Tết 1986

Hải Minh

Tết 1986 là cái tết thứ 11 sau đại tang 1975.
Chiến tranh chấm dứt trong đau buồn, tủi nhục của 1 triệu người lính Việt Nam; Hải là một trong số những người cúi mặt, nuốt nước mắt, dưới sự tàn bạo của bọn sinh vật vô tri, vô cảm, tự xưng là “kẻ thắng trận”.
Nỗi khổ nhục của Hải cũng kéo dài 11 năm, gồm 9 năm tù khổ sai, và 2 năm tù giam lỏng mà chúng gọi là “địa phương quản chế. ” Hải là một trong những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị chúng bắt trong trận Phan Rang, và bị chúng giam giữ trong nhiều trại tù, sâu trong “rừng thiêng” ngập trong “nước độc”.
Chúng hành xác anh cho đúng 3 chữ “tù khổ sai”: làm quần quật, dinh dưỡng đói khổ, nhưng cái khổ thể xác không dằn vặt anh bằng nỗi thương nhớ mẹ da diết. Nhiều đêm anh mơ thấy anh về quê hương miền Trung thăm mẹ. Mẹ anh òa khóc hỏi anh, “sao con ăn mặc rách rưới như vậy?”
Anh cũng khóc, nhưng chỉ ôm chặt mẹ vào ngực, không nói gì, vì anh cũng không biết nói gì.

TẾT 1986, ăn mặc lành lặn, anh trở về thăm mẹ. Mẹ anh lại khóc, anh lại ôm mẹ vào ngực, đúng như cảnh đoàn viên trong mộng, và trong trại tù khổ sai.
Mẹ hỏi anh, “con đói bụng không, để mạ đi bắt con vịt nấu cháo cho con ăn; ngày xưa con thích ăn cháo vịt. ”
“Mạ nuôi mấy con vịt, để con ra sân bắt vịt cho, mạ già rồi đuổi vịt chi cho mệt”; anh bắt vịt, cắt cổ, nhổ lông, làm sẵn để mẹ nấu nồi cháo hâm ấm lại tình mẫu tử, sau 11 năm thương nhớ; chưa ăn cháo vịt mẹ nấu, nhưng lòng anh đã vui như tết.
Nhưng cái vui không dài: anh vừa bước ra sân thì Cung, tên công an khu vực xuất hiện.
Vẻ mặt oai vệ, giọng nói trịch thượng, y hỏi anh, “Anh vừa ra trại phải không?”
“Phải. ” – Hải đáp
“Anh có giấy ra trại không, ?” Quan lớn công an hạch hỏi.
“Có. ”
“Trình tôi xem. ”
Hải móc trong túi áo đưa cho y tờ giấy ra trại. Xem xong y hỏi tiếp:
– Có giấy đi đường và giấy tạm trú, tạm vắng không ?
– Có, Hải đưa tiếp cho y tất cả hai loại giấy trên. Xem xong y lạnh lùng bảo:
– Diện của anh không được ở đây.
Hải bàng hoàng sửng sốt tự hỏi; tại sao lại có chuyện từ chối không cho Hải quyền cư ngụ trên chính quê hương của mình, trong khi Hải đã “tù cải tạo” xong, và đang lần hồi hội nhập vào cuộc sống mới!
– Đây là quê hương của tôi, tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nầy, cha mẹ tôi cũng đang ở đây, tại sao tôi không được ở trên quê hương của mình?- Hải hỏi.
“Anh theo tôi về đồn làm việc. ” Tên công an ra lệnh.
Mẹ Hải ngỏ lời năn nỉ xin cho Hải ở lại vài ngày rồi đi, nhưng tên công an vẫn im lặng giải Hải về đồn. Mẹ Hải lo sợ, đi theo thăm chừng tình cảnh ngặt nghèo, không biết việc gì có thể xảy ra với Hải.
Cuối cùng, Hải bị trục xuất ra khỏi địa phương chưa được ăn bát cháo tình mẹ mà anh thèm trong suốt 11 năm tù đầy. Mẹ Hải đưa con rời khỏi đồn công an trong hai hàng lệ…
Không còn nỗi chua xót, uất hận, và căm thù nào dâng cao trong lòng Hải với chế độ cộng sản như lúc nầy. “30/4 ngày quốc hận hay tháng tư đen” đúng nghĩa là đây.
