Người Mỹ hay cười

Huy Lâm

Cụ Nguyễn Văn Vĩnh có lẽ là người tính tình nghiêm trang, đạo mạo, ít cười. Không thế mà cụ đã từng chê trách người Việt cười nhiều quá: “An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì.”

Thế nhưng nếu cụ sống vào thời đại này thì chắc là cụ phải thay đổi ý kiến thôi. Người Việt cũng có cười đấy, nhưng không nhiều như cụ nghĩ đâu, ít ra là không bằng người Mỹ. Người Mỹ mới là dân tộc cười nhiều.

Bên Âu châu có câu chuyện tiếu lâm về người Mỹ hay cười: Một hôm nào đang đi trên đường bất chợt có người mỉm cười với bạn thì hẳn đó là một tên say xỉn, hoặc là một gã điên, còn không thì phải là một người Mỹ.

Lý do Mỹ cười nhiều có thể là vì xã hội Mỹ ổn định, đời sống của người dân Mỹ tương đối đầy đủ hơn nhiều nơi khác. Nhưng còn một lý do khá lý thú theo một số nhà nghiên cứu giải thích là vì nước Mỹ có nhiều di dân đến từ nhiều nơi trên thế giới, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau nên người Mỹ cần sử dụng nhiều tới lối giao tiếp không có đối thoại. Giao tiếp không cần đến tiếng nói thì không gì hơn là biểu hiện bằng một nụ cười. Thế nên, người Mỹ hay cười là vì nụ cười chính là một trong những cách để xã giao với người khác vậy.

Một cuộc nghiên cứu năm 2015 do một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế thực hiện trên nhiều quốc gia để phân loại và thấy rằng những nơi như Canada và Mỹ có nhiều sắc dân đa dạng, với Canada có dân số đến từ 63 quốc gia và Mỹ là 83 quốc gia, trong khi những nước như Trung Quốc và Zimbabwe thì lại gần như đồng chủng, với chỉ một ít sắc dân khác nhau trong cả nước.

Kết quả cuộc nghiên cứu trên qua việc thăm dò ý kiến người dân từ 32 quốc gia cho thấy sự biểu lộ cảm xúc có tương quan với sự đa sắc tộc. Nói cách khác, khi trong một đám đông có nhiều sắc dân khác nhau thì cách hay nhất là nở một nụ cười, chính nụ cười đó gây được sự tin tưởng và dễ đưa tới sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người với nhau, là vì không phải tất cả mọi người trong đám đông đó cùng nói một ngôn ngữ nên phải dùng tới một ngôn ngữ chung: nụ cười. Người nói mà người nghe không hiểu thì chỉ cười là an toàn nhất. Đó là kinh nghiệm từ thời mới qua Mỹ của người Việt khi mà tiếng Anh tiếng u còn bập bẹ.

Cười đối với người dân ở những quốc gia đa sắc tộc cũng mang ý nghĩa khác so với người dân ở những quốc gia đồng chủng. Ở những quốc gia có nhiều di dân từ tứ xứ đến, người ta cười là để làm thân với người khác và nụ cười là dấu hiệu thay cho lời nói “tôi muốn được làm bạn với anh/chị.” Nhưng ở những quốc gia đồng chủng, người ta lại cho rằng cười là hình thức biểu lộ tính kẻ cả đối với người khác. Theo các nhà nghiên cứu, có thể là vì những quốc gia không có đông người ngoại quốc đến sống thì thường có khuynh hướng chia giai cấp, thứ bậc trong xã hội, và lối giao tiếp không dùng lời mà chỉ dùng cử chỉ – từ cao ngạo như khoát tay, hất hàm cho đến những cử chỉ tử tế hơn chút như cái gật đầu, nụ cười mỉm – đều là để tỏ ra một chút uy quyền nào đó.

Do đó, người Mỹ cười nhiều là vì người nhập cư gốc Thụy Điển muốn làm quen với người hàng xóm gốc Ý, hoặc người gốc Pháp muốn làm bạn với người gốc Tây Ban Nha ở cuối ngõ, nhưng lại chẳng thể mở miệng nói được một câu chào hỏi bằng ngôn ngữ của người kia. Vậy thì chỉ còn cách giơ tay vẫy rồi ngoác miệng thật rộng để có một nụ cười rạng rỡ, thân thiện nhất để mong cho người kia hiểu được thiện ý của mình.

Nhưng người Mỹ cười nhiều còn có thể là vì người Mỹ đánh giá cao sự hoạt bát và tính vui vẻ hơn là những dân tộc khác. Trong một cuộc nghiên cứu vào năm ngoái, các nhà nghiên cứu thử so sánh các ảnh chụp của một số nhà lãnh đạo trong chính phủ cũng như trong ngành kinh doanh của Mỹ và Trung Quốc. Sau khi phân loại các bức ảnh tùy theo mức độ chuyển động của các cơ bắp trên khuôn mặt, các nhà nghiên cứu thấy các nhà lãnh đạo Mỹ không những cười nhiều hơn mà còn tỏ ra có nụ cười “phấn khởi” hơn là các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Mà người Mỹ không chỉ cười chơi ngoài đời để làm vui cho thiên hạ mà còn mang nụ cười áp dụng vào thương trường, nhất là trong các ngành về phục vụ. Người ta kể rằng khi hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh McDonald mở rộng kinh doanh sang Nga trong thập niên 1990, ban giám đốc điều hành đã phải mở khóa huấn luyện cho các nhân viên người Nga làm việc trong nhà hàng biết cười với khách. Cười ra sao cho khách cảm thấy thoải mái, mở lời chào thế nào cho khách thấy gần gũi. Là vì văn hóa người Nga khác với người Mỹ. Ở Nga, nếu có ai đó nhìn mình thì mình nên kín đáo nhìn tránh đi chỗ khác, còn không nếu như cố tình nhìn lại thì hành động đó có nghĩa là muốn gây sự gì đây. Nhưng ở Mỹ thì khác, khi có người nhìn mình và mình nhìn lại vào mắt họ rồi nở một nụ cười thì không còn cử chỉ nào thân thiện hơn thế nữa.

