Câu chuyện của hai Khôi nguyên Nobel Hòa Bình năm 2018

Sáng ngày thứ Sáu 5 tháng 10 tại Oslo, khi bà Berit Reiss-Andersen, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na uy công bố tên người được trao Giải Nobel Hòa Bình 2018 năm nay, có nhiều người thở dài và nhiều người thở ra.
Nhưng có lẽ số người thở ra đông hơn. Hai nhân vật đoạt giải năm nay không phải là đương kim Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Bắc Hàn.
(Chuyện dễ hiểu, chẳng có ai cấm cản gì trong việc đề cử người cho giải Nobel Hòa bình cả. Bất cứ người nào còn sống cũng có thể được đề cử, Trong quá khứ, Adolf Hitler, Stalin và Benito Mussolini đã từng được đề cử)
Việc tuyển chọn giải Nobel Hòa bình là một trình tự hết sức bí mật. Theo Ủy ban Nobel, giải năm nay có đến 331 đề cử, gồm 216 cá nhân và 115 tập thể.
Và trong danh sách những ứng viên rất có thể đoạt giải của các chuyên viên đánh cá của thế giới ở những hàng đầu tiên có Donald Trump và Kim Jong Un.
Hai nhân vật được Ủy ban Nobel trao giải Nobel Hòa bình năm 2018 là Bác sĩ Denis Mukwege, người Congo, và cô Nadia Murad, người Yazidi, Iraq, vì “các nỗ lực của họ đề chấm dứt việc sử dụng bạo lực tính dục làm vũ khí trong chiến tranh và xung đột võ trang.”
Denis Mukwege là một y sĩ giải phẫu và cô Nadia Murad từng là nô lệ tính dục của khủng bố IS.

Vị bác sĩ có phép lạ
Một trải nghiệm trong đời cách đây hơn 20 năm đã biến y sĩ phụ khoa Mukwege thành vị “Bác sĩ có Phép lạ” của các phụ nữ bị xâm hại ở Cộng hòa Dân chủ Congo.
Khi cuộc nội chiến ở Congo bùng nổ, Mukwege đang làm việc ở Lemera. Bệnh viện này bị tấn công, 35 người bệnh bị hạ sát ngày trên giường bệnh.
Ông lánh nạn sang Bukavu, thành lập một “bệnh viện”, “… một bệnh viện toàn bằng những lều vải…”
Kế hoạch nguyên thủy của ông cho bệnh viện này là để giúp các phụ nữ gặp các biến chứng trong khi sinh nở. Nhưng kế hoạch này đã nhanh chóng phải thay đổi khi ông nhận hàng loạt các bệnh nhân bị hãm hiếp tập thể, chẳng những thế, bộ phận sinh dục của họ còn bị phá nát vì bị chọc cây, thậm chí bị bắn vào.
Tại đó, Mukgebe đã điều trị cho một phụ nữ, ca bị hãm hiếp trong chiến tranh đầu tiên của ông.
Người nạn nhân khốn khổ đó không những đã bị hãm hiếp mà còn bị đạn bắn vào bộ phận sinh dục và đùi.
“Tôi nghĩ đó là một hành động dã man của chiến tranh, nhưng chấn động thực sự đã xảy ra ba tháng sau đó. Bốn mươi lăm phụ nữ đã đến với chúng tôi với cùng một câu chuyện, tất cả nói rằng: “Người ta vào làng tôi và cưỡng hiếp tôi, tra tấn tôi.”
“Những phụ nữ khác đến với chúng tôi với những vết phỏng. Họ kể rằng sau khi bị hãm hiếp, họ đã bị đổ hóa chất vào bộ phận sinh dục.”
Những phụ nữ nạn nhân đó đã làm thay đổi cuộc đời Bác sĩ Mukwege…
Một năm sau, khi cái nhà thương tạm bợ, tồi tàn bị phá hủy, Mukwege bắt tay làm lại từ đầu…
Panzi là một bệnh viện sản khoa, nhưng đôi khi 350 giường của bệnh viện chỉ toàn các nạn nhân là những phụ nữ bị hãm hiếp.
