn ở bên bàn thủ thư nếu tôi cần giúp đỡ gì thêm, thế rồi chỉ còn lại tôi với chiếc ghế với cái màn hình trống trơn.

Chiếc máy tính duy nhất tôi từng dùng chút đỉnh trong suốt những năm qua là máy tính của Patrick. Anh chỉ dùng nó để download các kế hoạch tập thể hình, hoặc để đặt mua sách hướng dẫn kỹ thuật các môn thể thao trên Amazon. Nếu anh có làm trò gì khác trên đó thì tôi cũng chẳng muốn biết. Nhưng tôi làm theo hướng dẫn của cô thủ thư, kiểm tra kỹ từng chặng để hoàn thành. Và thật ngạc nhiên, máy tính hoạt động. Không chỉ hoạt động, mà còn thao tác rất dễ.

Bốn tiếng sau, tôi đã có những dòng đầu bản danh sách.

Chẳng ai đề cập tới cuốn sách của Judy Blume cả. Nghe này, có lẽ đó là vì tôi đã dùng thẻ thư viện của cô em gái.

Trên đường về nhà, tôi chui vào tiệm văn phòng phẩm và mua một tờ lịch. Nó không phải kiểu lịch mỗi tháng một trang, kiểu lịch mà cứ giở lên lại lộ ra một tấm ảnh mới của Justin Timberlake hoặc đàn ngựa núi. Nó là lịch tường – kiểu lịch hay thấy trong công sở, trên đó ngày nghỉ phép của nhân viên được đánh dấu bằng bút bi. Tôi mua nó với năng suất mau chóng của một người chẳng thích gì hơn là đẩy bản thân vào những nhiệm vụ hành chính.

Trong căn phòng riêng nhỏ xíu ở nhà, tôi bóc tấm lịch ra, cẩn thận treo nó lên phía sau cửa ra vào rồi đánh dấu ngày tôi bắt đầu làm việc ở nhà Traynor, trở lại đầu tháng Hai. Sau đó tôi đếm tiến, đánh dấu ngày đó – ngày 12 tháng Tám – giờ chỉ còn chưa đầy bốn tháng trước mắt. Tôi lùi lại một bước, nhìn tấm lịch hồi lâu, cố bắt cái vòng tròn đen bé nhỏ ấy chịu đựng một phần sức nặng của những gì nó báo hiệu trước. Khi nhìn chằm chằm như thế, tôi bắt đầu ngộ ra trọng trách mình đang đảm nhận.

Tôi sẽ phải lấp đầy những ô chữ nhật màu trắng nhỏ bé đó bằng đủ thứ hoạt động có thể mang lại hạnh phúc, niềm vui, mãn nguyện hoặc sự hài lòng. Tôi sẽ phải lấp đầy chúng bằng mọi trải nghiệm đẹp đẽ mà tôi có thể gợi ra cho một người đàn ông tay chân vô dụng, tức là anh ta không thể tự mình làm nên những trải nghiệm đó nữa. Tôi chỉ có chưa đầy bốn tháng của những ô chữ nhật in trên tấm lịch đó để làm nên những ngày dạo mát ngoài trời, những chuyến đi chơi xa, những buổi tiếp đón khách khứa, hẹn hò ăn trưa và đi nghe nhạc. Tôi phải nghĩ ra mọi phương thức thực tế để khiến chúng diễn ra, phải nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo chúng không thất bại.

Sau đó tôi phải thuyết phục Will thực hiện chúng.

Tôi nhìn chăm chú tấm lịch, cây bút vẫn ở trên tay. Tấm bìa cứng nhỏ bé này bỗng nặng nề biết bao nhiêu nhiệm vụ.

Tôi có một trăm mười bảy ngày để thuyết phục Will Traynor rằng anh có một lý do để sống.

Tin tức khác...