Ðám cưới người Dáy

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Sinh hoạt chung chung của người “Dân Tộc” tôi biết đã nhiều, chụp đã nhiều, dự lễ cưới thì mới lần đầu. Ðây là mục khá hấp dẫn. Trong chương trình lễ xuống đồng, khi nghe đến tuồng diễn đám cưới ngưới Dáy, tôi vội chạy đến khoảng đất đồng bào đang chen nhau xem đám cưới.

Trên cao thứ gì cũng thấy, xuống dưới người là người, ai cũng chen đứng trên bờ ruộng cho dễ nhìn phía trước, tôi chui đại qua đám người H’Mong vào trong. Giữa đám ruộng có chiếc bàn dài, trên để một chậu nước mấy thứ lặt vặt, có hai chị ăn mặc theo y phục lễ hội người Dáy cầm dây băng đỏ căng phía trước bàn. Phía sau chừng mươi người áo quần màu sắc thật tươi, riêng một cô trẻ đẹp, mặc áo xanh dương không được nổi nhưng có dây choàng đỏ qua vai, người ta bảo: “Cô dâu”… Có lẽ đúng, thấy cô e thẹn (dù chỉ đóng kịch) cúi núp sau mấy cô kia. Ðấy là nhà gái. Tôi đưa máy rà theo tìm khuôn mặt cô dâu mà mãi không được. Cô dâu không sắc sảo nhưng đậm đà, cười rất duyên dáng.
Từ ngoài xa có tiếng kèn “phường bát âm”, một đoàn 20 người vừa đàn ông đàn bà, y phục không đồng nhất, phụ nữ áo màu, nam thì ăn mặc kiểu Tây, giày quần vợt (tennis). Hai người thổi kèn dẫn đầu, kế là chú rể, có phụ rể bên cạnh che dù, chú rể cũng âu phục bình thường, khác mỗi dây choàng đỏ như cô dâu. Tiếp theo là mấy bà đi họ, màu áo tươi rói, màu nguyên thủy quen thuộc: Xanh lam chàm tím… sau cùng mấy chú tiểu đồng và một bà quải gánh lễ vật.

Tiếng kèn tò te đưa đám rước đi quanh một vòng trong hàng rào người xem, rồi từ từ tiến về họ nhà gái. Phía cô dâu, mọi người trong tư thế đón tiếp nhà trai. Tiếng kèn chấm dứt khi họ trai đến ngoài “ngõ”, rồi lễ vật (tượng trưng) bày lên bàn: Hai quả bánh (chưng?) có hai gói giấy đỏ bên trên (hộp nữ trang?) một chai rượu.
Không biết hai bên có trao đổi gì không, rồi nhà gái dùng một chổi đót nhỏ nhúng nước trong chậu thau, vẫy vào đoàn người bên họ trai. Kế đến, nhà gái bắt đầu hát, tiếng hát nghe như kể lễ, không hiểu nói những gì, bên đàng trai đáp lại. Ðây là mục “hát đố”, nhà trai phải đáp được mới cho rước dâu.

Trong lễ cưới người Kinh không có mục “văn nghệ” này. Dân ca người Kinh rất phong phú, sinh hoạt nào cũng có, tại sao trong cưới hỏi lại không. Tôi nghĩ rất nên có mục này, nó vừa vui, vừa làm cho buổi lễ thêm sinh động… Sau 75 đã có một thời gian làm phó nhòm chui, chụp nhiều đám cưới, tôi thấy đa phần ý nghĩa chỉ mô phỏng ước lệ, nặng nề gò bó, khiến đôi khi cô dâu chú rể lúng túng cứng đơ, rất tội nghiệp.