Hải ở chui nhà chị ruột, nhà cháu ruột ở phường khác, mỗi nơi vài ngày rồi theo tàu lửa “thống nhất” của thời bao cấp (được xem là sọt rác lưu động vì quá dơ bẩn) xuôi Nam, từ giã nơi chôn nhau cắt rốn, làng quê với bao người thân, cha mẹ, anh em, cùng với một trời kỷ niệm êm đẹp của thời thơ ấu ra đi, trong tâm trạng bầm gan tím ruột. . .
Anh tìm đường vượt biển, đến Mã- lai, bị kẹt lại đây bốn năm, vì đi sau ngày 14/3/1989, các đảo trong vùng Đông nám Á đã đóng cửa. Đường đến phiá trước đã bị bít lối.
Hải chua xót cho thân phận mình, người dân bị mất nước. Sống trên quê hương mà bị xử như người xa lạ, bị kẻ cầm quyền kỳ thị, ruồng đuổi, không còn tình người.
Bỏ nước ra đi thì bị cầm giữ, phải sống những ngày dài lênh đênh trên đảo, khác nào kẻ tội phạm bị lưu đày biệt xứ .
“Thọ án” bốn năm ở đảo, bị chà xát qua chiến dịch “thanh lọc” (screening) xong, Hải mới đến được cổng thiên đường Mỹ. Cái giá phải trả cho Tự Do thật muôn vàng đắng cay.
Thời gian ở Mỹ, tin tức từ Việt Nam báo qua cho biết: cạnh nhà Hải có tên Cung là thượng úy quân đội CS, thời còn nhỏ 1945 theo cha vào chiến khu, năm 1954 tập kết ra Bắc, sau 1975 hai cha con hồi kết về Nam, Cung đóng quân ở căn cứ C/L của Hải ngày trước. Mấy năm sau đã phục viên (giải ngũ) nhưng vẫn là cán bộ khung hưu trí, làm tổ trưởng dân phố, chuyên theo dõi, dòm ngó các gia đình viên chức cũ, mà gia đình Hải, ba anh em đều là quân nhân, cảnh sát nên trở thành mục tiêu trọng tầm rình rập của y. Y tự xếp cấp độ, cho gia đình Hải là có “nợ máu”nên thù ghét đi báo công an. Do đó, công an khu vực tìm đến nhanh chóng ngày Hải về thăm mẹ.

Mười năm “tình cũ” không rũ cũng gặp lại.
Sau mười năm định cư và ổn định cuộc sống ở Mỹ. Hải về thăm lại gia đình.
Không như ngày trước, khi còn ở Việt nam bị xua đuổi, bị dày xéo. Xe taxi chở Hải vừa ngừng trước cổng nhà thì; oái oăm thay, người đón Hải đầu tiên không phải là cha mẹ, không phải anh chị em Hải mà là vợ chồng tên Cung đon đả, chạy bổ ra trước ríu rít xách đồ đạc cho Hải đưa vào nhà, miệng nói huyên thuyên như đón người thân từ xa về vậy.
Ở Mỹ, trước khi về, (lần đầu2001) Hải đã có kế hoạch đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, kể cả việc đối phó với tên Cung, vì vậy khi thấy y lăng xăng Hải cứ giả lờ để xem y giở trò gì.
Thế rồi, tiệc tùng họp mặt do gia đình Hải tổ chức, vợ chồng Y cũng giã lã tới ăn nhậu. Du hành xa bằng xe bao thuê, vợ chồng y cũng không thiếu mặt, thăm thú các khu di tích và thăm mồ mả ông bà của Hải, vợ chồng Y vẫn theo đầy đủ dù là “khách không mời”!
Qua sự kiện trên, Hải đọc được ý đồ của y là dùng chiến thuật: “bám thắt lưng địch, đánh địch”, có nghĩa là dùng phương tiện của Hải, vừa được đi đó đây ăn chơi mà còn theo dõi mọi sinh hoạt trong di chuyển của Hải nữa, (nhất cử lưởng tiện)!.
Tuần lễ đầu trôi qua, theo thủ tục “chào sân” với bà con chòm xóm, và dĩ nhiên không thiếu vợ chồng y.
Tuần thứ hai bắt đầu. Sáng sớm tinh mơ Hải đã thấy y đứng lấp ló đầu ngõ như có ý trông chờ gặp Hải, nhưng Hải phải đợi trời sáng hẳn, chờ vài nhà thức dậy cho an toàn mới mở cửa. Y bước vào chào hỏi xã giao xong là vào đề:
– Tôi có việc muốn gặp anh kẻo sợ anh đi chơi sớm.
