“Đúng vậy, Hướng Viễn, nhóm người đó đã mấy chục tuổi, họ làm việc cả nửa đời người ở Giang Nguyên, dù thế nào đi nữa thì bố anh cũng không thể đồng ý đuổi việc họ đâu”, Diệp Khiên Trạch cũng hạ giọng khuyên nhủ, hiếm thấy anh cùng một quan điểm với Diệp Bỉnh Văn như vậy.
Hướng Viễn cười nói: “Sao tôi dám đuổi họ đi được? Chỉ cần họ muốn thì đương nhiên có thể để họ làm việc đến khi về hưu như Chủ tịch Diệp đã hứa nhưng có một nguyên tắc không thể thay đổi, đó là anh bỏ ra bao nhiều công sức thì sẽ thu được bấy nhiêu lợi ích, doanh nghiệp không thể nuôi người lười biếng mà vẫn ăn nhiều được. Tất nhiên, để phân biệt thì lương cơ bản của công nhân chính thức sẽ cao hơn ngoại tỉnh một chút nhưng định mức thì phải như nhau. Vả lại Phó tổng Lý, tôi cho rằng trong xưởng phải phân định mức đến từng cá nhân, hoàn thành bao nhiêu sẽ thu được bấy nhiêu tiền. Nhưng thực hiện phải công bằng để vừa có thể đảm bảo ưu thế của nhân viên chính thức, vừa thu nhỏ được khoảng cách thu nhập trong từng xưởng nhỏ”.
“Nhưng nếu tính theo cách này thì với năng lực hiện tại của công nhân chính thức, e là một tháng cũng không hoàn thành được nhiệm vụ cơ bản”, Phó tổng Lý tỏ ra lo lắng.
“Vậy thì điều động họ đến vị trí có thể hoàn thành được. Giang Nguyên mãi mãi sẽ trải chiếu cho họ nhưng họ phải làm công việc phù hợp với mình, trồng hoa quét sân, gì cũng được. Thà rằng tạo thêm nhiều việc khác rồi bố trí họ làm còn hơn để những người nhàn rồi ở lại xưởng kích động mâu thuận người khác. Tất nhiên những vị trí công việc khác nhau thì đãi ngộ cũng khác nhau, trồng hoa thì nhận lương của thợ làm vườn, quét sân thì thu nhập như nhân viên vệ sinh, rất công bằng.”
“Toàn nói lung tung, cô đang ảo tưởng à?”, Diệp Bỉnh Văn cười nói.
Hướng Viễn không hề tức giận, cô nói tiếp: “Ảo tưởng hay không thì chúng ta cứ đợi xem”.
Cuối cùng, cách giải quyết việc ẩu đả không thể có được kết quả qua cuộc họp lần này, mọi người khăng khăng giữ ý kiến của mình khiến Diệp Khiên Trạch bất lực đành tuyên bố giải tán.
Hướng Viễn ra khỏi phòng họp, Đằng Vân đã đợi ở văn phòng cô.
“Thế nào rồi?”, Đằng Vân hỏi.
Hướng Viễn nhún vai, đáp: “Cũng khá giống tôi dự đoán, có điều mượn danh nghĩa cuộc hợp này để nói ra cũng đươc rồi, không gấp được”.
“Tại sao không hỏi tôi chuyện em trai anh thế nào?”, Hướng Viễn nhướn mày hỏi.
Nụ cười Đằng Vân có phần cay đắng, anh nói: “Hướng Viễn, nếu cô đã mượn việc đánh nhau này để đề xuất việc kia mà lỡ không thành thì thôi, còn một khi đã muốn khai đao với đám nguyên lão đó thì Đằng Tuấn cũng không thể ở lại được. Cô bắt buộc phải cân bằng áp lực mọi măt, điểm này tôi và cô đều hiểu rõ”.
Hướng Viễn thở dài đáp: “Đằng Tuấn là cậu bé tốt. Hôm nay, Khiên Trạch đã mở một lối đi cho tôi, chỉ cần tôi không lên tiếng thì cậu ấy có thể ở lại”.
“Nó không đi thì đám nguyên lão đó cũng không đi được. Thôi bỏ đi, nó có phần cảm tính thái quá, cũng nên nhận một bài học để đời. Huống hồ, Tuấn vẫn còn trẻ, cho dù rời khỏi Giang Nguyên thì con đường sau này vẫn còn dài.”
“Anh lại đến khuyên tôi à? Đằng Vân, trái tim người ta không phải từ sắt thép mà ra, cậu ta là em họ của anh, trong lòng anh còn đau buồn hơn tôi nhiều. Bên này tôi cũng còn có Hướng Dao…”
Hướng Viễn chưa bao giờ thấy việc đưa ra quyết định lại khó như vậy. Đằng Vân không nói gì nữa. Đúng như Hướng Viễn đã bảo, trái tim ai lại từ sắt thép mà ra? Đằng Tuấn khó khăn lắm mới đứng vững ở Giang Nguyên, hơn nữa cậu kiên quyết tin mình không có lỗi, nếu vì chuyện này mà đuổi cậu ra khỏi Giang Nguyên thì đúng là tàn nhẫn, chỉ e Hướng Dao không hiểu được thôi.
Hai người đều lặng thinh, một lúc sau Đằng Vân mới lên tiếng hỏi: “Còn nhớ ván cờ vây nửa tháng trước cô và Trương Thiên Nhiên đấu với nhau không? Cuối cùng, cô đã thắng anh ta trong tình huống gay go nhất, tôi hỏi cô bí quyết thì cô chỉ nói với tôi một câu”.
