Chùa Nôm

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Chùa Nôm nằm trong một quần thể di tích lịch sử gắn liền với quá trình thành lập làng Nôm, đó là đình Tam Giang thờ vị tướng thời Hai Bà Trưng, đó là cây cầu đá gồm 9 nhịp đầu rồng đã tồn tại mấy trăm năm. Cây cầu đá có lẽ là duy nhất còn lại trên đất Hưng Yên. Lần tu tạo gần đây vào khoảng năm 1915, cầu rộng chừng 2m với 9 nhịp, đầu 9 cột đỡ ngang có trang trí vân mây. Không rõ cầu dựng năm nào nhưng qua những tên xa xưa của làng: Kiều Tùng, Ðồng Cầu rồi Cầu Nôm cho thấy cây cầu có tự xưa lắm, từ thời mới lập làng.

Qua cầu Nôm chỉ một đỗi là thấy chùa Nôm với cổng tam quan sừng sững. Ngay trước chùa là chợ Nôm, mấy dãy nhà xây gạch đỏ bình dị sơ sài. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Trong quy hoạch làng Việt cổ đồng bằng Bắc bộ, chợ (và chùa) bao giờ cũng nằm bên ngoài làng. Ðó là “đặc khu mở” của một làng Việt trong tư thế phòng thủ, khép kín (1). Chợ nằm trên bãi đất rộng chừng 2 mẫu Bắc Bộ trước cửa chùa, dưới tán 4 cây cổ thụ (gạo, đa, muỗm). Chợ họp tháng 12 phiên, vào các ngày có số cuối là: 1,4,6,9. Xưa kia, chợ là một trong những trung tâm điều tiết nhịp sống của một làng buôn đồng nổi tiếng:

 Ðồng nát thì về Cầu Nôm

Con gái nỏ mồm về ở với cha

Hoặc:

Hỡi cô má đỏ hồng hồng

Cô đi lấy chồng cô bỏ quê cha

Ðến khi cô trở về già

Quê chồng cô bỏ quê cha cô về

 

Tam quan chùa Nôm không xây như đa số các chùa khác mà làm toàn gỗ, kết cấu như ngũ môn. Phần chính của tam quan do 4 trụ gỗ cao lớn chia làm 3 khung, dạng cổ lầu hai tầng tám mái. Chỉ một cửa khung giữa, mở khi có lễ lạc, ngày thường có hai cửa phụ nhỏ cho khách vảng lai.

Bước qua cổng chùa rộng lớn là không gian tĩnh lặng và thanh tịnh, người ta có cảm giác như đang bước vào cõi Phật. Tam quan chùa Nôm nằm dưới những bóng cây cổ thụ tạo nên vẻ trầm mặc, thanh bình. Bước qua tam quan là lầu chuông và lầu trống nằm đối xứng hai bên. Cạnh lầu chuông là một hồ nước trong xanh như mở ra thêm không gian tĩnh mịch cho ngôi chùa

Chùa được xây dựng từ năm nào không ai rõ, duy có hai tấm bia lớn đặt sau hậu cung ghi lại những tư liệu quý: Thời Hậu Lê, đời Chính Hòa, năm Canh Thân (1680) sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho xây dựng lại chùa này. Tiếp theo vào các năm Nhâm Thân (1692), Giáp Tuất (1694), Ðinh Sửu (1697), Mậu Dần (1698), Kỷ Mão (1699) tiếp tục tu sửa lại tiền đường, hậu cung và hành lang. Năm Chính Hòa thứ 21 (1700) chùa được sửa lại các cột trụ, tạo thêm tượng, mở rộng sân chùa. Năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) chùa xây thêm gác chuông và mở rộng hai dãy hàng lang.

Thời nhà Nguyễn, đời vua Thành Thái năm thứ 11 (1899) chùa Nôm lại được trùng tu thêm một lần nữa. Qua bao biến cố, chùa được trùng tu nhiều lần mới trở thành ngôi chùa khang trang ngày nay.

Theo truyền thuyết, xưa kia chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ tươi tốt trầm mặc, ngôi chùa đượm vẻ linh thiêng, nên có tên “Linh Thông cổ tự”.

Chùa nằm trong một quần thể di tích lịch sử gắn liền với quá trình thành lập làng Nôm. Ðó là đình Tam Giang thờ vị tướng thời Hai Bà Trưng.

Ðiểm hấp dẫn du khách của chùa Nôm chính là khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng, rộng rãi với nhiều công trình kiến trúc đặc sắc. Ngoài hồ nước nằm bên cạnh lầu chuông, chùa Nôm còn một hồ nước có Lầu Quan Âm giữa hồ như một đài sen nguy nga, lộng lẫy. Dẫn vào lầu Quan Âm là một cây cầu đá hình cánh cung mô phỏng cây cầu Nôm cổ. Phía trước cầu là hai tháp Cửu phẩm Liên hoa bằng đồng, tạo thành một điểm nổi bật trong toàn cảnh của chùa.

