HỒI ỨC

VUONG BUI THI THI

(Thương tặng khách hàng đã và đang mua thuốc tại Pacific Pharmacy Mississauga.)

Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao sáng. Tôi được diễm phúc có một người cha cần mẫn, một người mẹ đảm đang xinh đẹp.

Bên nội tôi ở Nam Định, bây giờ là Hà Nam Minh. Bên ngoại tôi ở Thừa Thiên ( Huế). Cha tôi là chủ nhà in xuất thân là một đứa bé mồ côi, đã tạo dựng cơ sở làm ăn từ bàn tay trắng.  Anh chị em chúng tôi được cha mẹ cho ăn học đến nơi đến chốn và hấp thụ một nền giáo dục kết hợp hai miền Bắc Trung.

Thêm vào đó tôi được trúng tuyển vào trường nữ trung học Gia Long của niên học 1959-1960. Trường này là một trong hai trường nữ nổi tiếng  miền Nam lúc bấy giờ nên tôi may mắn được sự giáo dục của ba miền Trung Nam Bắc, tôi tự hào điều này vì tôi là người Việt Nam.

Nhắc đến thời nữ sinh, tim tôi rộn lên những niềm vui khó tả. Thời ấy tôi theo học ngoại ngữ chính là Pháp văn, từ lớp đệ thất 1 ( lớp 6 bây giờ) đến đệ thất 7 là Anh văn, từ đệ thất 8 đến đệ thất 12 là Pháp văn. Tôi học lớp đệ thất 8. Niềm hãnh diện nhất của tôi đến bây giờ mỗi khi nghĩ lại tôi vẫn còn cảm giác vinh dự là trong lớp luôn luôn hạng nhất trong học tập, ba năm liền giật cờ luân lưu, một trong số học sinh giỏi của trường. Chúng tôi hăng say học tập, ganh đua nhau từng điểm, từng hạng trong tình yêu thương thân ái của bạn bè, trong sự khuyến khích quý báu của thày cô. Về môn Pháp văn, tôi nhớ mãi cô giáo diễm lệ có tên Kiều Liên, cô gần gũi thân thiết với chúng tôi đến mức độ vào giờ chơi cô cùng chúng tôi chơi trò “ cầu cơ “ dưới gốc cây phượng của trường, trò này thịnh hành nhất vào thời ấy trong giới học sinh. Cô cùng chúng tôi khúc khích cười khi một cô nàng nữ sinh hỏi cơ về bạn trai mình, rồi cô Nguyễn Võ Lệ Hạnh nhỏ nhắn xinh đẹp, cô Kỳ nghiêm khắc ( sau này là hiệu trưởng ).

Quý cô thày đã  tận lực dạy dỗ chúng tôi, nhờ vậy mà đến nay kể từ ngày tôi ra trường năm 1966, tôi vẫn duy trì kiến thức vì tôi được dạy rất căn bản.Môn Toán thì có cô Phi Phụng, cô Tuyết. Việt văn có cô Hoàng Hạ, bà Phạm Quy, Lý Hóa có thày Linh.

Trong thời gian này có vài biến chuyển chính trị. Chúng tôi tham gia cuộc biểu tình đàn áp Phật giáo, đàn áp học sinh sinh viên. Tuy nhiên việc học của chúng tôi bị gián đoạn một thời gian ngắn sau đó tiếp tục bình thường.

Tôi trúng tuyển vào Đại học Dược khoa 1967-1968. Tôi nhớ mấy cô bạn tôi cả ngày ca câu “ Thi ơi là thi sinh mi làm chi “ vì tụi nó trách tại tôi mà trường nào, đại học nào tụi tôi đều phải thi tuyển mới được nhận chán nhỉ .??

Đến năm 1972 tôi tốt nghiệp Dược sĩ và tôi làm viêc ở một laboratoire nhỏ gần nhà và đứng tên cho một dược phòng ở Hà Tiên ( chỉ cần ký tên là hàng tháng được một số tiền).  Năm sau tôi mở một dược phòng tại Đà Lạt trên đường Minh Mạng năm 1973. Việc buôn bán rất dễ dàng, thịnh đạt nơi miền cao nguyên thơ mộng ấy. Sau nội chiến Việt Nam, chế độ Cộng sản thống trị hai miền Nam Bắc.

