Thành cổ Sơn Tây

Cổng vào thành

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Thành cổ ở Việt Nam ngày nay còn khá nhiều. Một số di tích gần như còn nguyên vẹn: Cổ Loa thành, thành Ðồng Hới, Hoàng thành Huế, thành Diên Khánh, Thành Sơn Tây…

Nói đến thành Sơn Tây nhiều người liên tưởng đến nhà thơ Quang Dũng bởi Quang Dũng thời hoa niên, đã có bài thơ tuyệt hay nói về “mối tình huyền thoại” của nhà thơ: Ðôi mắt người Sơn Tây (1).

Vườn hoa Ngô Quyền

Ðặc tính của “thơ ca” là mong manh mộng mị, nửa Tiên nửa trần, nửa thực nửa hư, đôi lúc làm cho người đời chơi vơi theo tác giả… Năm 1948, trong lúc cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ, lớp trai trẻ lên đường ra trận, những cuộc chia tay của bao đôi nam nữ đang mặn nồng yêu thương vang vọng đây đó lời giã từ não nuột. Nỗi lòng của Quang Dũng qua bài thơ “Ðôi mắt người Sơn Tây” lan ra rất nhanh và được đón nhận như một bài thơ tình hay nhất lúc bấy giờ:

nhà thơ Quang Dũng

Ðôi mắt người Sơn Tây

Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao lần quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương

Tôi thấy xứ Ðoài mây trắng lắm

Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Ðiêu tàn thôi lại nối điêu tàn

Ðất đá ong khô nhiều ngấn lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không

Những xác già nua ngập cánh đồng

Tôi có thằng con (em?) còn bé dại

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Ðôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều lưu lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương

Em mơ cùng ta nhé

Bóng ngày mai quê hương

Ðường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

Sông Ðáy chậm nguồn quanh phủ quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa

Ðã hết sắc mầu chinh chiến cũ

Còn có bao giờ em nhớ ta.

(Quang Dũng 1948)

Hơn hai mươi năm sau (1970) Phạm Ðình Chương phổ nhạc “Ðôi mắt người Sơn Tây” càng làm cho người nghe, người đọc thêm tò mò, muốn biết ai là người có đôi mắt đã làm mềm lòng thi sĩ.

Sau 54 đất nước phân hai miền, người miền Nam còn không biết mặt Quang Dũng, nói chi đến “Ðôi mắt người Sơn Tây”! Mãi gần nữa thế kỷ sau, cá nhân tôi mới rõ phần nào về người đẹp Sơn Tây của nhà thơ Quang Dũng, qua những bài viết trên Internet. Tài liệu cho biết:

Quang Dũng viết “Ðôi mắt người Sơn Tây” để tặng người tình của ông, một kỹ nữ tên là Nhật, cô còn có mỹ danh khác là Akimi. Vào thời chưa có chiến tranh, giá trị xưa cũ vẫn còn, thi nhân, nhạc sĩ… có những mối tình như thế là chuyện thường.

Chiến cuộc nổ ra, nàng vào vùng kháng chiến, trở thành cô hàng cafe. Còn chàng thành quân nhân lên đường ra trận.

 

“Tôi từ chinh chiến đã ra đi.

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Sông Ðáy chậm nguồn qua phủ Quốc.

Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay.

Em vì chinh chiến thiếu quê hương.

Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn.

Tôi nhớ xứ Ðoài mây trắng lắm.

Em có bao giờ, em có bao giờ, em thương nhớ… thương?”

 

Quang Dũng người Sơn Tây, quê ngoại của Hoài Bắc Phạm Ðình Chương cũng ở Sơn Tây. Hai tâm hồn nghệ sĩ đồng điệu gặp nhau trong thơ, nhạc. “Ðôi mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng cũng là nỗi đau thương nghẹn ngào của Phạm Ðình Chương (cuộc tình dang dở) nên bài hát “Ðôi mắt người Sơn Tây” đã được ra đời vào mùa thu năm 1970 tại phòng trà “Ðêm màu hồng” (2). Nỗi niềm của Quang Dũng, của Phạm Ðình Chương cũng là nỗi niềm chung của nhân thế, điều này không là ngoại lệ cho bất cứ một ai, nhất là những người đã mang danh “nghệ sĩ”.

