THỞ

Có lẽ kể từ khi lọt lòng mẹ cho đến nay chưa bao giờ nhiều người lại bị ám ảnh vì hơi thở của mình như trong thời đại dịch Covid-19 này. Ban ngày, không chỉ những lúc bước ra ngoài nơi công cộng mà nhiều khi ở trong nhà chúng ta cũng đeo mặt nạ che kín hết miệng mũi làm cho những động tác thở ra hít vào gặp nhiều khó khăn. Rồi đêm về nằm trằn trọc lăn qua lăn lại trên giường vì khó ngủ, một tiếng ho húng hắng hay chút khó thở trong lồng ngực cũng làm cho ta phải giật mình – vì phải chăng triệu chứng của người nhiễm vi khuẩn corona?

Thở là một trong những động tác đầu tiên chúng ta làm trong đời và sẽ còn tiếp tục làm động tác này từng giây từng phút cho tới khi ta lìa khỏi cõi đời. Mặc dù vậy, hầu như mọi người lại thường hiểu biết rất ít hay thậm chí có phần hiểu lầm về hơi thở. Chúng ta coi hơi thở như một điều gì đó ta làm theo bản năng: Còn thở là còn sống; ngưng thở là … chết. Tuy nhiên, hơi thở của con người không chỉ đơn giản như một và hai mà cách chúng ta thở cũng quan trọng không kém, nó đóng một vai trò chính yếu trong phần sức khoẻ của mỗi chúng ta.

Ít ai ngờ rằng trong mỗi hơi thở chúng ta hít vào lồng ngực có chứa một số lượng phân tử nhiều hơn số hạt cát trên tất cả các bãi biển cộng lại. Chúng ta hít vào thở ra khoảng gần 15 kí lô phân tử mỗi ngày – nhiều hơn những gì chúng ta ăn vào bụng. Cách chúng ta hít dưỡng khí vào và sau đó thở ra cũng quan trọng như việc chúng ta ăn uống, vận động thân thể và yếu tố di truyền nhận được từ cha mẹ.

Các bác sĩ nghiên cứu về hơi thở cho biết hầu như mọi người trong chúng ta thở không đúng cách, hay nói cách khác, không biết … thở. Nhận định này mới nghe qua có vẻ khó tin. Thở thì có gì khó khăn đâu: thở ra, hít vào là những động tác chúng ta làm từ khi vừa mở mắt chào đời kia mà. Tuy nhiên, đã có mấy khi chúng ta chú ý tới cách chúng ta thở hay không. Theo kết quả của các cuộc nghiên cứu thì những thói quen hít thở có liên quan trực tiếp tới sức khoẻ thể chất và tinh thần của mỗi người.

Thở đúng cách có thể mang lại cho chúng ta cuộc sống khoẻ mạnh hơn và sống thọ hơn. Ngược lại, thở không đúng cách có thể làm trầm trọng thêm và đôi khi gây ra nhiều căn bệnh mãn tính: hen suyễn, lo lắng, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), tăng huyết áp và nhiều nữa. Thói quen thở không đúng cách thậm chí có thể làm thay đổi cấu trúc vật lý của bộ xương, làm cạn kiệt các khoáng chất thiết yếu trong cơ thể và làm yếu xương.

Hầu hết các tôn giáo lớn và nhiều nền văn minh thuộc cổ đại – từ dân tộc Hy Lạp đến các tín đồ Phật giáo, từ những người theo Ấn giáo đến những người Mỹ da đỏ địa phương – dường như hiểu thấu đáo về tầm quan trọng của hơi thở và coi việc thở đúng cách đóng một vai trò thiết yếu đối với sức khoẻ. Khoảng 400 năm trước công nguyên, một số học giả Trung Hoa đã viết nhiều sách về hơi thở và tin rằng hơi thở có thể là một phương thuốc hiệu nghiệm hay một độc tố tuỳ vào cách người ta sử dụng nó ra sao.

Nói thì nói thế, nhưng trên thực tế, người thời nay như chúng ta thì hầu như chẳng biết hay chẳng để ý chút gì về hơi thở cả. Hãy thử nhớ lại lần cuối cùng ta tới văn phòng bác sĩ khám sức khoẻ mà xem. Có nhiều khả năng vị bác sĩ đáng kính kia sẽ đo huyết áp, nhịp mạch và nhiệt độ, và sau đó đặt ống nghe vào ngực ta để nghe tim phổi hoạt động ra sao. Có thể vị bác sĩ đó nhắc một chút về vấn đề dinh dưỡng, những căng thẳng trong công việc, và khuyên uống thêm vitamine bổ sung. Hoặc hỏi ta có vấn đề gì liên quan đến tiêu hoá không? Ngủ nghỉ thế nào? Những triệu chứng dị ứng theo mùa có nặng hơn không? Nhưng tuyệt nhiên, vị bác sĩ đáng kính không đả động chi tới nhịp thở và thói quen thở của ta. Nhưng chính cái cách chúng ta thở lại ảnh hưởng đến tất cả những vấn đề sức khoẻ nói trên, và hơn thế nữa.

Một điều đáng buồn là so với những giống khác, loài người là giống thở yếu nhất. Trong quá trình tiến hoá, miệng và xoang mũi (sinuses) của chúng ta cứ dần dần nhỏ đi, đến nỗi nay loài người là giống duy nhất trên trái đất mà miệng không đủ chỗ để chứa răng và chúng phải mọc nghiêng bên này, vẹo bên kia cho vừa. Miệng nhỏ và mũi nghẹt làm cho hơi thở khó hơn là vậy.