Trong sự hỗn loạn tôi cùng chồng di tản về Saigon bỏ mặc tài sản để cứu lấy thân. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, phong trào vượt biên nổi lên khắp mọi nơi. Chúng tôi cũng tìm cách ra đivới chuyến tàu bán chánh thức dởm, tôi lãnh 7 tháng rưỡi tù vượt biên. Trong cái rủi có cái may, một cuôc vượt biên hơn 300 người trên một chiếc tàu nhỏ mong manh thế mà chúng tôi may mắn đến nơi an toàn và được một hội thiện nguyện bảo lãnh đến Canada.

Tôi làm lại từ đầu tương lai của mình. Tôi vào Đại học Dược của Canada để hợp thức hóa bằng dược sĩ của Viêt Nam. Trong thời gian học, tôi mang thai đứa con đầu long. Vừa học, sanh và nuôi con. Đôi lúc nhớ đến gia đình đã nuôi tôi ăn học nơi quê nhà. Giờ đây nơi xứ lạ quê người, tôi vừa học vừa nuôi con, mới thấylòng  thương con của mẹ vô bờ bến. Bất giác tôi nhớ thương mẹ dường nào.

Hiện nay mẹ tôi dứt áo sang đoàn tụ với gia đình chúng tôi và bà vui  lòng với  sự trưởng thành của tôi nơi xứ lạ quê người. Hồi còn nhỏ, khi thấy cha mẹ sau giờ làm việc lại vội vã đi họp và thăm viếng Hội Dục Anh, tôi đã thắc mắc cha mẹ cực nhọc kiếm tiền lại bỏ thì giờ đến nơi ấy làm gì. Đã vậy ông bà lại còn tặng tiền tặng quà nữa, có khi thức đến nửa đêm để nắn  nót cho thật xinh những món quà sẽ gởi cho nh»ng người hòan toàn không thân thích. Lớn lên tôi dần hiểu được. Cha tôi lúc còn bé thì mồ côi cha mẹ, sau đó được chú thím nuôi. Nhưng vì bà thím rtính tình khó chịu, hẹp hòi, đối xử nghiệt ngã với cha tôi nên cha tôi bỏ nhà ra đi. Tứ cố vô than cha tôi đến một nhà in xin học việc. Ít lâu sau cha tôi tích lũy một số tiền để vào Huế. Nơi đây cha tôi gặp mẹ tôi và vợ chồng dắt díu nhau vào miền Nam lập nghiệp.

Phải mất nhiều năm sau tôi mới nhận ra rằng được sự ưu đãi của Thượng đế mà gia đình tôi và bản thân đang được hưởng có lẽ là để trả công cho sự tốt bụng của cha tôi. Có lần đang cùng tôi trên đường về tự nhiên cha tôi khựng lại và đi thật nhanh sang bên kia đường. Vừa đi cha tôi vừa giải thích : “  Bác ấy nợ cha một số tiền nhưng chưa trả nổi bây giờ bác gặp mặt cha chắc sẽ ngại lắm. “  Một lần khác, vừa đi học về tôi nghe mẹ tôi la lên :  “ Sao ông thiệt thà quá, mứt bí nói mứt năng cũng tin mua về. “  Cha tôi chậm rãi trả lời : “  Thôi để người ta sống “ . Thì ra cha tôi đi chợ Tết thấy chị bán hàng mời mua mứt , cha tôi tuy biết chị bán hàng  không thiệt thà, muốn bán cao giá, nhưng ông vẫn mua  chỉ vì chị ta than chợ ế quá chưa ai mở hà ng.

Chiều chiều cha tôi thường cho tôi đi cyclo vòng vòng cho mát, tôi không thấy cha tôi trả giá, dù những cuốc xe ấy hình như được đòi trả gấp đôi. Tôi ngỡng mộ cha tôi không phải vì ông là một đứa bé mồ côi đã thành công, làm chủ một nhà in tại trung tâm Saigon, đã xây dựng được sự nghiệp, tài sản từ bàn tay trắng, mà vì tấm lòng nhân hậu, biết yêu tha nhân của ông.