Sau phần “hát đố”, nhà gái mời rượu. Trong đám cưới người Kinh, chú rể mời rượu cả “quan viên hai họ”, và người Kinh uống rượu bằng chén chung (nhỏ xíu), ở đây dùng cốc uống bia, không hiểu thực sự trong lễ cưới thì thế nào.
Ðến giờ rước dâu, cô dâu được trùm đầu bằng tấm vải đỏ lớn do mấy bà nhà trai mang đến. Một chị nhiếp ảnh vội la lên: “Từ từ cho chụp cái”, tôi cũng lăm le chụp chân dung cô dâu nên vội nhoài ra bấm, nhưng không kịp cho một tấm ảnh đàng hoàng, cô dâu đã phủ đỏ nửa thân người. Có lẽ nhà trai không muốn cô dâu thấy đường trong lúc về nhà chồng để tránh khi có chuyện “cơm không lành canh không ngọt”, tìm đường bỏ về nhà cha mẹ đẻ. Tục lệ cũng hay, đã xuất giá thì tòng phu, tòng phu thì không nên lấm lét nhìn lui…
Họ nhà trai quay ra, hai ông thổi kèn dẫn trước, thứ tự đám rước y như lúc đến. Cô dâu không khoác tay chú rể mà được một bà cõng đi phía sau, một hình ảnh khá đặc biệt. Cũng không thấy đàng gái đưa dâu như trong lễ cưới người Kinh. Tôi theo sát đám rước, chưa chụp được hình cõng cô dâu thì người đàn bà đã thả cô dâu xuống thở hổn hển: “Cô dâu béo (mập) nặng lắm”. Trong lễ rước dâu thật, chắc phải tìm người cân lượng tương xứng, nghĩa là phải cõng cô dâu về tận nhà chứ không bỏ giữa đường được. Rước dâu đi một vòng quanh đám ruộng lớn cho đồng bào xem rồi giải tán. Chỉ là màn trình diễn, nhưng cô dâu chú rể (giả) cũng tỏ ra rất thích thú, người xem cũng hào hứng như thật.
Trong khi diễn ra lễ rước dâu, nhà gái cho người đi quệt phẩm đỏ lên mặt bất cứ người đàn ông nào hiện diện trong buổi lễ. Ðây là dấu hiệu chung vui và ai được quệt màu tức là có người (nữ) để ý. Lúc đầu tôi phải chạy trốn nhưng khi hiểu ra thì cũng vui vẻ. Cái cô bưng chén màu, quệt hết người này đến người kia, có ông không thích bỏ chạy, có ông lại bị quệt hai ba lần.
– Ðấy là nước gì vậy?
– Phẩm đỏ pha rượu.
– Một quệt thôi.
– Nhiều tốt chứ. Ðược nhiều cô để ý, không sao đâu.
Một cô đã cõng không nỗi, chi cho nhiều. Tôi lãnh một bệt màu trên má, đúng mùi rượu bay nồng, tôi đưa máy cho chị nhiếp ảnh nhà báo bấm giùm một tấm kỷ niệm. Thấy có cô “sơn nữ” đẹp đẹp, tôi xin chụp tấm chân dung nhân thể hỏi thăm:
– Lúc nãy trong lễ rước dâu có người cầm chổi vẫy nước vào nhà trai nghĩa là thế nào hả cô?
Cô gái nhìn tôi cười tưởng tôi hỏi trêu, vì bao nhiêu người đi xem có ai thắc mắc đâu.
– Tôi hỏi thật để viết bài đăng báo, cô giải thích giùm.
Cô gái vui vẻ tỏ ra hiểu chuyện:
– Tục lệ người Dáy, họ nhà trai phải được nhà gái rửa sạch bụi đường trước khi nạp lễ và làm các thủ tục khác.
– Ðấy là nước thường hay có gì đặc biệt?
– Nước suối thôi.
– Tục lệ cô dâu phải được cõng về nhà chồng, đường xa làm sao một người cõng nổi?
– Nhiều người thay nhau, nếu xa nữa thì đi ngựa và ngựa có người dắt.
Chưa kịp hỏi thêm cô Dáy đã nhập bọn với bạn kéo nhau đi, tôi quay qua một chị đứng cạnh:
– Tục cưới vợ của người Dáy có nhiều lễ không chị?
– Nhiều lắm, đây chỉ diễn đơn giản thôi. Trước hết là lễ đi xem mặt cô dâu, rồi lễ ra mắt, lễ hỏi, lễ rước dâu… còn nhiều thứ rắc rối lắm, bác phải hỏi mấy người lớn mới biết đươc.
– Trước khi ra mắt cô dâu, hai người chưa biết nhau à?
Chị Dáy cười thật thà:
– Ðấy là lễ, chứ có khi chúng đã ngủ với nhau rồi .
– Thế thì chẳng khác người Kinh nhỉ?
– Thế thôi.
– Ở đây “diễn tuồng”, không thấy có tiệc tùng ăn uống, đám cưới thật thì sao?
– Ăn chứ, còn ca hát nhẩy múa, vui lắm. Tục lệ cưới hỏi còn nhiều thứ, bác phải vào bản gặp người già mà hỏi mới biết được. (*)
Lễ hội như vầy mà diễn ra dưới xuôi thì đơn giản thật, nhưng đây giữa cảnh núi rừng ruộng đồng hoang dã lại hay, người xem hội không phải hàng lối, ngồi trước ngồi sau. Mọi ngườiù tự do tìm chỗ xem. Trong khi xem lại ăn uống quà bánh, mía chuối, xả rác thoải mái. Một đời sống không có gì gò bó khuôn mẫu, chỉ có mấy “bài diễn văn” là đúc sẵn. Lễ hội nào cũng bấy nhiêu chuyện, người nghe hiểu hay không, điều đó không cần, quan trọng là đã “hoàn thành kế hoạch ”, nhân dân phấn khởi “mừng xuân mừng đảng” là được rồi.

