Chẳng Có Gì Thay Đổi

Lời người dịch: Có những cảnh đời mà người ta sẽ khó hình dung ra được nỗi cơ cực nếu không sống nơi đó hoặc ít nhất cũng được nghe người đã trải qua kể lại, và những người bị giam cầm trong cảnh đời ấy luôn mơ ước một đổi thay nhưng rồi Chẳng Có Gì Thay Đổi hết. Delia de Santis vẽ lại cho chúng ta kiếp đời ấy trong truyện ngắn Nothing Changes. Nothing Changes trích trong tuyển tập In all Directions, gồm 16 truyện ngắn của những thành viên trong Hiệp Hội Các Tác Giả Canada. Fitzhenry & Whiteside Ltd. xuất bản năm 2000. Delia de Santis chào đời ở Italy, định cư ở Canada từ năm 13 tuổi, là tác giả của Fastforward and Other Stories xuất bản năm 2008.

Ông già ngủ dưới bóng cây. Một cổ thụ già. Thường thì khi chiều xuống, ông mới nằm ngủ dưới bóng cây, và đôi khi luôn cả buổi tối khi trời nóng đến mức không chịu nổi. Ông ít khi chợp mắt vào buổi sáng. Nhưng hôm nay ông cảm thấy như mọi chuyện đều bắt đầu một cách khác thường. Chân tay ông nặng nề, trái tim ông yếu ớt; đầu óc ông u ám. Ông phải nhắm hờ con mắt.

Và ông chìm ngay vào chiêm bao. Những chiêm bao của ông thường huyền ảo; đất đai và khung cảnh – của những mùa màng khi cây lá xanh hơn – trôi dật dờ; và những con người hiền hậu hơn vây quanh cuộc sống ông. Thỉnh thoảng còn có bầy gia súc, mấy con bò, với con lừa, con cừu. Ông không bao giờ nằm mơ thấy vợ ông.

Dù đôi khi tuột ra khỏi cơn mơ, lúc vẫn còn vật vờ giấc ngủ, ông có thể trông thấy bà bên cửa sổ, canh chừng ông. Rồi ông cố tình nhắm mắt lại thêm một lúc nữa, hy vọng bà sẽ lủi vào nhà, bởi đa phần khi thấy bà ở đó thì không chỉ là giấc mơ, mà là cái gì đó như giác quan thứ sáu, mắt nhìn của trí tưởng.

“Ông già,” bây giờ ông nghe tiếng bà réo. “Ông làm gì đó? Mới mười giờ sáng mà ông đã ngủ đấy à? Có đi ra mồi bếp lửa lên không! Tôi còn phải đem đồ ăn ra đồng cho người ta – ông quên rồi hả?”

Ôm một bó củi vụn trong tay, ông cố lê cái thân thể già nua trên những bậc thang lên lầu hai của căn nhà, bởi chuồng gia súc thì ở dưới. Ông không thấy đau lưng, đúng ra là không đau nhức thêm chỗ nào khác. Cái đau đã là một phần của thân xác ông bao nhiêu năm trời rồi. Bao nhiêu năm… và ông trời còn tiếp tục bẻ cong thân thể ông nhưng vẫn khéo léo không làm nó gẫy làm đôi, chỉ nắn và bẻ ông theo cái khuôn định sẵn, theo cái hình hài cong vòng lúc cuối đời.

“Đánh trứng đi,” bà nói, nổi nóng với ông. “Đánh! Tôi không đến muộn được đâu! Nhất là trong một ngày như hôm nay, khi mà chẳng cần quẹt que diêm cũng có lửa. Thế giới sẽ bốc cháy với cái mặt trời này…. đã vậy, bọn chúng nó còn ra đồng muộn – thành ra chúng nó phải làm nhanh cho kịp.”

Ông cầm cái nĩa, ngồi xuống đặt cái tô vào lòng, bắt đầu đánh trứng. Cánh tay ông yếu đuối, nhưng mà ông chỉ chiên trứng chứ đâu có làm bánh. Trứng thì phải đánh cho đều.

“Quậy đi!” Bà nói. “Ông sợ cái gì thế?”
Tay ông chậm lại. “Hôm nay thứ mấy vậy?”
Bà không thèm trả lời ông một lúc lâu. Nhưng sau khi lật miếng trứng chiên lên đĩa, bà ngừng một lúc, đứng thẳng người níu lấy vài giây đồng hồ nghỉ giải lao. “Rồi ông sẽ biết,” bà nói với ông. “Rồi ông sẽ biết.”

