Góc của Phan: Đời là con chuột…

Phan

 

Khi còn nhỏ lắm, tôi sống ở làng quê nên kỷ niệm tuổi thơ ấp lẫm chuyện quê mùa. Có lẽ hết đời cũng không quên được niềm vui đi bắt chuột ở đồng quê. Ngày tôi còn bé thì nông dân Việt nam xưa làm lúa mỗi năm chỉ một mùa. Sinh hoạt đời thường vào thập niên sáu mươi rất đúng với bài ca dao mà chúng tôi học ở trường làng: Tháng Giêng là tháng ăn chơi/ tháng hai trồng đậu trồng khoai trồng cà/ tháng ba thì đậu đã già/ ta đi ta hái về nhà phơi khô/ tháng tư đi tậu trâu bò/ để ta tiếp tục làm mùa tháng năm…

Với sức quan sát của một chú bé đang học bậc tiểu học ở trường làng. Tôi nhớ nông dân gieo mạ, vỡ đất trên những cánh đồng trước tết Mồng năm. Dường như khi được ăn bánh ú nước tro là mùa cấy rộn ràng, hàng hàng phụ nữ nhổ mạ, gánh mạ, cấy lúa trên đồng…

Cuộc sống êm đềm trôi đến gió sớm thu về như sáng nay trời trở lạnh sang thu ở một nơi xa mù cố thổ, làm ký ức tràn về những mùa gặt tháng mười ở quê xưa. Những cánh đồng rộn rã tiếng nói cười của phụ nữ gặt lúa, đàn ông thì đập lúa. Chiều về rộn tiếng gánh lúa trên đường làng. Ghe xuồng dưới sông rạch cũng khẳm lúa bao được vác lên sân phơi…

Mùa lúa kết thúc vào rằm tháng mười, nhà nhà cúng mừng lúa mới. Trẻ con mặc sức ăn ở bất cứ nhà nào trong làng. Bởi thời ấy miếng ăn thật dễ như làm chơi ăn thật, xã hội thời ấy thật đúng như bài hát “trăng thanh bình” của nhạc sĩ Lam Phương…

Với tôi ký ức hằn sâu nhất là cứ sau mùa gặt, mùa nông nhàn nên cả làng chỉ thấy ăn chơi. Tôi nhớ lắm những sáng sớm trời se se lạnh, sương đọng trắng cây cỏ ven đường. Những người lớn trong xóm làng thì vác xẻng, mai để đào đất. Phụ nữ thường cặp hông những cái hom (đan bằng tre) để bắt chuột. Đám trẻ con chúng tôi và mấy con chó là huyên náo nhất.

Đoàn người tiến xuống những thửa ruộng đồng đã trơ gốc rạ, mặt ruộng đã khô và đất nứt chân chim. Thường thì cả đoàn người nghe lệnh người kinh nghiệm nhất là bác Tư thợ mộc. Bác nhìn thế đất, thế nước, sẽ quyết định bao vây một cái gò nào đó!

Thế là bọn trẻ chúng tôi sẽ nhanh nhẹn bao vây cái gò, móc sình non lấp hết những lỗ mọi. Vì đại gia đình chuột đã chọn một cái gò nào đó để sinh sống thì hệ thống giao thông của chúng rất thiên la địa võng dưới lòng đất gò. Nói chung là chừa lại những lối mòn có nhiều dấu chân chuột ra vào nhưng đường mòn ấy phải tương đối lớn bằng miệng hom để phụ nữ đặt hom.

Đâu vào đó đã xong thì bọn trẻ chúng tôi mỗi đứa một cây gậy, đứng bao quanh gò. Mấy con chó dẫn theo sủa bản năng khi nghe mùi chuột hay sao mà chúng cũng khẩn trương lắm! Cánh phụ nữ thì mỗi người trực chiến với cái hom của mình đã đặt ở ngõ ngách nào, có hợp lý nhất chưa? Đàn ông nổi lửa đốt rơm để hun khói vào những ngõ lớn của hệ thống giao thông của lũ chuột trong gò.