“Không đau khổ lấy chi làm chất liệu

Không buồn thương sao biết chuyện con người.” 

Nhưng, người phàm đau khổ buồn thương để ân oán sầu hận, trái lại với “nghệ sĩ” đó là nguồn lực để thăng hoa cuộc đời qua thi – ca – nhạc – họa.

Trong khi khói lửa còn mịt mù, người tình Akimi của Quang Dũng bỏ vùng kháng chiến “dinh tê”(3), để lại cho người thi sĩ nỗi u hoài khôn nguôi”.

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự,

Kinh thành em có nhớ ta chăng?

Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến,

Hiu hắt chiều sông lạnh đất Tề…”

(Ðôi bờ).

 

Quang Dũng buồn vì giờ đây hai đàng hai ngả, nàng nơi vùng Tề, chàng ở chiến khu. Cái tên Akimi gợi cho người đọc nét đẹp của người con gái xứ Phù Tang, nét đẹp đó là hình ảnh truyệt vời trong tác phẩm của Quang Dũng. Năm 1954, hiệp định Genève kết thúc chiến tranh, sông Bến Hải ngăn chia đôi bờ nam bắc, người tình của Quang Dũng di cư vào Nam. Sống ở Sài Gòn, một thời Akimi là kiều nữ của nhà hàng Tự Do. Sau 1975 Akimi lại bỏ quê hương cùng với hàng triệu người Việt tìm đường sang Mỹ định cư, để lại cho Quang Dũng một nỗi nhớ ơ hờ:

Bên nầy đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào…

Bà Akimi Nhật cũng tiết lộ những ngày còn sống trong chiến khu, Quang Dũng thường đến quán cafe của bà và có lần đã viết ngay một bài thơ ca ngợi bà, dán ngay lên vách nứa:

Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền

Khuấy nước kênh đào sóng nổi lên

Ý nhị mẹ cười sau nếp áo

Non sông cùng đắm giấc mơ tiên…

 Lan man chuyện “Ðôi mắt người Sơn Tây” như vậy đã quá dài, xin quay lại thành cổ Sơn Tây. Mấy năm trước về làng cổ Ðường Lâm tôi có ngang qua Sơn Tây trên đường 32. Ðến nay con đường này có chỗ vẫn còn đào xới. Chừng hơn 40km thẳng một đường từ trung tâm Hà Nội về Sơn Tây.

Vào trung tâm thành phố, tôi dừng hỏi thành cổ ở đâu, bác hàng phở bảo “ông chạy tới 50m là thấy”. Ðến ngã ba: Phạm Ngũ Lão – Trưng Vương – Phó Ðức Chính thành cổ nằm bên tay trái.

Cửa Bắc vào thành đối diện vườn hoa trung tâm, một bảng đồng khắc rõ “Công trình chào mừng kỷ niệm 60 năm giải phóng Sơn Tây”  có tượng Ngô Quyền. Tiếng là “vườn hoa trung tâm” nhưng le hoe vài chậu hoa tầm thường không tên tuổi. Chủ điểm của hoa viên có lẽ mỗi pho tượng Ngô Quyền đứng làm vì, chẳng thấy người dạo chơi. Bên kia đường Trưng Vương là cửa vào thành. Cầu đúc ưởn cong qua hào nước, thành cầu kiểu tân thời. Giữa vài cầu có hai trụ cao, một pa no vẽ hoa lá cành gắn lên hai đầu trụ, giăng giây tủa đều xuống hai thành cầu kiểu cầu treo. Tất cả chỉ để trang trí cho cổng thành cổ. Ý nhà chức trách muốn tô vẽ màu mè để câu khách du lịch, vô tình làm giảm nét xưa của thành và xem thường du khách như con trẻ.

Bờ ngoài hào thành, có dựng lan can đúc, hoa văn thoáng nhẹ, quét màu xám bạc, chạy suốt bốn mặt. Nước hào trong xanh, cây chung quanh cổ thành soi bóng. Cảnh rất mát mắt và đẹp. Chưa vội vào thành tôi chạy xe một lượt xem cảnh ngoài thành.