Ông nhìn bà xếp đồ vào cái giỏ cói: khăn trải bàn, nĩa, một cái khăn lau chén bát; tất cả những thứ bà đã sửa soạn cho bữa điểm tâm xế trưa quen thuộc. Bà thở hì hạch. Dù trẻ hơn ông đến bảy tuổi, bà cũng đã già. Ông sẽ làm gì đây nếu bà qua đời? Cầu xin trời đất nhân từ cho ông chết trước.

Bà không chịu dùng con lừa mà đội cái rổ mây trên đầu, bao nhiêu năm trời nay bà vẫn làm như thế. Đến giờ ông mới thấy lo là bà lỡ vấp phải hòn đá hay vướng phải sợi dây leo trên lối mòn nhấp nhô xuống dốc đồi.

“Hôm nay thứ mấy?” Ông lại hỏi lúc bà đội cái rổ lên đầu, và đứng thẳng người sửa soạn ra đồng.

“Đếm,” bà nói. “Ít ra cũng biết đếm một lần…”
Ngay cả trong cơn nóng giận bà vẫn giữ được thăng bằng.

Một giọt nước mắt vướng ở khóe mắt ông. Ông cảm thấy nó ở đó, như một hạt chuỗi mềm. Nếu ông cứ để mặc nó, nó sẽ vẫn nằm đó… và khi ông không còn nghĩ đến nó, nó sẽ lăn và biến đi, không làm ướt nổi những sợi lông mi thưa thớt trên mắt ông.

Mặt trời đã như quả bóng tóe lửa trên bầu trời, dù buổi trưa chưa tới. Ra đến đồng lúa mì, bà gần như ngã quỵ nhưng vẫn cố không để ai trông thấy. Cô con dâu chạy đến đỡ cái rổ trên đầu bà. Cô mang nó lại gốc cây, nơi mọi người đang ngồi, chờ.

Cái cây èo uột nhưng quanh đây chả còn cây nào khác. Chút bóng mát thưa mỏng vẫn còn hơn không có chút bóng mát nào. Không có nguồn nước nào quanh đó; không suối, không sông để người ta có thể đến để mà giải nhiệt. Bà có đem cho họ một bình nước, nhưng họ sẽ phải dùng để quét cho sạch bụi bặm bám đầy trong cổ họng và xoa dịu ít nhiều cơn khát. Chẳng ai hỏi hôm nay là thứ mấy. Như cái lão già ngu ngốc ở nhà.