Hướng Viễn hiểu ý, thở dài một hơi rồi nói: “Phải rồi, chịu mất quân cờ, mới có thể sống”.
Chương 34
Không bao lâu sau, trong phòng bệnh của viện điều dưỡng, Hướng Viễn và Diệp Bỉnh Lâm đã có cuộc thảo luận bí mật kéo dài đến bốn tiếng đồng hồ nhưng không ai biết nội dung trò chuyện của họ. Một tuần trước khi bước sang năm mới, Giang Nguyên đã nhận được quyết định xử lý cuộc ẩu đả lần đó: người cầm đầu đánh nhau của cả hai bên – Đằng Tuấn và lão Phùng, vì vi phạm nghiêm trọng luật lệ của công ty nên buộc cho thôi việc, những người tham gia “nhiệt tình” vào vụ ẩu đả thì bị phê bình kiểm điểm hoặc phạt trừ tiền lương.
Đối với Đằng Tuấn mà nói, cũng có một số đồng hương thầm bức xúc cho cậu nhưng mọi người hiểu rõ, họa gây ra thì phải có một người giơ đầu chịu đòn, hơn nữa lần này công ty ngoài phạt Đằng Tuấn ra, hoàn toàn không thiên vị những công nhân chính thức như trước kia bởi kể cả lão Phùng ở lỳ trong Giang Nguyên hưởng cuộc sống no đủ cũng bị công ty đuổi việc như Đằng Tuấn. Đối với những công nhân hợp đồng ngoại tỉnh quen chịu lép vế trước công nhân chính thức mà nói thì chuyện này cũng xem như đã nhổ bỏ cái gai cũng thấy thoải mái. Còn về Đằng Tuấn ra mặt hộ người khác, kết quả lại trở thành vật thế thân có oan uổng hay không thì đã không còn là chuyên gì quan trọng nữa, tất nhiên sẽ chẳng còn ai bị dị nghị.
Lão Phùng là người đầu tiên bị cho thôi việc trong đám nguyên lão nên cũng xem như là mở ra một tiền lệ, chuyện này đã làm dấy lên một cơn sóng lớn trong đám công nhân chính thức cùng “giai tầng” với ông ta. Trước đây, họ chưa bao giờ nghĩ rằng bản thân sẽ có ngày bị một tờ công văn lạnh lẽo đuổi ra khỏi cong ty một cách tuyệt tình như thế. Song những người có liên quan ở phòng nhân sự đã giải thích rất rõ ràng, công ty làm như thế là hoàn toàn dựa vào luật pháp, có nhân chứng vật chứng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng rất hợp lý. Những công nhân cũ đã quen với sự thảnh thơi, định kê cáo gối ngủ ngon trong vô lo để bám trụ công việc tới ngày cuối cùng ý thức được vị trí của mình kỳ thự không hoàn toàn ổn định như họ hằng tưởng tượng. Mấy năm nay, sở dĩ họ có thể vững như núi không phải do Giang Nguyên không dám động đến họ mà là nhờ Chủ Tịch vẫn niệm tình cũ, không muốn làm gì họ. Nhưng lần này, cuối trang văn kiện, chữ ký rành rành giấy tắng mực đen không phải của Diệp Bỉnh Lâm thì là ai?
Sự bất an và nguy cơ chưa từng có trước đó đã khiến đám công nhân chính thức bắt đầu hoảng loạn. Một số người trong số họ không ngừng kích động lão Phùng đến tìm Diệp Bỉnh Lâm nói cho rõ ràng, nhắc lại tình xưa nghĩa cũ, không chừng Chủ Tịch sẽ thay đổi suy nghĩ. Hoặc nếu không thì nói vài lời mềm mỏng với Hướng Viễn – người phụ trách việc này – rồi tự kiểm điểm mình thì sự việc có lẽ sẽ còn có thể xoay chuyển. Nhưng lão Phùng là người tính khí nóng nảy cương trực, tuy hiểu rằng mình rời khỏi Giang Nguyên sẽ khó tìm được một nơi tốt như vậy nhưng đâu thể mặt dày đi xin xỏ được. Trước mọi người, ông ta đã nghiến răng nói: “Lão đây không tin là không dựa vào cái đám khốn vong ân phụ nghĩa ấy thì không sống nổi.”
Lúc làm thủ tục nghỉ việc, lão Phùng lên gặp Diệp Khiên Trạch, anh đối diện với người công nhân tuổi tác đáng tuổi cha mình, có phần không nhẫn tâm nhưng lão Phùng lại chỉ vào mặt anh mắng nhiếc không kiêng kỵ gì: “Lão đây đã hồ đồ mà cậu còn hồ đồ hơn! Mẹ kiếp, cậu chỉ là một con rối bị đàn bà nắm trong tay. Cậu cứ chờ mà xem, mấy năm nữa Giang Nguyên sẽ thuộc về họ Diệp hay họ Hướng!”