Trần Công Nhung
_______________________________
(*) Thường thì người Dáy có hai lần mai mối, Ông bà mai thứ nhất đóng vai cầu nối giữa hai gia đình và đại diện nhà trai bàn việc cưới xin. Ðàng gái sẽ đưa ra thách cưới rất cao:
1. 250kgs thịt lợn
2. 90 cặp gà, vịt
3. Bạc trắng 120 đồng
4. Rượu200 lit
Ông bà mai sẽ phải khéo léo ăn nói để xin giảm lễ thách cưới xuống:
1. Thịt lợn 200 kgs
2. Gà, vịt 60 cặp
3. Bạc trắng 40 đồng
4. Rượu 100 hoặc 120 lit
5. Gạo tẻ, nếp vừa đủ
Lễ vật được đem sang nhà gái. Nhà trai cử 2 đầu bếp sang nhà gái để nấu nướng suốt thời gian diễn ra đám cưới. Nhà trai còn phải mua sắm cho cô dâu một số đồ kỷ niệm tư trang để làm vốn sau này..
Chăn, màn, quần áo truyền thống
2. Ðôi hoa tai bằng vàng
3. Vòng đeo tay bằng bạc
4. Vòng đeo cổ bằng bạc
5. Tiền mặt VNÐ tùy tâm
Ðến ngày cưới thì thay ông bà mối khác, đôi khi cũng có gia đình giữ lại ông bà mai ban đầu. Nhà trai cử ba cặp đại diện chính đi đón dâu, một số bạn bè và người thân đi cùng. Nhà trai đến nhà gái với đủ lễ vật, trình bày lý do rồi xin đón dâu. Bà mối chính thức hôm nay sẽ phải cõngcô dâu ra ngoài, sau đó những phụ nữ bên nhà trai thay nhau cõng cô dâu về nhà chồng. Nếu đường xa, cô dâu được cưỡi ngựa, có người dắt.

TIN SÁCH
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
PO.Box 8391 Fresno, CA. 93747
E-mail: trannhungcong46@gmail.com
Tel: (816) 988-5040

Tin tức khác...