Hoạt cảnh ồn ào như đi đào chuột bỗng im phăng phắc khi những lọn khói trắng đục như nước vo gạo của rơm ẩm sương đêm bị ép cháy, những lọn khói bị ém bằng quạt mo để đưa khói vào hang… Không gian trong lành buổi sáng với mặt trời vừa nhú xa xa, sự yên ắng đến nghẹt thở vì hồi hộp… cho đến khi con chuột thứ nhất bị ngộp khói xông ra thì tiếng ồn của đoàn người đi bắt chuột như ong vỡ tổ.

Vui lắm. Không có gì vui hơn đi đào chuột. Khi cả họ nhà chuột bị ngộp khói thì chúng lũ lượt liều mình băng ra ngoài gò để thoát thân. Nhưng những lỗ mọi là ngách nhỏ thì đã bị bọn trẻ con chúng tôi lấp sình non. Chúng thoát ra theo những ngõ lớn hơn thì đã bị đặt hom cả rồi! Những cái hom đan bằng tre dài chừng một thước tây, đường kính bằng gang tay người lớn. Miệng hom cạm bẫy là chỉ có đường vào mà không có đường ra. Vậy mà không lâu, những cái hom nung núc chuột cha chuột con mập ú nú sau mùa lúa đến hai người phụ nữ phải khiêng chung một cái hom đầy ắp chuột.

Vui nhất là những con chuột (thuộc loại tướng quân) nên đâu đi đường mòn được mà lọt vô hom. Chúng buộc phải xông ra lối lớn, lối chính, cũng chính là những lối đang bị hun khói. Chúng băng qua khói lửa để thoát thân, lại không có hom nào cản lối… thì mới có việc cho bọn trẻ con chúng tôi với lũ chó tranh nhau lập công. Thường thì bọn trẻ con chúng tôi đập nhau bằng gậy đến u đầu, sứt trán. Trong khi những con chuột tướng quân lại thường bị bọn chó tóm cổ. Nên làm sao quên được những gương mặt cười dù khệnh gậy trúng phải thằng bạn hàng xóm, hay bị con nhỏ bạn trong xóm khệnh cho một gậy vêu đầu thì cả đám vẫn ôm bụng cười; cười ra nước mắt trẻ con là hoà chung đau điếng với vui ngất ngây.

Cứ như thế chúng tôi di chuyển qua cái gò khác, qua gò khác nữa cho đến khi mặt trời đứng bóng thì về. Từ ấy tới chiều tối là xóm làng mịt mù khói lửa nướng chuột với muối ớt, chuột xào lăn, chuột khìa nước dừa… Cánh đàn ông tụ tập nhậu thịt chuột ở nhiều nhà chứ không riêng nhà ai. Đám trẻ con chạy lung tung theo khói, nghe khói nhà ai thơm hơn thì cứ lăn xả vào ăn hôi. Thời ấy đi đào chuột để chúng đừng phá mùa màng chứ chẳng ai đói khổ đến phải đi đào chuột về ăn như sau hoà bình. Bằng chứng là đám trẻ chúng tôi có tạt vô nhà nào ăn ké, ăn hôi thì thím Hai, dì Ba cũng rộng rãi, ân cần… “Thím (dì) làm ngon hông mấy con, ăn thêm đi tụi con. Còn nhiều lắm. Để thím (dì) làm thêm cho tụi con ăn nha! Ăn đâu cũng vậy, ăn đây dùm…”

Sáng nay thu về se lạnh nỗi nhớ xóm làng mới hay lạnh lòng chứ thời tiết mới chớm thu đâu đã lạnh lùng; trời lành lạnh như men gây niềm nhớ những xâu chuột nhúng nước muối hột, xỏ dây kẽm gai của lính rồi phơi nắng, vì chuột nhiều tới ăn không hết.

Và đêm xuống quê xưa, những đêm trăng như chiếc bánh tráng vàng treo trên trời vô phương cắn được một miếng cho đã răng, nên ném hòn sỏi xuống ao cho trăng vỡ ra giòn rụm, đỡ thèm. Món bánh tráng trăng thơ dại ấy mà ăn với khô chuột nướng thơm lừng ký ức tuổi thơ là khi nhớ về những lọn khói xanh bốc lên từ đống than hồng sau khi đốt lửa nhảy múa ca hát um xùm mấy cái sân phơi lúa đã trống vì lúa nhà ai đã vô bồ nhà đó cả rồi.