Công việc hàng ngày của ông rất đau lòng, khiến ông thường muốn bỏ cuộc. “…Tôi nghĩ rằng điều khó khăn nhất mà tôi phải đối phó trong nghề của mình là nhìn thấy những đứa trẻ bị hãm hiếp. Lần đầu tiên tôi thấy điều này là với một em bé 18 tháng tuổi, bộ phận sinh dục của cháu bị nát hoàn toàn. Đến độ tôi đã có lúc phải thốt lên ‘Tôi không thể.’ Nhưng tôi không thể bỏ cuộc.”
Cùng với việc chữa trị cho các nạn nhân phụ nữ và trẻ em gái, phẫu thuật tái tạo để sửa chữa những tổn hại trên thân thể họ sau khi bị hãm hiếp và bạo hành, Bác sĩ Mukgebe còn dấn thân trong cuộc chiến đấu chống lại tội ác của các lực lựợng vũ trang nhắm vào phụ nữ thường dân.
Ông tố cáo trước quốc tế rằng việc này nằm trong chiến lược mà hầu như tất cả các phe phái trong cuộc nội chiến giành phần đất vàng – theo đúng nghĩa đen, của Congo.
Cuộc xung đột ở Cộng hòa Dân chủ Congo không phải là giữa các nhóm người cuồng tín tôn giáo. Nó cũng không phải là xung đột giữa các địa phương. Đây là một cuộc xung đột gây ra bởi lợi ích kinh tế – và nó đang được tiến hành bằng cách tiêu diệt phụ nữ Congo.
Mukwege lên án: “…Đây không chỉ là những hành động bạo lực của chiến tranh, mà là một phần của chiến lược. Có những trường hợp mà nhiều người bị cưỡng hiếp cùng một lúc, công khai – cả một ngôi làng có thể bị cưỡng hiếp trong đêm. Khi làm điều này, họ (các thủ phạm) không chỉ làm tổn thương các nạn nhân mà cả cộng đồng, những người bị cưỡng bức phải chứng kiến.
Kết quả của chiến lược này là mọi người buộc phải chạy trốn khỏi làng mạc, từ bỏ ruộng đồng, tài nguyên, mọi thứ của họ. Nó rất hiệu quả.”
Để được các nạn nhân gọi là Bác sĩ của Phép lạ, ông Mukwege không chỉ chữa trị các thương tổn thể xác của họ. Ổng trình bày:
“Chúng tôi có một hệ thống chăm sóc từng giai đoạn cho các nạn nhân. Trước khi tôi thực hiện một phẫu thuật lớn, chúng tôi bắt đầu với một cuộc kiểm tra tâm lý. Tôi cần phải biết liệu họ có đủ sức lực để chịu được phẫu thuật không.
Giai đoạn tiếp theo, có thể sẽ là một phẫu thuật hoặc chỉ là sự chăm sóc y tế. Và tiếp đó là giai đoạn chăm sóc kinh tế- xã hội – hầu hết những bệnh nhân này không có gì, thậm chí không có quần áo.
Chúng tôi phải cho họ, phải chăm sóc họ. Sau khi được cho xuất viện, họ sẽ dễ bị tổn thương lần nữa nếu họ không thể tự nuôi sống chính họ được. Vì vậy, chúng tôi phải hỗ trợ họ về ở mức độ kinh tế – xã hội – ví dụ như giúp các phụ nữ lớn tuổi có được các kỹ năng mới hoặc đưa các thiếu nữ trở lại trường học.
Giai đoạn thứ tư là hỗ trợ họ ở cấp độ pháp lý. Thông thường các bệnh nhân biết kẻ tấn công của họ là ai và chúng tôi có luật sư giúp họ đưa sự vụ ra tòa.”
Vì công việc nhân đạo, và sự lên tiếng của ông, năm 2012, ông đã bị mưu sát.
