Ðền bà Chúa Xứ

Bài -ảnh: Trần Công Nhung

Mặt trời đã lên cao, đường ra đền Bà Chúa Xứ, xe lôi, xe đò, chạy liên tục, tưởng như đường một chiều. Hai bên là kênh lạch, rải rác có nhà dân. Cư dân tập trung đông nhất dọc theo kinh Vĩnh Tế. Nhà cửa kiểu tạm bợ, chỉ một vài nhà gạch lợp ngói, còn thì toàn lá dừa nước. Quãng đường ngang qua Miếu bà Chúa quả thật náo nhiệt. Hàng quán, nhà trọ liên tiếp nhau, họat động ngày đêm không nghỉ.

Sự tích bà Chúa Xứ: Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà được dân địa phương phát hiện trên đỉnh núi Sam, thời ấy thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Ðốc, tỉnh An Giang. Theo lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, 9 cô gái đồng trinh đưa tượng xuống và người dân đã lập miếu thơ.ø
Năm 1824 kênh Vĩnh Tế hoàn tất Thoại Ngọc Hầu về đây trấn nhậm. Tương truyền rằng vị quan này cùng vợ là bà Châu Thị Tế đã có công lớn trong việc xây dựng miếu. Nguyên thủy miếu đơn sơ bằng tranh tre lá nứa.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng, mái ngói âm dương. Năm 1965, hội quý tế cho xây rộng nhà khách và làm hàng rào tòa chánh điện. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay. Người thiết kế miếu Bà là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng. Lúc bấy giờ kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái ba tầng lầu, lợp ngói ống màu xanh, góc mái vút cao dáng mũi hài. Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện nét nghệ thuật Ấn Ðộ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc lộng, tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi rực rỡ vàng son. Ðặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà và bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên.

Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là “ngôi miếu lớn nhất Việt Nam.”
Sau nhiều lần trùng tu Miếu bà Chúa Xứ khang trang rộng lớn, không còn sơ sài nhỏ bé như thưở ban đầu, từ đó khách cúng viếng thường gọi là Ðền bà Chúa Xứ. Quần thể đền bà Chúa kết hợp với cảnh quan kênh Vĩnh Tế, Núi Sam khiến cả vùng Châu Ðốc An Giang nổi tiếng về du lịch.
Vào dịp lễ hội hay ngày vía Bà khách thập phương đi lễ Ðền đông như Tết. Tôi vất vả lắm mới chen vào được trong chánh điện. Ðủ các hạng người, đủ các lớp tuổi, chen cứng như nêm. Tôi cầm mấy cây nhang cứ phải lấn từng tí. Tượng Bà ngồi uy nghi trên bàn thờ cao, da mặt nâu đen, xiêm y rực rỡ. Vòng vàng đeo khắp người. Chỉ mấy phút, tôi cảm thấy ngộp thở, khói nhang mịt mù, tiếng khấn vái rì rầm như tiếng cầu kinh. Mâm quả không có chỗ đặt cứ phải đội trên đầu. Không có chỗ lạy, cũng không vái, ai nấy đưa nhang thẳng lên trời mà lắc. Nhiều bà muốn bày tỏ lòng thành, đốt nguyên cả bó nhang. Hàng trăm người mỗi người thỉnh nguyện một điều, không biết Bà Chúa có nghe được hết không. Tôi phải tìm đường lui, sợ phát hỏa là tiêu cả đám. Không sao chụp được hoạt cảnh đặc biệt này. Tôi hỏi một người đứng bên ngoài:

– Những vòng vàng trên tượng Bà thật hay giả, thưa bác?
– Người ta cúng vàng thật nhưng đó là vàng giả.
– Thế vàng thật ai cất?
Ông khách làm thinh và chỉ tôi qua các phòng bên cạnh, nơi có những chiếc tủ lớn, cất giữ xiêm y châu báu khách thập phương cúng Bà. Nghe nói ca sĩ Hùng Cường, sau chuyến vượt biển thành công, có gởi về cúng một bộ áo đắt tiền. Dư luận cho rằng Bà rất linh, cứ thành tâm cầu, là mãn nguyện mọi chuyện. Ngoài Bắc có đền Bà Chúa Kho, khách đến lễ, xin vay tiền làm ăn, cuối năm cúng trả Bà. Tuy làm giàu bằng vàng thật nhưng trả thì bằng vàng mã. Vay mượn dễ như vậy nên thiên hạ ùa nhau đi vay. Con buôn đồ cúng lại được dịp kiếm sống. Nếu dựa theo khoa học hay giáo lý nhà Phật thì rõ là toàn chuyện huyễn huyền. Nhưng nếu dẹp bỏ thì biết bao nhiêu người đói khổ theo. Một khía cạnh tế nhị trong đời sống hằng ngày, khó loại trừ. Tâm lý chung, người dân muốn sống trong cảnh nửa thực nửa hư để tự an ủi, để có niềm tin và cũng để tự đánh lừa mình. Tại các nước Tây phương hình thức mê tín ít phổ biến nhưng mánh lới lường gạt bằng quảng cáo lại rất tinh vi. Và cho dù biết là “xạo” cũng không ai nói. Cạnh tranh thương mại nhiều khi cũng muốn duy trì tình trạng mập mờ để kiếm lợi. “Ðục nước béo cò”. Ai nhầm nấy chịu.