Ngày ấy, khuya đối với tuổi nhỏ có thể là tám hay chín giờ tối là giờ của bây giờ đôi khi còn chưa ăn tối để đi ngủ. Nhưng ngày ấy những chú nhóc chúng tôi say chuột nướng tới quên đường về nhà ngủ thì cứ ngả vào lòng chị nhà ai cũng được vì đều là chị trong xóm thì là chị của hết đàn em, rồi mơ màng trí tưởng trẻ con theo những chuyện cổ tích của mấy anh lính chiến đêm đêm vào xóm đàn ca với các anh chị trong xóm hay kể chuyện cho trẻ con nghe, tạo thành những giấc mơ không mất đi, chỉ lãng đãng thu về theo dòng nhớ nơi chân trời góc biển…

Và người tôi nhớ nhất tuổi thơ lại là anh Năm khùng bên nhà hàng xóm. Anh cùng thời với các anh chị trong xóm nhưng sống thầm lặng như bóng trăng của cây dừa, cây đước. Anh thường mặc quần xà lỏn của lính – rộng thùng thình, ở trần, đi chân đất, nhưng trên tay thường vắt chiếc áo vét (cũ mèm) của ai cho anh thì tôi không nhớ; chỉ nhớ anh bảo như vậy mới giống cố ca nhạc sĩ Duy Khánh. Anh vẫn thường cô đơn trên đường làng đêm khuya, lặng lẽ hát bài “con đường xưa em đi” thì hay không thua gì Duy Khánh. Anh thường dừng bước để nhìn những ánh hoả châu đêm khuya đã bắt đầu thắp sáng những vùng quê theo đà chiến tranh leo thang. Rồi từng lớp đàn anh bắt đầu ra trận. Đến những chiếc xe nhà binh chở quan tài về làm náo động xóm làng còn hơn những hôm cả xóm đi đào chuột xưa kia vì nước mắt người lớn, trẻ nhỏ đã lăn chảy trên những gương mặt đã vắng nụ cười.

Anh Năm không đi lính vì có giấy bác sĩ chứng nhận anh bị bệnh tâm thần nên được miễn dịch. Và hầu như cả xóm chỉ mình tôi chơi thân với anh. Tôi thường ghé qua chái nhà anh, nơi có chiếc giường tre cho anh ngủ vì anh không chịu ngủ trong nhà. Trời nắng hay mưa, nóng hay lạnh anh cũng chỉ ngủ ngoài chái bên hông nhà. Tôi chỉ được nghe kể về anh là lúc nhỏ anh cũng có đi học, nhưng đến năm đi thi đệ thất thì anh bị bệnh nặng, và sau đó tâm thần không còn minh mẫn để đi học tiếp. Nên tôi không lạ là anh biết viết, cùng lắm chỉ không hiểu hàng chữ anh ghi trên gối nằm của anh: “đời là con chuột”. Tôi còn nhớ hai chuyện về hàng chữ ấy trên gối nằm của anh Năm. Một là hàng xóm thì thầm, “thằng Năm khùng thương con Nga con nhà chú Chín. Nhưng con ấy sợ chuột nhất đời, thứ hai là sợ thằng Năm khùng khùng điên điên. Nên thằng Năm tự ví đời nó như con chuột vì con Nga thấy mặt nó là tránh mặt tới mất bóng luôn…”

Chuyện thứ hai tôi còn nhớ là có hôm tôi nghe anh Ba tôi hỏi anh Năm, “Tao nghe hàng xóm nói là mày thương con Nga con chú Chín phải không Năm? Nó tuổi Tý, sinh năm 1948. Nên mày ghi trên gối nằm, ‘đời là con chuột’ phải không Năm?”