Khi mọi người vẫn chưa kịp hoàn hồn sau đợt phong ba này thì một quả bom tấn kinh khủng hơn đã rơi xuống. Một lần tại hội nghị nhân viên quản lý trung tầng trở lên, Diệp Khiên Trạch đã thay mặt cha mình là Diệp Bỉnh Lâm tuyên bố cải cách công ty: tất cả các bộ phận sản xuất đều phải theo hình thức khoán công, xưởng trưởng là người nhận khoán công việc, chỉ cần cung ứng đủ cho công ty đúng định mức, hoàn thành chỉ tiêu sản xuất đã được chỉ định, nếu vượt quá định mức sẽ là phần lời của mình. Công ty cũng chỉ có một yêu cầu đối với người nhận khoán công việc, xưởng sẽ phân rõ từng định mức đến từng cá nhân, cho dù là công nhân chính thức hay lão làng đều bị hủy bỏ lương cố định, tất cả công nhân đều được phát lương theo tình hình hoàn thành định mức của mình, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Tất nhiên, để hiểu hiện sự ưu đãi vừa phải với công nhân chính thức, công ty sẽ phát cho họ tiền trợ cấp không nhiều hơn năm trăm tệ mỗi tháng mang tính tượng trưng.
Công ty đã khoán công việc cho từng xưởng thì những xưởng phụ trách tất nhiên sẽ cố hết sức để vượt định mức, do đó định mức đưa xuống từng cá nhân sẽ không thấp, dựa vào khả năng và trình độ hiện nay của các công nhân chính thức thì bọn họ muốn hoàn thành định mức như công nhân hợp đồng thì đúng là đã khó lại càng thêm khó. Đó là mộ bài toán rất đơn giản, trong lòng mỗi người đều có một bàn tính, lượng công việc hoàn thành ít thì thu nhập sẽ ít, dù có trợ cấp thêm đi nữa, đừng nói là không thể đạt được mức thu nhập cũ mà ngay cả mức thu nhập như một công nhân hợp đồng cũng khó. Hơn nữa, trong phương án này đã nói rất rõ, nế không làm được có thể chuyển tới vị trí mà mình làm được, càng thoải mái thì thu nhập càng thấp. Tóm lại, Giang Nguyên sẽ giữ lời hứa của Chủ tịch, tuyệt đối không dễ dàng đuổi việc một công nhân chính thức nào, Giang Nguyên mãi mãi giành vị trí cho họ, mãi mãi cho họ cơm ăn áo mặc nhưng ăn no đươc hay không thì phải dựa vào chính họ.
Như vậy thì những nguyên lão vốn hưởng thụ ưa đãi bấy lâu đời nào chịu tuân theo. Trong một thời gian dài, văn phòng công ty đều có những công nhân chính thức đến oán thán, có người làm ầm ĩ, có người kì kèo mặc cả, có người chửi bới om sòm, đương nhiên cũng có kẻ xuống nước van nài. Thế nhưng, người mà họ trông mong nhiều nhất, luôn đứng về phía họ là Diệp Bỉnh Văn thì giờ phút này lại làm ra vẻ không liên can gì đến mình, nói rằng ông ta cũng không thể giúp được gì rồi phủi mông ra nước ngoài “khảo sát” công việc. Diệp Khiên Trạch tuy kiên nhẫn ngồi nghe họ tố khổ, nhẹ nhàng khuyên nhủ nhưng khi đề cập đến mấu chốt câu chuyện thì cùng đành bất lực bảo đó là quy tắc của công ty. Nếu tìm Hướng Viễn thì càng bị trợ lý của cô ngăn ngoài cửa phòng, cho dù gặp được thì cô cũng chỉ một lời từ chối. Hướng Viễn nói mình chỉ có thể quản lý đến cấp xưởng trưởng, còn về nội bộ xưởng phân công thế nào thì cô không quản lý nổi, có việc gì cứ đi tìm người nhận khoán công việc của xưởng, đó là chuyện nội bộ tập thể của họ.
Đó mới là sự cao minh của Hướng Viễn, dù mọi người đều biết việc đề xuất và thực hiện phương án đó là do một tay cô mà ra nhưng như thế thì họ cũng làm được gì? Người trực tiếp đối diện những khúc mắc đó không phải là cô mà là xưởng trưởng đã nhận khoán công việc. Cũng như những gì cô đã nhắc đến khi thuyết phục Diệp Bỉnh Lâm, chỉ cần chia cho xưởng trưởng chút lợi ích thì tính tích cực của nhân viên quản lý sẽ tăng cao, thế thì, sẽ có người giành giật mà làm. Phong ba là khó tránh khỏi nhưng bất cứ việc gì nếu đa số có lợi thì sẽ không kéo dài lâu. Phía công nhân hợp đồng cũng xem như thực hiện được công bằng quyền lợi với công nhân chính thức ở một mức độ nào đó, tuy thu nhập chưa chắc tăng rõ nhưng tính tích cực lao động rõ ràng cao hơn nhiều. Công nhân chính thức cố làm căng cũng vô ích, sức mạnh vững chắc của họ cũng chính là xưởng trưởng của họ mà xưởng trưởng đã có được lợi ích thì đương nhiên sẽ đi theo cải cách. Số còn lại dù có bất mãn đến đâu cũng đành chịu bởi công ty không hề vi phạm hợp đồng, chỉ cần họ muốn thì vẫn có thể làm việc ở Giang Nguyên, hơn nữa khi ở lại tuy không được sung sướng như trước kia song cũng không đến nỗi chết đói, nếu ra khỏi Giang Nguyên thì liệu họ còn đi đâu được?