Tôi là con gái kế, nhưng không hiểu có phải cầm tinh con chó can Bính hay không, mà ở trong nhà, có hai anh trai và một chị lớn hơn mà tất cả quyền hành sinh sát đều trong tay tôi. Cũng vì thế mà tôi nổi tiếng tốt là  “ con gái rượu “   và xấu là  “ bà la sát”. Thú thật, vì tuổi nhỏ háo thắng nên lúc đó tôi đã le lói và hách xì xằng vì nhất cử nhất động cha mẹ tôi đều hỏi ý kiến tôi. Tôi muốn gì được nấy. Ở tuổi cập kê, tôi tuy không phải khó khăn gì nhưng hễ mỗi lần đụng đến việc cưới hỏi là tôi  “ de “  cả trăm thước. Có lần, hình như năm ấy tôi được 28 xuân xanh, cha tôi đã phải nói xa nói gần  “ sao con gái kén quá coi chừng già kén kẹn hom “.

Một ngày kia, có một người bạn thân của cha tôi đem người cháu đến xem mắt tôi, việc này do cha tôi sắp đặt. Tôi im lìm bưng trà nước rồi kín đáo dông mất tiêu. Đêm hôm ấy trở về, tôi lãnh một bài giáo lý êm tai.

Mẹ tôi lo âu quá độ cứ dẫn tôi đi xem bói để coi chừng nào tôi lấy chồng. Nhưng thời gian vẫn lặng lẽ trôi qua và tôi vẫn phòng không chiếc bóng.

Ngày nọ, để chiều lòng mẹ, tôi đi cùng với bà đến gặp một thầy lốc cốc tử rất nổi danh ( do một người bà con giới thiệu và quảng cáo ông ta nói như thần ). Sau k hi đặt tiền quẻ, ông thầy thao thao bất tuyệt : “ Con gái bà rất cao số, sau này lấy chồng là người ngoại quốc “.   Mẹ tôi la ơi ới  “ Con tôi học đại học sao lại gã cho Mỹ “ . Thời đó hình như có mốt con gái ở xứ ta lập gia đình với người Mỹ. Sự đời khó dự liệu, 6 năm sau gặp nhà tôi, anh không phải Mỹ mà là người Việt gốc Hoa. Bây giờ nghĩ lại thấy ông ta nói đúng quá.

Sau cuộc di tản tôi có nhờ người nhà tìm ông thày bói nhưng rất tiếc ông ta đã mất vì bệnh già. Ông ấy  cũng tiên đoán tôi sẽ sống xa gia đình và khi cha tôi mất tôi không có bên  cạnh ( thật không sai! ).

Thương mẹ nên lúc nào tôi cũng cố gắng học theo lời mẹ dặn. Mẹ thường bảo tôi nên học Dược, mai kia mở tiệm vừa có thể trông con vừa có thể bán hàng . Thời gian thấm thoát trôi qua, tôi lấy bằng dược, trả được cái nợ đèn sách.

Tôi còn ham chơi không thích mở tiệm, nên cho thuê bằng và lo ngao du sơn thủy. Ở Việt Nam thời đó cho mướn bằng hằng ngày lãnh tiền rất khỏe.

Khi được cha tôi thửơng một món tiền, tôi dông ngay lên Dà Lạt thăm dòng họ bên ngoại. Không ngờ nhờ dịp này mà tôi nghe lời dì tôi mở tiệm thuốc ở Đà Lạt trên con dốc đường Minh Mạng.

Tôi rất mê Đà Lạt, nhất là chiều xuống đi dạo dưới bóng thông của thành phố cao nghuyên. Tôi cũng rất mê bóng thông in trên mặt hồ Xuân Hương, đôi lúc bị lay động bởi những chiếc thuyền nhỏ của du khách. Thế là tôi từ giã cha mẹ, gia đình khăn gói lên Đà Lạt lập nghiệp.

Dì tôi chăm sóc tôi như con gái nên ngăn cấm tôi đi chơi đêm với bạn bè. Phòng Dược của tôi sau hai năm trở nên rất đông khách, dù có một dược phòng do một người mướn bằng hoạt động, đã từng giựt khách của tôi bằng cách đứng trước cửa đón khách từ văn phòng bác sĩ  ra….