“Có việc gì mà gấp vậy?” Hải hỏi. “Việc công, việc tư, hay việc tôi về đây? Hải hỏi tiếp.
– Không có gì , việc ngày trước trong căn cứ quân sự C/L ấy mà. Y bảo.
– Căn cứ quân sự là của quân đội cũ, khi rút đi, quân đội các anh đến chiếm đóng, bây giờ đã quá lâu còn gì liên quan đến tôi nữa đâu.
– Không phải. Chỉ “liên hệ” đến số tài sản quý giá mà anh đã bỏ lại mà thôi. Y nói.
– Làm sao anh biết tôi có số tài sản còn “kẹt” trong căn cứ mà hỏi. Hải gằn giọng.
“Tôi có nghe anh “tâm sự” với người nhà trên chuyến xe.” Thì ra hắn nghe lén chuyện theo quán tính và theo nghiệp vụ nữa.
– Chuyện đó tôi xem như không còn nữa, thuộc về quá khứ rồi – bỏ đi. Tôi không còn nghĩ đến nó, về đây chỉ thăm gia đình nghỉ ngơi vui chơi mà thôi.
– Tôi biết anh qua Mỹ làm ăn thuận lợi nên không xem số lượng vàng trên là quý, nhưng ở Việt nam mình, đó là một tài sản kếch xù làm sao có được- và y trắng trợn đề nghị Hải tạo “điều kiện” cho y đi tìm báu vật đó.
“Tạo “điều kiện” cho anh là tạo làm sao?” Hải hỏi lại.
– Xin anh vẽ địa điểm nơi cất giấu ngày trước để tôi vào tìm kiếm.
– Tôi không muốn dính vào chuyện nầy nữa vì lẽ; tôi chỉ cho anh vào trộm đồ của căn cứ, mà căn cứ bây giờ theo các anh gọi đó là tài sản của XHCN rồi.
– Tài sản của anh kia mà! Anh đã bỏ thì đừng để lọt vào tay kẻ khác, xin anh giúp tôi! Tìm được, tôi sẽ tính sòng phẳng với anh. (Hải biết y gợi lòng tham của Hải để Hải xiêu lòng).
– Anh biết số tài sản đó như thế nào mà đòi chia cho tôi, nếu chẳng may không đủ công cho anh thì sao?
– Nghe, theo anh kể thì thùng đạn đại liên trong đó đựng 360 cây vàng kia mà! – Nếu quả đúng thế, tôi chỉ xin 1/3 là quý lắm rồi, còn lại là tài sản của anh.
Hải biết vợ chồng Y luôn bám theo Hải để nghe ngóng, khi thì ngồi hàng ghế trước Hải, khi thì ngồi hàng ghế sau lưng, lúc nào cũng vờ vịt như ngủ. Nhưng thật tình y đâu có ngủ nghê gì. Trong đầu y vẫn có một máy ghi âm bén nhạy và tinh vi. Biết thế, nên Hải cố tình nói lớn cho y mặc sức ghi.
Để đưa y vào bẫy sập, Hải hỏi:
– Kế hoạch vào địa điểm tìm vàng của anh làm sao, trong khi anh đã phục viên không còn làm việc ở căn cứ đó nữa?
– “Giản đơn” thôi. Tôi vào được, vì là lính cũ quen mặt không ai chú ý.
– Trong khi đào tìm, nếu bất ngờ có ai “phát hiện” hỏi thì anh trả lời làm sao.
– Tìm mộ người thân tử nạn ngày trước. Y trả lời.
Thấy y như sắp sẵn kế hoạch trong đầu có lớp lang và tự tin, Hải hỏi tiếp:
– Anh nói cũng có lý, nhưng có trường hợp ngoại lệ thì sao.
– Tôi không hiểu ý câu nầy của anh.
– Ngoại lệ là: – khi đào có vàng rồi, bỗng có người thấy. Anh “xử lý” làm sao- Hải hỏi vặn thêm.
– Tôi thương lượng chia với họ.
– Họ không chịu, vì cho đó là tài sản của XHCN như tôi đã đề cập trên.
Y lúng túng gãi đầu để tìm câu trả lời.
– Bắn !
Hải giật mình trước ý tưởng man rợ, ghê tởm đó.
– Chúng ta chấm dứt nói chuyện ở đây vì có máu dính vào. Hải nói với y.