Tất nhiên cũng có một số ít ngoại lệ, Trần Hữu Hoà nhân viên cũ luôn làm việc tại xưởng sản xuất công cụ và chịu trách nhiệm phân công công nhân là một trong số đó. Trần Hữu Hoà là nguyên lão trong công ty, vốn là người giám sát phòng thí nghiệm khoa Cơ điện của đại học G, đến Giang Nguyên này với Diệp Bỉnh Lâm, có thể nói Giang Nguyên bao nhiêu tuổi thì ông ấy cũng làm việc ở đây bấy nhiêu năm. Điều hiếm có là Trần Hữu Hoà không tỏ ra lười biếng và hợm hĩnh như đám nhân viên chính thức kia, ông ta đối đãi với mọi người khá hoà nhã, làm việc cũng khá nghiêm túc, tuy tốc độ có hơi chậm song tính tình cũng khá tốt, cũng có chút tình bạn với Diệp Bỉnh Lâm. Trước kia, khi Diệp Bỉnh Lâm còn khoẻ mạnh, mỗi khi Tết đến, Trần Hữu Hoà đều đến nhà họ Diệp chơi, chúc vài câu may mắn với chủ nhà, vì thế nhà họ Diệp cũng thân thuộc với ông ta, anh em Diệp Khiên Trạch khi thấy ông ta đều gọi là bác Trần.
Xưởng sản xuất công cụ sau khi nhận khoán công việc với tốc độ của ông ta thì tiền có được trong tay ít đến thảm thương. Ông ta là người thành thật, suốt ngày chỉ biết thở ngắn than dài, càng đêm thì mắt càng lèm nhèm đau nhức.
Có lần, số ốc vít Trần Hữu Hoà đếm quá thấp so với yêu cầu của xưởng khiến tiến độ của toàn nhóm bị ảnh hưởng. Lão Trần biết mình có lỗi nên cúi đầu không nói tiếng nào, tay không ngừng, quả thực không chờ nổi nên nhóm trưởng đến giúp một tay, lại bất ngờ phát hiện ra số lượng lão Trần đếm trước đó có sai sót nghiêm trọng. Nhóm trưởng là người trẻ tuổi cứng rắn, không thể nhịn nổi nên đã nổi giận đùng đùng, mắng mỏ lão Trần vô dụng, nếu không phải là lợi dụng cái mác công nhân chính thức thì đã không biết bị đá đi nơi nào từ lâu rồi, nếu bắt buộc phải bám vúi nơi này thì cũng không nên ở lại trong xưởng làm người khác mệt thêm.
Lão Trần tuy hiền lành song đã sống đến ngần ấy năm, chưa bao giờ bị ai chỉ vào mũi xỉ nhục như vậy, huống hồ đối phương là công nhân hợp đồng được làm nhóm trưởng. Ông ta vừa thẹn vừa giận, lúc ấy đã đến tìm xưởng trưởng, bảo rằng nếu chê ông ta bất tài vô dụng thì ông ta cũng không phải người không có sĩ diện, không làm nữa là được chứ gì. Ai ngờ xưởng trưởng cũng không níu giữ, chẳng nói chẳng rằng đưa luôn ông ta lên phòng nhân sự làm thủ tục.
Lão Trần vốn chỉ tức giận mà nói thế, vẫn ngây thơ hy vọng sẽ có người giữ lại nhưng việc đến nước này thì lại hối hận, song cũng không tìm ra cách nào khác, đành cứng miệng bảo từ chức cũng được nhưng bắt buộc phải Chủ tịch tự tay ký tên mới chấp thuận. Ông ta còn hỏi thăm viện điều dưỡng nơi Diệp Bỉnh Lâm đang điều trị, mấy lần tìm đến nhưng lần nào cũng thất vọng, Diệp Bỉnh Lâm không đi điều trị cả ngày thì cũng không biết đã lang thang đến phòng bệnh nhân nào khác để chơi cờ rồi.
Trần Hữu Hoà vô cùng thất vọng, về sau có người nhắc nhở, bây giờ người được Diệp Bỉnh Lâm xem trọng nhất Giang Nguyên chính là Hướng Viễn, vợ của Diệp Khiên Trạch. Thế là ông ta chuyển sang tìm Hướng Viễn, nói rõ tình hình, tuy ngoài miệng vẫn nói là chỉ cần Diệp Bỉnh Lâm ký tên, ông ta sẽ đi ngay, không làm phiền Giang Nguyên thêm nhưng trong lòng vẫn nuôi hy vọng. Một mặt ông ta vẫn muốn qua Hướng Viễn để Diệp Bỉnh Lâm biết đến tình hình cố hữu, mặt khác lại mong muốn Hướng Viễn giúp đỡ mình vượt qua khó khăn.
Hướng Viễn vui vẻ đón lấy đơn từ chức của Trần Hữu Hoà, hai hôm sau, cô đưa lại tờ đơn có thêm chữ ký của Diệp Bỉnh Lâm cho ông ta, cùng với đơn từ chức còn có một tệp tiền mặt.
Lúc ấy, Hướng Viễn đã nói thế này: “Bác Trần, tôi được gả vào Diệp gia khá muộn nên cơ hội được làm quen với bác không nhiều, nhưng nghe Diệp Khiên Trạch đã nhắc đến, bác đã cùng Giang Nguyên đi suốt hai mươi mấy năm qua quả không dễ dàng gì. Bác nói muốn đi, tôi cũng rất tiếc nhưng cũng không thể miễn cưỡng bác được. Đơn từ chức bố chồng tôi đã xem, ông cũng có ý này, nếu ở lại Giang Nguyên không còn vui vẻ gì nữa thì chúng tôi có níu giữ cũng không được. Đây là chút lòng thành của bố chồng tôi, cũng có chút phần của tôi, số tiền này không liên quan gì đến công ty, chỉ là Diệp Bỉnh Lâm đưa cho một người bạn cũ. Đi khỏi Giang Nguyên rồi, bác có thể làm ăn nhỏ, cho dù hưởng phúc bên con cháu thì có chút tiền bên mình vẫn tốt hơn”.