Khi trở về Congo sau khi lên tiếng trước diễn đản Liên Hiệp Quốc về những tội ác mà ông mục kích, Bác sĩ Mukgebe thấy có năm người đang đợi trước nhà. Bốn người mang AK-47, người thứ năm mang súng ngắn.
Họ mở cửa xe, lôi ông ra ngoài. Một vệ sĩ của ông định can thiệp đã bị bắn chết. Mukwege ngã xuống đất.
Mukwege kể lại rằng ông không hiểu tại sao mình sống sót.
Sau cuộc tấn công, Bác sĩ Mukwege đã cùng gia đình chạy trốn sang Thụy Điển, rồi đến Brussels. Nhưng sau đó, chính các phụ nữ Congo đã thuyết phục được ông trở về.
Họ phản đối vụ ám sát ông với nhà cầm quyền Congo. Và họ gom tiền để giúp ông mua vé máy bay về nước.
Ông Mukwege cảm động trước những người phụ nữ nghèo khổ nhưng can trường đó, những người mà theo ông “là những phụ nữ không có gì, họ sống ít hơn một đô la một ngày. Chính vì thế sau cử chỉ đó, tôi không thể nói không. Và ngoài ra, chính tôi cũng quyết tâm giúp chống lại những tội ác, bạo lực này.”
Bác sĩ Mukwege trở lại Congo tháng 1 năm 2013. “Tôi được chào đón bởi những người phụ nữ, họ nói với tôi rằng họ sẽ đảm bảo an ninh cho tôi bằng cách thay phiên nhau bảo vệ tôi, với các nhóm 20 phụ nữ tình nguyện thay ca nhau ngày và đêm. Họ không có vũ khí – họ không có gì cả.”
Đến nay, số nạn nhân bị cưỡng hiếp đã được vị Bác sĩ Phép lạ và các đồng sự của ông chữa trị và giải phẫu tái tạo đã lên đến trên dưới 40 ngàn người.
Bệnh viện Panzi của ông ở tỉnh Bukavu ngày nay đã lớn lên thành một cơ sở y tế quan trọng ở miền đông Congo. Theo trang web của bệnh viện, Panzi có 370 y sĩ, y tá và nhân viên hỗ trợ, phục vụ hơn 400 ngàn cư dân tỉnh Bakuvu và cả những quốc gia lân cận.
Số phụ nữ được chăm sóc hàng năm ở Panzi là hơn 3.500 người, đương nhiên không ít trong số đó là những nạn nhân đã chịu những thương tích khủng khiếp về cả thể xác lẫn tinh thần như người bệnh đầu tiên đã đưa bác sĩ Mukwege đến quyết lập thành lập bệnh viện.

Nadia Murad: Tiếng nói của một nhân chứng nạn nhân
“Tôi đã nói rằng, hơn tất cả mọi thứ, tôi muốn trở thành người con gái cuối cùng trên thế giới có một câu chuyện như chuyện của tôi.”
Nadia Murad trong tự truyện The Last Girl: My Story of Captivity and My Fight Against the Islamic State
Câu chuyện của Nadia Murad cũng là chuyện của hơn 3 ngàn người đàn bà và trẻ gái trong cộng đồng người thiểu số Yazidi ở Iraq đã phải chịu đựng sự bạo hành, hãm hiếp của tổ chức khủng bố Hồi giáo quốc ở Iraq và Syria (ISIS).
Câu chuyện của cô bắt đầu với việc bị bắt cóc khi các các chiến binh của ISIS tiến vào thị trấn Kocho ở tỉnh Sinjar, vào tháng 8 năm 2014. Cô bị bắt cùng với các chị em, mẹ của cô và 6 anh em trai bị giết.
Nadia bị đem ra chợ nô lệ. Cùng với các phụ nữ khác, cô bị sờ nắn, bị đánh giá. Cô van xin một tên ISIS gầy gò hãy nhận cô để mong tránh khỏi bàn tay của một tên to lớn như quái vật, tưởng rằng mình sẽ không bị hành hạ. Tên ISIS nhận cô là Hajji Salman, một quan tòa của ISIS ở Mosul. Nhưng cô đã lầm, bọn chúng chẳng có tên nào là người.