Thấy phản ứng không thuận lợi của Hải, y xuề xòa:
– Đùa với anh thế thôi chứ ai nỡ làm vậy, tù mục gông!
Y quả là tay tráo trở chuyên nghiệp theo bài bản đã học được từ chế độ mà y đã phục vụ, đáng gờm!
Hai ngày sau y trở lại chủ động thuyết phục Hải vẽ sơ đồ địa điểm chôn thùng đạn đựng 360 lượng vàng như Hải đã nói.
– Mấy hôm nay tôi vào căn cứ để thám sát địa thế, rất thuận lợi, cần bắt tay vào ngay, tết nhứt đến nơi rồi. Chờ đợi nóng ruột quá . Y bảo.
Thấy tham vọng của y bộc lộ nóng bỏng cứ đeo bám Hải hoài, khiến Hải cũng bực bội, nhưng đã trót mở “trận đồ rửa hận” mười năm trước, nên Hải phải ra tay lần nầy không chút khoan nhượng để y biết thế nào là “lễ độ”.
– Tết sắp đến, để thì giờ lo tết đã, chừng nào sắp về lại Mỹ tôi sẽ giúp anh. Hải vờ tìm cách trì hoãn.
– Làm sao ăn tết vui vẻ được trong khi “công tác” chưa hoàn thành! Cái tết của tôi năm nay trọng tâm không phải ở nhà mà ở trong căn cứ nơi đang có đống quà giá trị đó Y thuyết phục Hải.
Hải tiếp tục câu giờ cho y lên ruột:
– Để tôi suy nghĩ kỹ trước khi làm việc bất đắc dĩ nầy. Hải thấy khuôn mặt y chảy dài xuống, đầy thất vọng, nhưng vẫn đeo bám:
– Trong khi anh vui chơi tết thì phần tôi vẫn làm việc, tết xong anh có “quà tết” còn gì vui hơn sao anh không “tạo điều kiện” cho tôi làm cho kịp “thời vụ”.
Hải nghĩ: Đến nước nầy thì chính “mầy” muốn đưa chân vào tròng chứ không phải tại “tớ” đâu nhé.
– Gặt hái trái “thời vụ”, vì mùa Đông làm sao có “thành quả” được. Hải bảo với y. (Hải biết: có gì để mà gặt với hái ngoài cái bánh vẽ to tướng chôn trong đó mà thôi!).
– Làm ngay đi anh kẻo có người “phổng tay trên” thì hỏng mất! Y nói như van xin.
Thôi được, vì mười năm trước anh “có công với công an ngoài phường” nên bây giờ tôi giúp anh. Hải nói xéo với Y (chắc rằng vì hoa mắt nên Y không còn nhận ra ngày trước đã làm gì nữa) Khuôn mặt y bỗng tươi tỉnh trở lại trông thật ngây ngô tội nghiệp. Y còn xum xoe hỏi Hải:
– Anh về đây cần giúp gì được tôi sẽ giúp cho anh.
– Tôi cần anh giúp thành công việc làm trên cho an toàn và có kết quả là tốt rồi.
Thế là y ngồi chờ Hải trao cho Y “bản đồ đi tìm bảo vật”, dĩ nhiên Hải vẽ trong trí hồi tưởng thật chính xác nơi Hải làm việc ngày trước. Vì y cũng biết rỏ địa thế trong đó, khi chiếm đóng căn cứ nầy.
Để biết chắc y đi chưa, hôm sau Hải cho người qua nhà vờ gọi mời y đi nhậu, nhưng vợ y trả lời: hai cha con về quê tảo mộ ông bà rồi. Ngồi nhà, Hải hình dung hai cha con y đang hì hục đào bới khắp vùng đất “ma” nơi Hải chôn giấu 360 lượng vàng mà lòng thấy hả hê thú vị. Một sự “trả thù”nhưng không vấy máu của “kẻ thù”.
Một buổi chiều trong tuần thứ ba, Hải đang lai rai với người thân trong gia đình thì y từ ngoài bước vào, áo quần xốc xếch, dáng vẻ mệt mỏi xà xuống nền nhà ngồi thở dài.
– Gặt hái đúng “thời vụ” có khả quan không . Hải hỏi .
– Tận lực, thậm chí còn đào bung ra xa 2 mét nữa mà cũng không thấy dấu hiệu gì “tích cực” cả. Y thều thào trả lời.