Trần Hữu Hoà không bao giờ ngờ rằng lại có kết quả này, ông ta đã ở Giang Nguyên nửa đời người, cảm thấy mình dù có rời khỏi đây thì cũng là nghỉ hưu một cách đường hoàng. Ai ngờ đâu chỉ với mấy câu trong lúc nóng giận mà đến Diệp Bỉnh Lâm cũng vui vẻ toại nguyện cho mình, xem ra trong công ty ông thực sự là phế vật. Ông ta giữ lấy đơn từ chức và món tiền đó trong tay, đau đớn buồn bã, cũng không nói nổi câu nào, nước mắt ứa ra.
Cũng vào buổi chiều hôm đó, Diệp Khiên Trạch đến văn phòng của Hướng Viễn, chần chừ muốn nói gì đó lại thôi.
Hướng Viễn rót cho anh cốc nước rồi ngồi xuống bên cạnh, cười nói: “Em sợ nhất là dáng vẻ này của anh, rốt cuộc là chuyện gì vậy?”.
Diệp Khiên Trạch khẽ nói: “Anh nghe bảo bác Trần muốn thôi việc, em để bác ấy đi à?”.
“Anh không có ý đó nhưng Hướng Viễn… bác Trần chỉ tức giận nói thế thôi, chắc em cũng biết mà.”
“Vậy anh bảo em phải làm sao? Trách xưởng trưởng của nhóm ấy hay là nhóm trưởng? Họ cũng có làm sai đâu. Em đã nhận lời anh, ngoài những người gây chuyện xấu cho công ty ra thì sẽ không bao giờ đuổi bất cứ nhân viên cũ nào. Em cũng có nuốt lời đâu, là do bác ấy không thích ứng được tình thế hiện nay, chủ động yêu cầu đi đấy chứ.”
“Cũng đâu đến nỗi không còn cách nào khác. Bác ấy không làm được việc ở xưởng thì đổi cho vị trí khác. Giang Nguyên lớn như vậy, chẳng lẽ không có công việc nào sắp xếp cho bác ấy ư? Hướng Viễn, để bác ấy quay về đi, anh nói thì bác ấy sẽ nhận lời thôi. Bác ấy đã lớn tuổi rồi, không còn cạnh tranh nổi với người trẻ, giờ mất việc thì chẳng biết dựa vào đâu.”
“Giang Nguyên sắp xếp cho bác Trần một công việc là chuyện nhỏ nhưng liệu bác ấy có chịu làm ở những vị trí đó hay không? Nếu em phá lệ, một Trần Hữu Hoà nữa xuất hiện thì phải làm sao? Người ta sẽ nghĩ gì? Đã sắp xếp cả rồi thì cái cách đó còn ý nghĩa gì?”.
Diệp Khiên Trạch nhất thời nghẹn giọng nhưng vẫn không từ bỏ ý định đấu tranh cho Trần Hữu Hoà: “Bác ấy khác. Bác ấy là bạn thân của nhà anh, chúng ta không thể đối xử với bác ấy như thế được”.
“Anh xem anh kìa, chỉ biết lo nghĩ cho người khác, nói đến môi khô nứt ra cũng chẳng biết. Uống chút nước đi”. Hướng Viễn nhẹ nhàng đẩy nước đến trước mặt Diệp Khiên Trạch, thấy anh hớp một ngụm mà vẫn lơ đãng thì đành nói tiếp: “Nói đến tình bạn với Trần Hữu Hoà, Diệp Khiên Trạch chẳng lẽ trong lòng bố anh không biết rõ hơn anh sao? Đơn từ chức là do chính tay ông ký, anh biết vì sao không? Việc gì cũng có quy tắc của nó, mà quy tắc đều bình đẳng với mọi người. Với đạo nghĩa của tình bạn, có thể giúp bác ấy ngoài quy tắc nhưng với lập trường của công ty thì hãy để bác ấy đi. Công ty giờ đang phát triển, mỗi khi đi một bước đều phải trả giá. Không phá cái cũ thì không xây cái mới được, đó là nguyên nhân em không giữ bác ấy. Nếu anh thấy em sai thì có thể mời bác ấy quay lại nhưng anh phải nghĩ xem anh có làm đúng không?”.
Diệp Khiên Trạch nhìn Hướng Viễn một lúc lâu với vẻ nghi ngại rồi nói: “Anh nói không lại em nhưng Hướng Viễn sao em có thể tính toán kỹ lưỡng đến thế trong mọi lúc? Không phá cái cũ thì không xây được cái mới? Đối với Đằng Tuấn, em cũng thấy vậy à? Hay là lúc nào em cũng lý trí đến mức máu lạnh với tất cả mọi người và việc?”.
Nhắc đến Đằng Tuấn, đôi mắt Hướng Viễn thoáng ảm đạm rất nhanh, đối với kết cục bị khai trừ. Đằng Tuấn rất khó chấp nhận vì cậu luôn kiên định tin rằng mình đã làm đúng. Cậu chẳng nói gì trước mặt Hướng Viễn nhưng Hướng Viễn không quên được ánh mắt của chàng trai thật thà hiền lành lúc ấy: thất vọng, cam chịu, phẫn nộ. Tất nhiên cô càng không quên được những lời chỉ trích đẫm nước mắt của Hướng Dao.