 

…những người khách định đi thẳng đến tiệm thuốc tôi tự điều hành. Dầu thế, nhiều khách đã phải đi vòng để đến mua thuốc ở tiệm tôi.

Ở Việt Nam tôi thích đứng bán thuốc, trưa đóng cửa lên lầu nằm nghỉ. Đôi lúc cũng hơi phiền vì tôi ở trên lầu, dưới mở tiệm thuốc, có nhiều khi người hàng xóm cần thuốc đêm khuya đập cửa. Tuy nhiên tôi cũng chịu khó trở dậy mở cửa bán thuốc giúp họ qua cơn đau.

Cuộc biến loạn lịch sử khiến tôi rời Đà Lạt mến yêu về Saigon xum họp gia đình. Rồi cuộc vượt biên lần thứ nhất đưa tôi vô nhà tù Phan Đăng Lưu , tôi ở đó trụ trì bảy tháng rưỡi. Kỷ niệm không quên ở nhà tù này là lần tôi được một chị  vợ trung tá – bị gán tội phản cách mạng, chia cho một nửa  tô bún tôm càng nướng do con chị tiếp tế, thật là nhất ẩm nhất trác giai do tiền định.

Trong tù, tôi được một cô giáo bị gán tội phản động chia cho tôi một số đồ dùng cho phụ nữ, một gói muối mè, vài bánh đậu phọng trước ngày chị ấy bị chuyển đi trại cải tạo khác. Vài hôm sau tôi nhận được một phần quà do ông xã tôi đút lót chuyển vào ( tù vượt biên không được tiếp tế). Tôi xin chị quản giáo nước sôi và nấu mì gói chia cho mấy chị bạn tù mỗi ngừơi một ít  mì gói và ruốc chà bông, đậu phọng muối mè dù biết là sau này chỉ còn ăn bo bo.

Một đêm nọ, một  chị tù nhân lớn tuổi tự nhiên nắm tay tôi và ứng khẩu nói em sẽ về trước Tết và em sẽ đi đâu xa lắm. Lòng bán tín bán nghi tôi ngủ không được nên nằm nhẩm đọc kinh rồi ngủ thiếp lúc nào không biết.

Tôi ra tù 27 Tết, ông xã tôi hợp tác với chủ tàu tổ chức vược biên. Tôi đi theo để gom tiền cho chủ tàu. Lần thứ hai tôi vượt biên cùng gia đình chồng đến miền đất lạnh Canada. Chúng tôi may mắn được giáo hội bảo trợ. Lúc ấy tôi chỉ có một bộ đồ dính da và một bộ đồ cũ bỏ trong túi hành lý. Bà bảo trợ dẫn chúng tôi đi shopping và đi nhà thờ, nơi đây chúng tôi rất cảm động là họ  quyên tiền và áo quần từ các con chiên đem về cho chúng tôi.

Tôi được họ rất quí và đảm nhận làm thông dịch viên mặc dù tiếng Anh tôi cũng chưa thông, tại Việt Nam tôi học tiếng Pháp là ngoại ngữ chính.

Tôi cũng hên, may được một nhóm nhà hảo tâm phỏng vấn và tặng một số tiền mua sách vở học. Sauk hi sinh con gái đầu, hai mẹ con tôi được hội phỏng vấn  “ parenting project “  nên có một số tiền mua quần áo đẹp cho con gái tôi.

Tôi cưu mang trong lòng những điều nhân hậu, từ thiện do cha tôi giáo huấn. Không phải là người muốn phô trtương nhưng  thật sự tôi thấy mình đã nợ xã hội quá nhiều nên hy vọng trả lại cho những người đến sau, vì tiếc thay mình không trả ơn được cho chính người ban ơn cho mình.

Có lẽ khi về hưu, tôi sẽ tham gia vào những hội từ thiện để làm những công tác xã hội mà bây giờ bận bịu không làm được. Tôi thầm phục các bác, các chị làm công quả tại các chùa chiền ở Canada. Họ là những tấm gương sáng cho tôi noi theo sau này.

VUONG BUI THI THI ( Pacific Pharmacy Mississauga)

 

Tin tức khác...