Thêm điều nữa là khi tới tuổi trung niên, bắt đầu từ khoảng 30 tuổi, xương ngực trở nên mỏng hơn và dẹp vào bên trong. Cho đến tuổi 50, loài người bị mất khoảng 12% sức chứa của buồng phổi, và sau đó cứ mất dần thêm nữa. Và vì vậy, càng lớn tuổi chúng ta càng phải thở nhanh hơn và mạnh hơn, làm cho hơi thở càng trở nên gấp gáp.

Tuy nhiên, điều khiếm khuyết đó không hẳn là không thể chữa được. Không giống như vấn đề của những bộ phận khác nơi cơ thể, chẳng hạn như gan hay thận, con người vẫn có thể cải thiện được đường thở trong cái miệng quá nhỏ của mình và đảo ngược cái rối loạn trong hai lá phổi của chúng ta ở bất cứ lứa tuổi nào bằng cách tập thở cho đúng cách.

Vào thập niên 1980, các nhà nghiên cứu của chương trình Framingham Study, một chương trình nghiên cứu kéo dài 70 năm tập trung vào căn bệnh tim, đã cho thu thập dữ liệu nghiên cứu trong hai thập niên từ 5,200 đối tượngvà phát hiện ra rằng yếu tố quan trọng nhất của tuổi thọ không phải do di truyền, dinh dưỡng hay việc tập thể dục hàng ngày như nhiều người vẫn thường nghĩ trước đó, mà do ở buồng phổi. Phổi lớn hơn cũng có nghĩa là cuộc sống kéo dài hơn. Là vì hai lá phổi lớn cho phép chúng ta thở ít hơn nhưng tiếp thu nhiều dưỡng khí. Điều này có nghĩa là cơ thể chúng ta làm việc bớt đi và do đó đỡ bị hư hao hơn.

Các nhà nghiên cứu khuyên chúng ta hãy tập cách kéo dài hơi thở lâu và sâu hơn. Trước hết ta hít vào bằng mũi thật nhẹ khoảng năm giây và sau đó thở ra bằng mũi thật nhẹ cũng bằng nhịp độ khi hít vào. Tính chung ra, cứ mỗi phút ta hít vào thở ra khoảng sáu lần là vừa đủ.

Khi chúng ta thở như thế ta có thể bảo vệ tốt hơn hai lá phổi tránh bị nhiễm trùng và dị ứng trong khi giúp điều hoà máu lưu thông lên óc và đi khắp cơ thể. Tim bớt căng thẳng, hệ thần kinh và hô hấp làm việc trong điều kiện đạt được hiệu quả cao nhất. Các nhà nghiên cứu cho biết chỉ cần hít và thở với tốc độ như trên trong ít phút là có thể làm giảm huyết áp xuống 10, thậm chí 15 điểm.

Hai bác sĩ chuyên về tâm thần ở New York là Richard Brown và Patricia Gerbarg phát hiện ra rằng bệnh nhân nếu chịu thực tập cách hít thở chậm và sâu có thể giảm được các triệu chứng lo âu, trầm cảm và những chứng rối loạn tâm thần khác.

Điều đáng buồn là có tới một nửa trong số chúng ta có thói quen xấu là thở bằng miệng mà các nhà nghiên cứu nói rằng sẽ làm mất độ ẩm của cơ thể, gây tác hại cho phổi và làm mất các mô mềm ở phía sau miệng. Thở bằng miệng cũng có liên quan đến chứng rối loạn thần kinh, bệnh về răng miệng và tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp.

Hiểu được những tác hại như trên thì tại sao chúng ta lại không tập thở cho đúng cách – nghĩa là hãy tập thói quen thở bằng mũi, chậm và sâu. Thở bằng mũi không chỉ giúp chữa bệnh ngáy và một số trường hợp nhẹ ngưng thở trong khi ngủ, mà nó còn có thể cho phép chúng ta hít vào nhiều hơn khoảng 18% dưỡng khí so với thở bằng miệng. Thở bằng mũi giúp làm giảm nguy cơ sâu răng và các vấn đề về hô hấp và có khả năng tăng cường sinh lực trong chuyện chăn gối nữa. Và đương nhiên là còn nhiều lợi ích khác nữa kể ra không hết.

Đại dịch Covid-19 hiện đang là một thử thách lớn cho nền y học hiện đại và bắt các nhà khoa học phải mở rộng thêm tầm nhìn cũng như đi tìm kiếm những phương thuốc mới cho căn bệnh. May mắn thay, chúng ta đã có sẵn một phương thuốc có thể giải quyết nhiều vấn đề sức khỏe của chính chúng ta và nó nằm ngay dưới mũi. Nó không đòi hỏi phải trang bị thêm bất cứ dụng cụ kỹ thuật gì, hoàn toàn không tốn kém và chỉ mất chút ít thời gian và công sức. Đó là liệu pháp mà tổ tiên chúng ta đã tự biết thực hành từ hàng ngàn năm qua với môi, mũi và phổi của họ. Hy vọng rằng trận đại địch lần này gây nên nỗi ám ảnh về hơi thở sẽ giúp chúng ta nhớ để không lãng quên nó nữa.

Bài học cho mọi người là cơ thể mà tạo hoá ban cho chúng ta với các chức năng của từng bộ phận và chúng ta biết phải nên tận dụng. Một trong những bộ phận đó là mũi và chức năng hít thở của nó.

Huy Lâm

Tin tức khác...