Về đến Châu Ðốc, ai cũng nghe chuyện Nhà Mồ Ba Chúc, nơi quân Polpot đã giết hàng ngàn người Việt, đàn bà con nít cũng không thoát. Tôi hỏi đường để đi Ba Chúc. Ði Ba Chúc mất chừng 2giờ đồng hồ. Ba Chúc là xã biên giới Việt Miên, đã bị quân Polpot tràn qua chiếm năm 79. Hồi đó tôi còn trong trại A30. Cả trại học tập đề tài: “Biên giới Tây Nam của Tổ Quốc bị xâm lăng”. Dù không biết rõ thực hư ra sao nhưng mọi người tù đều sôi sục tỏ niềm căm phẫn. Một anh cao hứng (xạo) giơ tay phát biểu: “Ðề nghị Ban cho tôi ghi tên qua đánh Polpot”. Anh quản giáo làm ngơ nói qua chuyện khác. Ðiều chắc chắn, nếu cho anh đi qua Cambodia, anh sẽ qua thẳng Thái Lan không hẹn ngày về. Mà quả thế thật, năm sau ra ở trại Kim Liên, khu kinh tế mới dành cho những tù học tập tốt được tạm tha nhưng không dám thả về đồng, anh đã nhẹ bay về Sài Gòn sau đó tìm đường vượt biển.

Từ đền Bà Chúa Xứ trực chỉ hướng Tây, con đuờng tráng nhựa không rộng lắm chạy thẳng tắp băng qua những đồng ruộng, thôn xóm. Có chỗ hai bên lộ toàn lều tranh lụp xụp cất sơ sài. Ðến gần biên giới, gặp một ngã ba, đây là con đường đất, rẽ phải đi về Ba Chúc. Ðường đi bây giờ đầy bụi bặm, trời nắng bốc lửa. Một vài nông dân đang cày ruộng, cách ăn mặc trông như người Miên. Chiếc cày của họ cũng lạ, các nơi khác bắp cày thẳng như cây cột, ở đây lại cong vòng lên. Quang cảnh vùng biên giới có hai đặc điểm, những ngôi chùa kiến trúc theo kiểu Miên, màu sắc rườm rà, hoa văn tỉ mỉ. Những cây thốt nốt, cùng họ dừa, lá giống lá kè, bung đều chung quanh ngọn, không thả thòng xuống như dừa. Thốt nốt mọc thành cụm rải rác giữa đồng ruộng trông rất lạ mắt. Ðường thốt nốt màu vàng mỡ gà, không ngọt đậm như đường mía, có thể ăn như một thứ kẹo rất ngon.

Nhà mồ tập thể được xây cất tươm tất ngay trung tâm xã. Các nhà nhân chủng học thế giới, đã đến giúp phân loại và xếp sọ nạn nhân theo tuổi tác, phái tính. Hàng ngàn chiếc sọ được xếp trong một nhà mồ bằng kính. Tại ngôi chùa chính của xã, một người thoát chết kể cho tôi nghe:
– Lối giết người của Polpot rất dã man, chúng nắm chân trẻ con vung lên đập vào tường, người lớn thi bắn, chém. Ở đây đồng bào bị giết vô số kể.
– Không có cách gì tự vệ hoặc chạy trốn sao?

– Lúc nghe lính Polpot tràn qua bắn giết, đồng bào cứ nghĩ vào chùa là chắc ăn. Ở ngoài sợ nó nghi là bộ đội. Ai dè…
– Thế lúc đó không có bộ đội ở đây sao?
– Dạ có đoàn quân nào đâu, mấy anh du kích xã ăn thua gì. Khi bộ đội kéo đến thì chúng rút về Miên cả rồi.
Nỗi thống khổ của chúng sanh thì không kể sao cho hết. Dù vô chùa hay có nằm ngay trong bình bát của ngài Mục Kiền Liên cũng chịu thôi. Phật không phải vị thần toàn năng cho nên không sao đỡ được nghiệp báo của chúng sanh. Ðiều rất thông thường mà ít ai chịu hiểu, ăn uống không kiêng cử, đến khi đau ốm lại kêu réo cha mẹ.

Cứ xem trên bản đồ thì miền nào cũng đẹp như nhau nhưng thực tế thì cách biệt muôn trùng. Tôi đã đến tận rìa Tây Nam của Tổ Quốc, một địa phương khô cằn, nghèo nàn. Ðồng bào nơi đây đã bao đời cực khổ, nay vẫn còn tiếp tục lầm than.

Trần Công Nhung

_________________________________

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
6357 E. Mono St. Fresno, CA. 93727
email: trannhungcong46@gmail.com
tel.: (816) 988-5040

Tin tức khác...