Hải làm bộ ngạc nhiên;
– Quái lạ sao lại vô lý thế, người ta bảo: vàng chôn lâu ngày dưới đất sẽ bị sức hút của đất nên di chuyển quanh đâu đó thôi. Anh đã tận lực rồi mà không được sao? Hay là bây giờ, để chắc ăn hơn anh thử mượn hoặc mướn máy dò mìn của lực lượng công binh vào dò thì ắt phải ra!.
Thế là y lại theo “diệu kế” mới của Hải thuê máy dò mìn để đi “thu hoạch vàng” lần nữa. Thế mà vàng vẫn biệt vô âm tín. Không chút tăm hơi “phấn khởi” nào cả.
Gặp lại y lần nầy, y lắc đầu ngao ngán nói rằng: vàng đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tốn tiền xe lui tới, cơm nước bới xách, công sức của hai cha con và nặng nhất là tiền thuê máy dò mìn. Hết sạch tiền tiêu tết. Nay đã 30 tết rồi mà trong nhà không có chút quà bánh gì để đón giao thừa, đón tết cả.
Nghe Y nhắc đến tết và giao thừa. Trong lòng Hải bỗng bùng lên sự căm hận với y. Chính y đã báo cáo công an khu vực và toàn bọn đến trục xuất Hải ra khỏi địa phương năm nào, khi ấy mọi nhà đang đưa ông táo về trời theo tục lệ. Bóng dáng mùa xuân đang lấp ló bên thềm. Thế mà Y đã cướp mất của Hải những ngày xuân đoàn tụ mong manh, nghèo khổ bên gia đình khi mới ra tù về lại quê hương.
Chính lần trở về đó. Hải muốn tìm chút hơi ấm bên gia đình sau những cái tết tê tái vắng bóng mùa xuân đầy ất hận trong tù! Thế mà y đã nhẫn tâm gây cảnh chia lìa, ly tán gia đình Hải. Không cho Hải đón nhận hơi ấm của mùa xuân đang tỏa ra từ người mẹ khi gặp lại con.
Y đành đoạn cắt đứt tình mẹ con của Hải, gây buồn phiền cho mẹ Hải phải ngã bệnh sau lần chứng kiến cảnh đứa con về thăm mẹ mà phải sống chui rúc không chốn nương thân. Y quả là con người có trái tim máu lạnh!
Nay y nhắc lại chuyện không quà bánh cúng giao thừa. Tinh ý sẽ thấy y muốn xin tiền Hải để bù đắp lại khoản tốn phí trên. Nhưng, nào đâu có tiền dễ dãi đem đi bù đắp cho lòng tham của y được. Việc y đào xới “tìm vàng” là do lòng tham mà ra. Âu đó cũng là cái giá mà y phải trả mà thôi.
Hải đã ngầm tính với y. Bao lần đi ăn”chùa”, bao lần đi xe “chùa” tới lui đó đây vui thú hả hê Hải phải gánh chịu, vì Y là “khách không mời” mà vẫn có mặt trong mọi cuộc vui, Hải đâu có than vãn với y.
Đời mà! Tham thì thâm là lẽ thường, buồn tiếc làm chi phải không “đồng chí” ?!
Cuộc chiến “phục hận”của Hải đến đây xem như đã đạt được “thắng lợi”…Hạ màn …
Hải trở về Mỹ, quên y như quên đôi dép rách sau hè!
Trong chuyến bay dài mười tám tiếng đồng hồ xuyên lục địa về lại Mỹ, bồng bềnh trên bao tầng mây. Trong không gian êm dịu của máy bay. Nhờ vậy lòng Hải cảm thấy thư thái nhẹ nhàng, rũ bỏ được phần phiền lụy đã qua. Do đó Hải động lòng suy nghĩ lại.
Để khỏi bị mang tiếng là kẻ ác tâm vì đã làm cho y tiêu tốn tiền bạc đánh mất mùa xuân, mấy ngày sau Hải gọi về người nhà, đem qua cho y ba trăm đô, gọi là chút quà tết của một Việt Kiều đã bị y làm khổ đau trên chính quê hương mình mười năm về trước.
Hải không muốn mình nhẫn tâm lặp lại cảnh cũ với người đã từng hại mình. Hành động của Hải chỉ để xoa nhẹ phần nào nỗi uẩn ức mà người “khách không mời” gây ra cho Hải mà thôi, chứ không đành đoạn cắt đứt mùa xuân của gia đình y. Dù sao Hải cũng còn trái tim màu hồng. Khác với trái tim máu lạnh của người Cộng sản như y.
Hải Minh

Tin tức khác...