Tuy nhiên, khi công ty Walmart mở cửa hàng ở Đức thì lại bị thất bại. Theo tờ The New York Times năm 2006: công ty Walmart đã buộc phải ngưng không đòi hỏi nhân viên bán hàng cười với khách, là vì nụ cười đó làm cho đàn ông Đức hiểu lầm là có ý tán tỉnh họ. Mà công ty Walmart không chỉ thất bại ở Đức với nụ cười mà còn thua lỗ hàng trăm triệu Mỹ kim đến nỗi phải quyết định đóng cửa rút lui khỏi nước Đức luôn.

Có một phụ nữ đã từng kể câu chuyện trải nghiệm của bà về nụ cười. Đó là một buổi sáng thật xui xẻo. Trước hết là chiếc đồng hồ báo thức sáng đó quên không đánh thức bà dậy. Vì sợ bị trễ bà đã phải hấp tấp đưa con đến trường nhanh cho kịp giờ. Không may giữa đường bị một chiếc xe bất ngờ tông vào làm xe của bà hư hại khá nặng và đứa con vẫn đến trường trễ. Sau đó bà phải chạy tới văn phòng bác sĩ theo đúng hẹn, nhưng khi đến thì mới biết là mình đến sớm trước một tiếng đồng hồ.

Trong khi chờ đợi, bà đi băng qua bên kia đường vào một tiệm cà phê gọi một ly trà nóng. Vừa ngồi uống trà vừa nghĩ lại những chuyện xui xẻo xảy ra sáng đó mà cảm thấy buồn bực trong lòng. Đang khi không biết tìm cách nào để xua đi những cảm giác yếm thế thì bất chợt thấy cô gái tiếp viên đứng gần đó nở một nụ cười thật dài và thật tươi với mình. Vì không thể làm ngơ, bà mở miệng cười đáp lại. Có điều không ngờ là nụ cười đó dính trên môi bà suốt buổi sáng, ngay cả khi vào phòng vệ sinh rửa tay, nhìn vào trong gương bà vẫn còn trông thấy nó và cái cảm giác yếm thế lúc nãy giờ bỗng biến đâu mất. Và cuối cùng bà nghiệm ra một điều là khi ta nở nụ cười thì cả thế giới cũng cười đáp lại.

Một người khi cười thì thường nhìn thấy dễ mến hơn, và khi nở một nụ cười thì người đối diện sẽ nhìn mình bằng con mắt khác hơn. Người hay cười được cho là có sức thu hút, đáng tin cậy, thư thái và thành thật.

Một cuộc nghiên cứu năm 2011 của Đại học Aberdeen, Tô Cách Lan, cho thấy cả đàn ông lẫn phụ nữ đều bị thu hút bởi hình ảnh của những người trong ảnh đang nhìn vào mắt họ và nở nụ cười hơn là những người không chịu cười.

Nụ cười còn là “căn bệnh” hay lây rất dễ thương. Trong một cuộc nghiên cứu tại Thuỵ Điển, những người tham gia được cho xem những bức ảnh biểu lộ nhiều loại cảm xúc khác nhau: vui, giận, sợ hãi và ngạc nhiên. Khi bức ảnh của người nào đó đang cười được đưa ra, các nhà nghiên cứu yêu cầu người tham gia cau mặt lại. Thay vì cau mặt thì những người được hỏi lại biểu lộ giống như những gì họ thấy trong bức ảnh: nở nụ cười. Phải cố gắng lắm những người này mới làm khuôn mặt họ cau lại được. Do đó, nếu ta cười với một người nào đó thì thường là người kia không thể làm như không biết mà phải cười đáp lại. Nếu họ không cười là vì họ cố tình không chịu cười thế thôi.

Nhìn xa hơn chút nữa, mỗi khi ta cười với một người nào đó, thì não bộ của người đó “nhắc” họ là hãy cười lại. Vô tình nụ cười vừa mở ra một mối quan hệ nhân quả mà cả hai cùng cảm thấy một niềm vui nhè nhẹ dâng lên. Khi trong lòng cảm thấy thư thái, vui vẻ thì đó chính là liều thuốc bổ làm tăng thêm cơ hội để ta được có cuộc sống thọ hơn và khoẻ mạnh hơn.

Có lẽ vào thời của cụ Nguyễn Văn Vĩnh người ta chưa có những cuộc nghiên cứu khoa học sâu rộng về ích lợi của nụ cười. Vì nếu như biết được nụ cười có thể mang lại cho chúng ta một nguồn sống đầy tràn như thế thì chắc cụ Vĩnh sẽ không quá nghiêm khắc trách móc người An Nam mình: “Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.”

Huy L âm

Tin tức khác...