Chu vi thành Sơn Tây trên một nghìn mét, có 4 cửa Nam – Bắc – Ðông – Tây. Hai cửa Ðông Tây hư hỏng nhiều, không có cầu qua hào, không sử dụng: Cổng thành lở lói, rễ đa đề trùm từ trên cao xuống đất. Nhìn là biết thời gian lâu thế nào. Ðây đích thực là di tích của cổ thành.

So với giao thông hào thành Huế, thành Diên Khánh (Khánh Hòa), hào nước quanh thành Sơn Tây, trong sạch, không rác, không lục bình, cây xanh rợp bóng, tạo sự thoải mái dễ chịu cho du khách ngay phút ban đầu. Bốn mặt đường quanh thành đều có phố xá hàng quán nhưng người dân không vứt rác xuống hào như nhiều nơi khác. Lề đường quanh thành cũng sạch sẽ tươm tất.

Sau khi dạo qua một vòng ngoài thành, tôi trở lại cổng phía Bắc để vào xem nội thành.

(còn tiếp)

 Trần Công Nhung

 

 

_______________________________________

(1). Theo nhiều nhận xét trên văn đàn, bài thơ này có rất nhiều dị bản do chính tác giả sửa trong các bản in khác nhau. Câu (dài, ngắn, chữ khác hẳn (con, em…)

(Tôi cũng có thằng con bé nhỏ

Tôi cũng có thằng em còn bé dại

Tôi nhớ một thằng con bé dại

Tôi nhớ một thằng em bé nhỏ)???

Chính xác là câu nào? Ngay trong những trang Web chuyên bình văn chương cũng có những dị biệt. Ðộc giả nào có được bài thơ gốc từ những nguồn đáng tin cậy vui lòng cho xin để đối chứng. Dưới đây là bài thơ Nhạc sĩ Phạm Ðình Chương đã phổ nhạc:

Ðôi mắt người Sơn Tây

Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy núi Ba Vì

 

Vầng trán em mang trời quê hương

Mắt em như nước giếng thôn làng

Tôi nhớ xứ Ðoài mây trắng lắm

Em đã bao ngày em nhớ thương?…

 

Mẹ tôi em có gặp đâu không?

Những xác già nua ngập cánh đồng

Tôi nhớ một thằng em bé nhỏ

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

 

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Ðiêu tàn ơi lại nối điêu tàn

Ðất đá ong khô nhiều suối lệ

Em đã bao ngày lệ chứa chan?

 

Ðôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều lưu lạc

Thương vườn ruộng khôn khuây

 

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng

Sông Ðáy chậm nguồn qua Phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

 

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca

Ðã hết sắc mùa chinh chiến cũ

Còn có bao giờ em nhớ ta?

1949

(2). Ðây là phòng trà do Phạm Ðình Chương (PÐC) lập nên, nơi ông cùng ban nhạc Thăng Long huyền thoại trình diễn văn nghệ. “Ðôi mắt người Sơn Tây” được ông phổ nhạc sau lần chia tay với nữ danh ca Khánh Ngọc. Cuộc tình đổ vỡ khiến khiến tâm hồn ông trở nên u uất bi tráng hơn, tình cảm ông dạt dào đau thương hơn để cho đời những tuyệt phẩm như: “Nửa hồn thương đau”, “Người đi qua đời tôi”, “Ðêm màu hồng”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Dạ tâm khúc”… đồng thời phóng “Ðôi mắt người Sơn Tây” lên tận tầng không vang vọng khắp bốn phương trời.

(3 ) “Dinh tề” đọc từ chữ “Rentrer” (quay trở về) trong tiếng Pháp, dùng để chỉ người bỏ vùng kháng chiến về thành, tức vùng kiểm soát của Pháp.

Tin sách

Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50%).

Từ 18/10 phát hành 2 tác phẩm mới: Vào Ðời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả:

Email: trannhungcong46@gmail.com

Tel. (657)296-8727

 

Tin tức khác...