Sau ba tháng trong địa ngục, cô trốn thoát và được đưa lén ra khỏi Iraq. Đến năm 2015, cô tỵ nạn ở Đức. Từ ngày đó, cô lên tiếng trên nhiều diễn đàn quốc tế, kể lại câu chuyện của mình, tố cáo tội ác của ISIS và báo động với thế giới về tình cảnh của các phụ nữ trong những vùng chiến tranh. Cô là vị Đại sứ Thiện chí của Liên hiệp quốc đầu tiên về Nhân phẩm của Những Người Sống sót sau Nạn Buôn người (Goodwill Ambassador for the Dignity of Survivors of Human Trafficking).
Trong tự truyện “The Last Girl….”, Nadia kể về lần đầu tiên cô nói trên diễn đàn ở Thụy sĩ:
“…Đây là lần đầu tiên tôi kể câu chuyện của mình trước một số đông người nghe. Tôi muốn nói về tất cả mọi thứ – về những đứa trẻ đã chết vì mất nước khi chạy trốn ISIS, về các gia đình vẫn bị mắc kẹt trên núi, về hàng ngàn phụ nữ và trẻ em bị giam cầm, và về những gì các người anh em tôi đã nhìn thấy tại địa điểm xảy ra vụ thảm sát. Tôi chỉ là một trong hàng trăm ngàn nạn nhân Yazidi. Cộng đồng của tôi bị ly tán, sống như những người tỵ nạn trong và ngoài Iraq, và Kocho vẫn còn bị ISIS chiếm đóng. Có rất nhiều điều thế giới cần nghe về những gì đang xảy ra với người Yazidi.
Tôi muốn nói với họ rằng còn rất nhiều việc cần phải làm. Chúng ta cần thiết lập một vùng an toàn cho các dân tộc thiểu số tôn giáo ở Iraq; truy tố ISIS – từ các tên cầm đầu đến những công dân đã ủng hộ các tội ác của chúng – về tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại; và giải phóng toàn bộ Sinjar. Tôi sẽ phải nói với người nghe về Hajji Salman và những lần hắn ta cưỡng hiếp tôi và tất cả những vụ bạo hành mà tôi đã chứng kiến. Quyết định phải nói thật là một trong những quyết định khó khăn nhất của tôi, và cũng là điều quan trọng nhất.
Người tôi run lên khi tôi đọc bài nói của mình. Cố gắng hết mức để bình tĩnh, tôi đã kể lại chuyện Kocho đã bị chiếm đoạt và các cô gái như tôi đã bị bắt làm sabaya như thế nào. Tôi kể với họ về việc tôi đã liên tục bị cưỡng hiếp và bị đánh đập như thế nào, và cuối cùng tôi đã trốn thoát như thế nào. Tôi kể với họ về những người anh em trai đã bị giết của tôi. Việc kể lại chuyện của mình là chuyện không dễ dàng. Mỗi khi bạn kể, bạn lại phải sống lại chuyện đó. Khi tôi kể với ai đó về cái trạm kiểm soát nơi tôi đã bị cưỡng hiếp, hoặc về cảm giác khi cây roi của Hajji Salman đánh trên tấm chăn trùm trên người tôi, hoặc về bầu trời tối đen của Mosul trong khi tôi tìm kiếm trên đường phố một nơi giúp đỡ, tôi nhanh chóng bị đưa trở về những khoảnh khắc đó và tất cả nỗi kinh hoàng của chúng. Những người Yazidi khác cũng bị kéo trở về những ký ức này.
Câu chuyện của tôi, kể lại một cách trung thực và thực tế, là vũ khí tốt nhất của tôi để chống lại chủ nghĩa khủng bố, và tôi dự định sử dụng nó cho đến khi những kẻ khủng bố đó bị đưa ra xét xử. Vẫn còn rất nhiều thứ cần phải làm. Các nhà lãnh đạo thế giới và đặc biệt là các nhà lãnh đạo tôn giáo Hồi giáo cần phải đứng lên và bảo vệ người bị áp bức.