Anh Năm nổi giận thì dễ sợ lắm! Mắt long lên đỏ ngầu, anh cố nói thành tiếng cho hả giận. Nhưng càng giận thì anh lại càng không nói ra tiếng được, chỉ có nước rãi nhễu xuống ngực anh đến khiếp. Hôm ấy, anh Năm vác dao phay rượt anh Ba tôi chạy có cờ ra tới bờ sông, anh tôi nhảy đùng xuống sông vì hết đường chạy; anh Năm nhảy theo để chém chết mày luôn… Nhưng anh không biết bơi nên anh tôi với mấy anh nữa trong xóm phải cứu anh. Từ đó không ai dám chọc ghẹo anh Năm nữa. Hôm anh Ba tôi đi lính, không biết anh nghĩ gì mà xách chai rượu đế với mấy con kho chuột sang nhậu với anh Năm. Anh Ba tôi nhắc lại những kỷ niệm hồi nhỏ học chung lớp với anh Năm. Anh Năm cứ lầm lì ngồi uống rượu tì tì… rồi khóc.

Riêng tôi mãi tới bây giờ, cứ mỗi lần chợt nghe bài hát, “con đường xưa em đi” là nhớ tới anh Năm. Không biết anh đã đi hết đường trần chưa? Và chị Nga có khi nào chợt nhớ về con đường xưa em đi… gánh nước, có anh Năm ca mùi như Duy Khánh cứ hát đi hát lại mỗi bài “con đường xưa em đi”. Và tôi ám ảnh hoài với khái niệm “đời là con chuột” của anh Năm tới tôi lớn lên, thấu hiểu anh hơn như lần đó đọc được ở đâu đó, “trong mắt người điên là cả một thế giới không bình thường!” Tôi nghĩ về anh với lòng thương cảm cho người không ai hiểu anh. Nhưng theo dòng thời gian cho tôi biết thế nào là thất tình, làm ăn thất bại cũng thê thảm không kém. Những lúc ấy chân lý của anh Năm lên ngôi trong tôi. Đời là con chuột. Tình yêu như Adam tìm thấy vườn địa đàng; con chuột tìm thấy vườn nho. Nhưng người ta rào kỹ quá nên chuột phải nhịn ăn cho ốm bớt thì mới thoát qua được lỗ rào duy nhất mà nó tìm kiếm được quanh vườn nho. Rồi khi chuột gần chết đã vào được vườn nho thì ăn thỏa thích cho đã thèm và lại sức sau thời gian nhịn ăn. Chuột đâu biết chuyện khi muốn thoát ra khỏi vườn nho vì bất cứ lý do gì thì cũng phải nhịn ăn cho tới sắp chết thì mới đủ ốm để có thể thoát ra được bằng chính ngõ chuột đã tìm vào. Người ta bước vào tình ái cũng không hơn gì chuột vào vườn nho.

Người ta thất bại trên đường đời không phải vì thiếu tài năng hay cần mẫn, vì từ khi tính toán đã không sinh lợi thì chẳng ai bắt tay vô làm ăn. Nhưng người ta vẫn thất bại… vì đời là con chuột. Bởi có ba con chuột lục nát nhà bếp cũng chỉ có một hũ mỡ quên đậy nắp, hũ mỡ cao nhưng lại cạn gần đến đáy hũ rồi thì biết làm sao để ăn được? Chúng bàn với nhau: Không có cách gì hơn là nắm tay nhau thì một con sẽ chạm được tới lớp mỡ dưới đáy hũ. Chúng thông minh không thua con người nên có cùng điểm dở là con thứ hai phát sinh suy nghĩ khi thấy con thứ nhất đang liếm láp ngon lành lớp mỡ cặn dưới đáy hũ. Nó nghĩ: Chẳng còn bao nhiêu mỡ trong hũ. Con chuột khôn lanh, giành ăn trước này sẽ chẳng chừa cho anh em miếng nào đâu! Nó quyết định buông tay chứ không làm công không cho ai. Đồng thời con thứ ba cũng có ý nghĩ đó, thậm chí nặng nề hơn là nó phải đợi đến hai con trước ăn xong thì mới đến lượt nó. Chắc chắn là nó không được gì ngoài việc mất công không. Chúng buông tay không hẹn mà cùng lúc nên cả ba con đều nhuộm lông với lớp mỡ cặn dưới đáy hũ… mà chỉ con mèo mới đủ sức làm ngã hũ mỡ đó thôi!

Đời là con chuột thật chí lý. Nhưng chỉ còn có tôi từ một xóm quê mùa ngồi nhớ anh Năm vào một sáng thu về nơi chân trời góc biển xa tít quê xưa…

 

Phan

Tin tức khác...