Chùa Nôm, còn khu vườn mộ tháp bằng đá ong khá đặc biệt gồm một tháp lớn 5 tầng và 6 tháp 3 tầng, những tháp đá tuyệt đẹp còn nguyên vẹn. Trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, vườn mộ tháp vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Việc thờ phượng ở chùa Nôm cũng tương tự các chùa miền Bắc, nhưng gọn gàng hơn. Ngoài các ban thờ Phật, Bồ Tát, còn thờ Thánh Mẫu, ban Triều Trần, ban Công Ðồng, ban Hộ Pháp…Có một điểm chung của chùa đền miền Bắc là trên án thờ lúc nào cũng có bia lon, nước ngọt …khác với chùa miền Nam không bao giờ…

Ðiều quí giá nhất ở chùa Nôm là số lượng (122) tượng đất cổ như tượng Tam Thánh, Tam Thế, Chuẩn Ðề, Bát bộ Kim Cương, Thập bát La Hán… có từ trăm năm tuổi. Dọc hai bên hành lang có đến 20 pho tượng lớn nhỏ, thể hiện tâm thể của người hành đạo.

Phía sau hậu cung, trong hang động, vách đất của dãy núi nhân tạo, những bức tượng đất mô tả các vị Thánh đang ngồi tham thiền, tu tập.

Các pho tượng ngồi, đứng trên một giá đỡ bằng đất với đủ các tư thế và vóc dáng: mập, gầy, hiền, dữ, dân dã, thần tiên…với nhiều kích cỡ khác nhau. Có những pho tượng nhỏ bằng nắm tay, ngược lại cũng có pho tượng khổng lồ cao đến 3m.

Các pho tượng cổ tại chùa Nôm có sức biểu cảm cao về nội tâm, chứng tỏ xưa kia, Phật giáo rất gần gũi với đời sống con người Việt Nam.

Tuy nhiên, điều đáng nói, không phải là số lượng tượng đất mà là độ bền vững không tưởng của chúng. Trải qua nhiều trận lụt lịch sử, các pho tượng vẫn còn nguyên vẹn và hiện chúng vẫn là một ẩn số mà các nhà khoa học chưa giải thích được. Theo thầy trụ trì, những năm 1998 chùa Nôm dột nát lắm, mưa lớn, nước trút lên đầu các pho tượng, đồ che mưa cho tượng không đủ, thế nhưng toàn bộ số tượng đất vẫn không bị ảnh hưởng bởi mưa gió. Theo thầy, lịch sử những pho tượng còn nhiều bí ẩn hơn cả chùa Nôm. Việc tu sửa chùa Nôm còn được nhắc đến trong một số văn bia, nhưng các pho tượng đất thì tuyệt nhiên không được nhắc đến và cũng chẳng ai biết rõ.

Hầu hết tượng chùa Nôm chưa từng được tu sửa, nay lớp sơn phủ ngoài vẫn còn nguyên bản như xưa. Một số cứ liệu lịch sử còn ghi lại: Trận lụt năm 1945 do vỡ đê sông Hồng và một số con sông khác ở miền Bắc đã nhấn chìm toàn bộ làng Nôm, nước ngập đến nóc chùa Nôm, làm trôi mái chùa, không ai tin những pho tượng đất sẽ còn tồn tại sau cả tháng bị ngâm nước. Nhưng không ngờ khi nước rút đi, ngôi chùa đổ vỡ loang lổ mà những pho tượng đất không một chút hư hao. Lấy nước dội lên các pho tượng, bùn trôi đi, tượng đất lại hiện ra lớp sơn sáng bóng như mới. Tiếp đó là trận lụt năm 1971 rồi trận lụt năm 1986, tượng đất chùa Nôm bị ngâm nước nhiều ngày nhưng cũng không một tượng nào hư hỏng. Nhiều nhà nghiên cứu gần đây về chùa Nôm tìm hiểu vẫn chưa lý giải được điều này. Ðến nay các nhà khoa học cũng chưa biết được những pho tượngchùa Nôm đã tồn tại bao nhiêu năm, có người bảo vài trăm năm, có người khẳng định tượng đất chùa Nôm đã có từ nghìn năm. Riêng tượng Thập bát La Hán ở hai dãy hành lang chùa có nét tiêu biểu rõ rệt về nghệ thuật điêu khắc của thế kỷ từ X – XIII. Như vậy có thể tượng đất chùa Nôm hiện nay đã được các nghệ nhân tạo tác từ thời Lý- Trần, đã trên dưới 1.000 năm. Ðây là những di sản vô cùng quý hiếm. Ðược biết, cùng với trên 100 pho tượng đất nghìn năm, chùa Nôm hiện nay còn lưu giữ được tòa tượng Cửu Long Phật Ðản bằng đồng có phủ một lớp ngoài bằng vàng.

Từ năm 1998 đến nay, chùa Nôm được trùng tu, tôn tạo khang trang nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ hài hòa với khung cảnh chung của làng Nôm.

Lợi thế của chùa chiền miền Bắc là khung cảnh thiên nhiên, phần lớn chùa dựng bằng gỗ, nên chùa nào cũng có dáng thanh tịnh trang nghiêm. Nhưng, theo tôi, lối bài trí nội điện, cách cúng bái khinh kệ thì đượm chất mê tính, rườm rà. Phật tử lễ chùa là cốt cầu xin bổng lộc chứ không cầu Pháp. Ðiều này thể hiện rõ nét qua sự nhang đèn lễ lạy và nhét tiền lên tay tượng.

Có lẽ còn lâu nữa người đi lễ chùa mới nhận ra ý nghĩa câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

 

Trần Công Nhung

 

________________________________

(1) Qui hoạch làng – chùa – chợ nói lên ý nghĩa phòng thủ của người xưa có hơi lạ, “Thị tại mông tiền náo” mà lại đặt trước cửa Thiền, liệu có hợp lý chăng. Có lẽ ngoài chùa Nôm không chùa nào chấp nhận nguyêntắc này.

Tin tức khác...