Tôi đã đọc bài diễn văn ngắn gọn của tôi. Đến khi đã kể xong câu chuyện của mình, tôi vẫn tiếp tục nói. Tôi đã nói với những người nghe rằng tôi không được sinh ra để đọc diễn văn. Tôi nói với người nghe rằng mỗi người Yazidi đều muốn ISIS phải bị truy tố vì tội diệt chủng, và rằng họ có quyền lực để bảo vệ những người yếu đuối trên khắp thế giới. Tôi nói với họ rằng tôi muốn nhìn thẳng vào mắt những tên đã hãm hiếp tôi và muốn thấy chúng bị đưa ra trước công lý. Tôi đã nói rằng tôi muốn, hơn bất cứ điều gì khác, trở thành cô gái cuối cùng trên thế giới có một câu chuyện như chuyện của tôi.
Ngày nay các nhóm phiến quân rải rác khoảng mười trong số 26 tỉnh của Congo, vẫn tiếp tục bắt cóc, hãm hiếp và giết hại thường dân. Một tên chỉ huy, Jean-Pierre Bemba, đã bị Tòa án Hình sự Quốc tế tại Hague buộc tội đã chỉ huy các vụ hãm hiếp hàng loạt, trong số các tội ác chống nhân loại khác. Nhưng hắn đã được tha bổng và trở về quê nhà để… ra tranh cử tổng thống. Bộ trưởng Thông tin của Congo khi được yêu cầu bình luận về giải Nobel Bác sĩ Mukwege, đã phàn nàn rằng ông bác sĩ có khuynh hướng “chính trị hóa” công việc của mình.
Trong một cuộc phỏng vấn sau khi được tin mình nhận giải Nobel Hòa bình, ông Mukwege cay đắng: “Tôi đau lòng mà nói rằng ba năm trước tình hình đã khá nơn nhưng nay nhiều nhóm võ trang đã lại phát triển và con số các phụ nữ bị hãm hiếp lại tăng lên.”
Những nỗ lực của cô Nadia Murad có lẽ đã thành công hơn. Nhờ sự vận động của cô, Liên Hiệp Quốc đã ủng hộ một cuộc điều tra về tội ác diệt chủng với người Yazidi. Thêm vào đó, ISIS cũng đã bị đánh bại ở Iraq, và nhiều thủ lãnh của tổ chức này đã bị triệt hạ. Nhưng cô Murad không thể nghỉ ngơi. Cô khẳng định, “Từng người một trong bọn chúng phải được đưa ra trước công lý.”
Giải Nobel Hòa bình là một giải hòa bình quốc tế quan trọng nhất, có giá trị khoảng 860.000 Euro. Trong lúc các giải Nobel khác được trao ở Stockolm, Thụy điển, lễ trao giải Nobel Hòa bình được tổ chức tại Oslo, thủ đô Na Uy ngày 10 tháng 12, ngày Alfred Nobel qua đời.
Với hai khôi nguyên năm 2018 Mukwege và Murad, con số giải Nobel Hòa bình được trao cho đến nay đã là 100, với 133 người đoạt giải (106 cá nhân và 27 tổ chức). Trong số 106 cá nhân được giải, 17 người là phụ nữ. Người phụ nữ trẻ tuổi nhất, trẻ hơn Nadir Murad, là cô bé Malala Yousafai, được trao giải năm 2014, khi lên 17 tuổi.
Mỗi lần giải Nobel Hòa bình được công bố, lần nào cũng có những dư luận khen chê, cho là có những người, những tổ chức xứng đáng hơn. Với câu chuyện của hai khôi nguyên Nobel Hòa bình năm nay, không ai có thể nghi ngờ sự công minh của những vị trong Ủy ban tuyển chọn Nobel.

Đỗ Quân (tổng hợp)

Tin tức khác...