Hướng Dao nói cô quá ngu ngốc khi tin Hướng Viễn lo nghĩ cho mình và sẽ giúp Đằng Tuấn. Thì ra Hướng Viễn một tay cất nhắc Đằng Tuấn rồi lại khiến Đằng Tuấn rơi xuống, tất cả chỉ là một âm mưu. Hướng Viễn chỉ chứng minh mình cô có thể đưa một người lên cao thì cũng có thể khiến người đó ngã đau hơn.
Lúc kéo Đằng Tuấn bỏ đi, Hướng Dao cũng quẳng đơn từ chức của mình lên người Hướng Viễn. Cô nói: “Tôi không làm nữa. Chị bắt anh ấy nghỉ việc cũng được, tôi sẽ theo anh ấy. Anh ấy đi đâu thì tôi theo đó”. Đó là câu cuối cùng khi Hướng Dao bỏ đi.
Hướng Viễn đặt lên tay Diệp Khiên Trạch, tay anh còn lạnh hơn tay cô.
Hướng Viễn nói: “Không phải tất cả mọi người, tất cả mọi việc em đều làm thế nếu không hôm nay em đã chẳng ngồi ở đây”.
Diệp Khiên Trạch quay đầu đi, hít một hơi thật sâu, một lúc sau mới chậm rãi nắm chặt tay Hướng Viễn. Lúc đó họ đều không ngờ rằng, Trần Hữu Hoà rời công ty chưa đầy một tuần, do lơ đãng lúc qua đường đã bị một chiếc xe chở cát đâm phải ở ngay gần cửa nhà, chết ngay tại chỗ.
Nhận được tin buồn, Diệp Khiên Trạch chìm vào sự thinh lặng chưa bao giờ có, Hướng Viễn một mình thay mặt Diệp gia và công ty đến lĩnh đường. Cô nhìn thẳng và bước qua gia quyến của Trần Hữu Hoà như không nhìn thấy ánh mắt thù hận và căm ghét của họ, thành khẩn đốt cho ông ta ba nén hương.
Cái chết của Trần Hữu Hoà khiến Diệp Khiên Trạch mấy ngày liền không thoát ra khỏi trạng thái đau lòng khó gọi tên. Hướng Viễn tan sở về nhà, dù muộn đến đâu, cô cũng nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ khe cửa thư phòng khép hờ của anh, nhưng bên trong chẳng có chút động tĩnh nào.
Diệp Khiên Trạch vốn trước giờ thích tĩnh lặng xem sách một mình nhưng sau khi kết hôn, anh đã dời địa điểm đọc sách từ thư phòng sang phòng ngủ để dựa vào đầu giường bật đèn đọc sách, vừa đợi Hướng Viễn về. Hướng Viễn biết cửa phòng khép hờ của Diệp Khiên Trạch là một tín hiệu lặng lẽ, anh vẫn chưa cởi được nút thắt trong lòng nhưng cô cũng không vội giải thích, hoặc có thể, cô không hề cho rằng mình cần phải giải thích trong chuyện này.
Mấy ngày liền, Hướng Viễn tắt đèn ngủ được một lúc, mới thấy Diệp Khiên Trạch về phòng, nằm xuống cạnh mình nhưng chẳng ai lên tiếng. Có lúc nửa đêm tỉnh giấc, Hướng Viễn mơ màng dụi mặt vào lưng người nằm cạnh nhưng anh luôn quay lưng lại với cô, chỉ nói một câu: “Ngủ đi, đừng để bị lạnh”.
Hướng Viễn nghĩ, mỗi người đều có cách để bản thân nghĩ thông suốt, Diệp Khiên Trạch là người trọng tình cảm, tâm trạng anh sa sút vì chuyện của Trần Hữu Hoà thì cô không lấy làm lạ. Lúc này, nên để anh yên tĩnh có lẽ cũng không phải chuyện xấu.
Một tuần sau, Hướng Viễn nghe nói Diệp Khiên Trạch yêu cầu phòng hành chính giao một khoản “tiền hỗ trợ” cho người nhà của Trần Hữu Hoà với lý do “qua đời vì việc công”. Tuy trong lòng cô cảm thấy không thoả đáng nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì cũng bỏ qua, không chừng như vậy sẽ khiến anh thoải mái hơn một chút. Thế nhưng, khi hoá đơn “tiền hỗ trợ” mà phòng hành chính kê ra theo yêu cầu của Diệp Khiên Trạch đến tay Hướng Viễn, cô chỉ nhìn lướt qua rồi dứt khoát gọi ngay cho phòng kế toán và phòng hành chính bảo tạm thời dừng việc này lại.
Không ngoài dự đoán của cô, hôm ấy, Diệp Khiên Trạch không thể tiếp tục “yên tĩnh đọc sách” trong thư phòng nữa, lúc Hướng Viễn đi ngang cửa, anh đã đứng ở đó.
“Hướng Viễn, có rỗi không, anh muốn nói chuyện”.
Hướng Viễn gật đầu: “Được”. Cô mỉm cười nói thêm: “Em có thể nói không rỗi với người khác nhưng sao nói câu này với anh được”.
“Vào rồi ngồi xuống nói chuyện được chứ?”, Diệp Khiên Trạch nghiêng người nói.
Hướng Viễn bước lại gần, một tay tựa vào khung cửa rồi nói: “Bây giờ em rất sợ ngồi nói chuyện mặt đối mặt, có lẽ do hậu di chứng của việc gần đây thường xuyên bàn việc với khách hàng, chỉ cần ngồi xuống là lại không kìm được mặc cả này nọ, cố gắng giành giá tốt. Hai chúng ta còn cầu kỳ thế để làm gì? Em thích nghe anh nói thế này. Được thôi, nói đi, anh đã ủ rũ suốt mấy ngày nay rồi”. Cô thấy anh không nói gì thì nói nửa đùa nửa thật hỏi: “Chắc không phải chuyện của Trần Hữu Hoà chứ?”.