Có tiếng xe hơi vọng lại từ con đường viền quanh thung lũng. Suốt buổi sáng chỉ có một chiếc xe vận tải chạy qua để đến thị trấn kế bên. Biết là còn quá sớm nhưng ai cũng nghểnh cổ nhìn. Mọi người xoay qua nhìn Letizia…
“Cái liềm,” chồng của Letizia bất ngờ nhảy chồm lên. “Cùn quá. Lạy Chúa tôi, mình không kiếm đâu ra được cái liềm sắc hay sao?”
“Ngồi xuống ăn đi, người ta ăn hết sạch đồ ăn bây giờ,” đứa con trai nói. “Tôi mới mài mấy cái liềm tối hôm qua. Mài tất cả. Cái liềm của anh có bị gì đâu.”
Letizia đặt tay lên thái dương, chạm vào chùm tóc vừa tuột ra ngoài khăn choàng. Cô không gài cụm tóc trở lại mà xoáy ngón tay cuộn nó, như se sợi chỉ.
“Tao sẽ chỉ cho mày cách mài lưỡi liềm,” Amedeo nói, tay chùi mồ hôi trên trán. Cơn giận làm da cổ hắn tím bầm.
“Tao sẽ đem cái đồ quỷ quái ấy về nhà tao chỉ cho mày xem. Tao sẽ cho mọi người xem!”
“Amadeo,” một gã đàn ông cùng xóm lên tiếng. “Mày đi đâu vậy? Chẳng thể nào thay đổi được gì đâu. Lưỡi dao sắc quá cũng đâu có tốt. Hãy nghĩ tới bàn tay mày bị cụt vài ngón xem… đổ máu thêm cũng chẳng lợi lộc gì…”
Nhưng không ai chặn Amedeo lại được. Hắn đã hùng hổ băng ngang cánh đồng, cái liềm vung cao như tấm biểu ngữ hoang dại trong tay.
“Cứ mặc kệ anh ấy,” đứa con trai nói. “Cứ để anh ấy đi. Mình đã làm hết cách rồi. Biết đâu như vậy lại hay.”
Letizia đứng dậy. Cô tháo cái khăn trùm đầu ra, chùi cổ. Mồ hôi chảy tuôn xuống ngực cô.
Cô lặng thinh. Cô chẳng bao giờ nói năng gì hết.
“Anh ấy sẽ trở ra đây lại thôi,” cô con dâu nói. “Amadeo sẽ trở ra lại.”
“Đúng vậy,” một người đàn bà – vợ ông hàng xóm – nói. “Ông ấy sẽ nguội bớt nhờ nước lạnh trong nhà.”
“Đúng vậy, cứ chờ mà xem,” cô con dâu nói.
Letizia ngẩng cao đầu, rảo bước men theo bờ ruộng. Đầu cô để trần và tóc cô xõa ngang vai. Cô buộc chiếc khăn quàng quanh hông… và lúc lắc thân người cho cái váy rộng và loe đu đưa từ trước ra sau, quét vào hai chân cô. Hình ảnh cuối cùng mọi người nhìn thấy là cô đá văng hai chiếc giầy ở chân xuống rãnh.
Vợ người hàng xóm nhìn quanh. “Mọi người thấy không? Có ai thấy hành động của con bé ấy không… nó lại còn ca hát nữa… Có ai nghe thấy cái cách ca hát của nó không…”
“Im miệng đi,” cô con dâu nói. “Cứ lo cái thân của mình đi kìa. Có thể nó làm chuyện ấy là cho tất cả chúng mình. Có thể nó làm cho chồng nó nữa đấy. Bởi vì làm sao vợ một tá điền dám từ chối đòi hỏi của ông điền chủ được chứ.”
“Một cú đá hậu,” vợ người hàng xóm lẩm bẩm, chị ta không nghĩ vậy.
“Nói… nói. Tụi mình chỉ nói giỏi. Nhưng mấy người có biết chuyện gì xảy ra ở làng bên khi năm gia đình bị đuổi nhà không? Họ phải xuôi nam lên núi, cào đá mà ăn. Ở đây đất tốt… nhà cửa thì như biệt thự, so với những thứ ngày xưa mình có. Người ta chỉ cần búng tay là mình lại không nhà không cửa ngay thôi.”
Hai người đàn ông im lặng. Mắt họ phủ đầy mây đen; khó lòng đoán được họ đang nghĩ gì.
Bà già thu gom mấy cái nĩa, xếp gọn cái khăn ăn. “Tôi sẽ làm thế chỗ con Letizia. Công việc này phải làm cho xong.”
“Mẹ không làm gì hết,” đứa con trai gắt. “Đừng cãi. Những ngày như hôm nay mình không muốn phải khiêng mẹ lên bờ, rồi ai sẽ là người chạy đi tìm bác sĩ, trong cái nắng như lửa này?”
“Đúng vậy, mẹ làm không được đâu,” cô con dâu nói. “Ngày mai Letizia sẽ về nhà… Amedeo cũng vậy.”
Về đến nhà, bà cụ cố ngủ nhưng mắt bà không nhắm lại được. Bà cũng không ngồi yên được trên ghế; bà không thể ngồi yên một chỗ. Bà cảm thấy tim mình đập thình thịch.
Bà bước đến bên cửa sổ, mở cái mành mành. Thong thả gỡ búi tóc, nới lỏng những sợi tóc thưa và bạc. Bà nhặt cái lược màu mật ong ở bệ cửa sổ lên, cầm nó trong tay, nhìn ông già đang ngủ dưới gốc cây cổ thụ. Bà nghĩ giả như bây giờ bà đặt tay lên trán ông, chạm vào ông một lần trước khi một trong hai người từ giã cõi đời thì sẽ cảm thấy như thế nào nhỉ.
Ông già nằm chiêm bao. Ông mơ thấy dòng sông hình cái liềm cắt cỏ. Dòng sông nhỏ, nơi cỏ tranh cháy nắng tắm trong nước mát, dọc theo hai bờ. Nhưng có phải đó là giấc chiêm bao không, bởi ông biết ông chưa ngủ hẳn. Đó thực ra cũng như một hình ảnh, một khung hình lóe lên cái thổ nhưỡng và cảnh quan có một bà cụ đứng bên cửa sổ, đang sắp sửa réo gọi tên ông.

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính

Tin tức khác...