Diệp Khiên Trạch không cười mà tiếp tục: “Anh nghe nói em đã giữ phiếu chi tiền hỗ trợ cho gia đình Trần Hữu Hoà lại?”.
Hướng Viễn như có chút thất vọng, cười mỉa mai: “Em cứ tưởng đây là chuyện chỉ nên nói ở phòng làm việc chứ? Không phải em giữ phiếu chi lại mà là để họ lấy về làm lại. Phòng hành chính hồ đồ quá rồi. Cho dù phá lệ đãi ngộ Trần Hữu Hoà nhưng tiền hỗ trợ cũng không nên gấp ba lần quy định công ty như thế, vậy là sao chứ? Đúng là làm bừa.”
“Là anh bảo họ làm thế!”
“Tại sao?”, Hướng Viễn nhướn mày tỏ vẻ kinh ngạc.
Diệp Khiên Trạch nói: “Tại sao phải thế? Cũng chỉ là vấn đề tiền bạc thôi mà. Người thì đã chết rồi, đừng nói hỗ trợ gấp ba lần, cho dù ba mươi lần, ba trăm lần thì có thể khiến người chết sống dậy được sao? Đối với gia đình bác Trần, những gì bây giờ chúng ta có thể làm cho họ được cũng chỉ có tiền thôi”.
Hướng Viễn nắm lấy tay Diệp Khiên Trạch, nói: “Khiên Trạch, em biết bây giờ anh rất đau buồn nhưng phải nói thật, tiền không thể cho như vậy được. Em thừa nhận bản thân coi trọng tiền hơn anh nhưng cũng không đến nỗi bủn xỉn với người đã chết. Vấn đề ở chỗ Trần Hữu Hoà chết vì sự cố ngoài ý muốn, đây vốn là sự thực ai ai cũng rõ. Nếu cho gia đình họ tiền hỗ trợ gấp ba lần thì chẳng những họ sẽ không cảm kích công ty, cũng không biết đó là do anh nhân hậu mà sẽ nghĩ rằng Giang Nguyên và chúng ta cảm thấy tội lỗi nên mới quyết định hỗ trợ gấp ba lần cho nhân viên đã nghỉ việc. Tiền là chuyện nhỏ nhưng chúng ta cũng không thể làm bừa, nhận hết tội lỗi vốn không phải do chúng ta gây ra được”.
“Tội lỗi không do chúng ta gây ra? Em nghĩ rằng chúng ta không làm sai à?”, Diệp Khiên Trạch lẩm bẩm.
“Phải”, Hướng Viễn đáp chắc nịch. Cô đặt tay lên vai anh, nói tiếp: “Đó là một sự cố, không phải lỗi của anh, cũng mệt sao? Khiên Trạch, vì chuyện của Trần Hữu Hoà mà anh đã buồn bã đau khổ hơn tuần nay rồi. Bây giờ bác ấy đã mồ yên mả đẹp, hãy để chuyện này qua đi có được không? Em không muốn thấy anh đau buồn nữa. Bên nhà Trần Hữu Hoà, chúng ta sẽ hỗ trợ cho họ số tiền theo luật định của công ty, nói rõ hơn, đó là công ty niệm tình hai mươi mấy năm làm việc của bác ấy nên đưa cho họ chút tiền an ủi, chẳng phải nghĩa vụ và trách nhiệm mà là giúp đỡ. Còn về chuyện anh vẫn nhớ tình cũ, chúng ta hoàn toàn có thể giúp gia đình họ bằng những cách khác.”
“Được, nếu em đã nghĩ thế, anh cũng định để con trai của bác Trần vào Giang Nguyên làm việc… xem như là đãi ngộ bác Trần lúc còn sống.”
Hướng Viễn lập tức nhận ra ý tứ trong lời của anh, đột ngột biến sắc, không suy nghĩ gì mà nói ngay: “Làm sao thế được! Anh muốn giúp con trai bác ấy vào công ty thì cũng được nhưng còn định hướng chế độ nhân viên chính thức thì không được, tuyệt đối không được. Bây giờ đám nhân viên chính thức kia là tâm bệnh của cả công ty, em nghe anh và cũng nghe lời bố, không sửa đổi hợp đồng của họ thì để những người đó tự đào thải, nghỉ hưu người nào là bớt được người ấy, nhưng làm sao có thể tiếp tục chế độ dùng người hoang đường này được? Tóm lại em không đồng ý”.
Diệp Khiên Trạch lạnh nhạt: “Đó chẳng phải cách giúp gia đình họ trực tiếp và thực tế nhất hay sao? Vợ bác Trần ở nhà nội trợ, hai người con đều không có công ăn việc làm ổn định, con trai lớn của bác ấy đã từng làm ở đội thi công công trình, em cũng từng nói là Giang Nguyên tương lai sẽ đi từ sản xuất mở rộng ra thi công công trình nên chẳng phải đang thiếu những người như thế sao? Cho anh ta nhận đãi ngộ của một nhân viên chính thức là yêu cầu của anh ta và anh đã nhận lời”.
Diệp Khiên Trạch vừa dứt lời, sắc mặt Hướng Viễn lạnh lùng hẳn, cô nói: “Thì ra anh đã hứa hẹn với người ta, nói với em một tiếng chẳng qua là do phép lịch sự thôi đúng không? Diệp Khiên Trạch, lương thiện cũng có giới hạn nếu không sẽ làm hại người tốt. Con trai Trần Hữu Hoà dựa vào đâu mà “yêu cầu” anh? Hôm nay, anh đáp ứng yêu cầu của anh ta, ngày mai sẽ lại có vô số yêu cầu khác. Chuyện này đừng có mơ!”.
Hiếm có người nào chọc giận được Hướng Viễn mà chính mình lại không thay đổi sắc mặt, thế nhưng buồn một nỗi là, Diệp Khiên Trạch là một trong số đó- có lẽ cũng là người duy nhất. Anh khẽ cười: “Hướng Viễn, anh đã cho em làm chủ Giang Nguyên nhưng em đừng quên, anh cũng có quyền quyết định một việc gì đó.”
Câu này vừa thốt ra, Hướng Viễn đờ người một lúc, giận quá lại hoá cười: “Anh nhắc chuyện này với em? Phải rồi, sao em quên được, anh mới mang họ Diệp, cả cái Giang Nguyên này đều là của anh, anh muốn làm gì lại không được?”.
Diệp Khiên Trạch nắm lấy cổ tay Hướng Viễn trước khi cô bỏ đi, hạ giọng: “Thôi, chúng ta suy nghĩ khác nhau, đừng cãi cọ vì chuyện này nữa”.
Hướng Viễn hít một hơi thật sâu: “Được, chúng ta không cãi nhau. Em mệt rồi, ngủ trước đây”.
Chương 35
Hướng Viễn cũng chẳng có thời gian để bực bội chuyện này vì ngày khai trương khu nghỉ mát suối nước nóng đã gần kề trước mắt. Cô và Đằng Vân, hai người phụ trách chính, ngày nào cũng bận tối mắt tối mũi, trong đầu dày đặc những chuyện phải chuẩn bị cho ngày khai trương, những việc khác đều không chứa nổi.
Đêm trước hôm khai trương, họ làm một cuộc tổng kiểm tra lần cuối. Hướng Viễn và Đằng Vân đều là những người cầu toàn, đã làm việc thì phải dốc cạn tâm huyết mà làm nên hạng mục này đã hao phí của họ rất nhiều tiền của và tâm huyết, nay tên đã lên cung, bắt buộc phải bắn theo quỹ đạo đã vạch ra, nhắm trúng hồng tâm, tuyệt đối không được sai lệch.
Đến khi đã xác định nhân viên, vật tư của mỗi chi tiết đều đúng vị trí, không còn vấn đề gì nữa, chỉ đợi ngày đại các khai môn hôm sau thì đã khuya lắm rồi. Hướng Viễn không sốt ruột về nhà ngay mà thong thả dạo bộ ở con đường nhỏ thiết kế theo kiểu Lãnh Nam Viên Lâm, Đằng Vân cũng đi theo bên cạnh. “Anh cũng mệt quá rồi, mau về nhà nghỉ đi, ngày mai còn nhiều việc phải làm lắm”, Hướng Viễn cười đuổi anh về.
Đằng Vân đẩy gọng kính trên sóng mũi lên, đáp: “Câu này cũng dùng được với cô đấy chứ. Sao, vẫn cãi nhau với Diệp thiếu gia à? Hướng Viễn mà tôi quen không phải người so đo tính toán những chuyện vặt vãnh”.
Hướng Viễn cười bảo: “Rõ thế à? Tôi nên nói là do tâm sự tôi quá mỏng hay là do anh quan sát tinh tế đây?”
“Tôi chỉ cảm thán, cho dù trái tim một người to lớn đến đâu thì cũng bị những chuyện nhỏ nhặt hành hạ đến mệt mỏi.”
“Chuyện to, chuyện nhỏ?”. Hướng Viễn lẩm bẩm, sau đó đột nhiên hỏi một câu: “Đằng Vân, anh có tin Giang Nguyên sẽ trở thành một công ty lớn thật sự không? Như những công ty lớn như Vĩnh Khải, Trung Kiến ấy”
“Tin chứ”, Đằng Vân nói với vẻ khẳng định, “tôi tin cô thôi”.
Hướng Viễn cười khổ: “Tôi… tôi cũng chẳng qua là làm cho người ta thôi. Giang Nguyên họ Diệp, tôi họ Hướng, rõ ràng quá rồi còn gì? Nực cười là tôi lại tưởng mình vốn sống là người họ Diệp, chết là ma họ Diệp chứ. Gần đây, khi nghe ngừơi ta nói những lời ấy tôi mới giật mình tỉnh mộng”.
Đằng Vân chần chừ nhưng vẫn tỏ ra bình thản đáp: “Thực ra chỉ cần cô muốn thì họ Diệp hay họ Hướng cũng sẽ được định đoạt trong tích tắc mà thôi”.
Hướng Viễn sững sờ, quay sang nhìn anh, Đằng Vân đang nhắm mắt, lắng nghe âm thanh lạo xạo khi gió thôi qua những khóm trúc hai bên đường.
Phải rồi, đều trong tích tắc thôi. Một lên Thiên đường, một xuống Địa ngục.
Trái tim Hướng Viễn như con mèo hoang nhưng lại bị buộc chặt bởi một sợi dây thừng, buộc rất chặt.
Lúc này, đa số những nhân viện làm việc trong khu nghỉ mát đã yên giấc, chỉ còn đợi những bận rộn ngày mai. Cả một khuôn viên rộng lớn chìm trong tỉnh lặng, chỉ có tiếng thì thào của gió và lá cây, lúc cao lúc thấp như gần như xa… Hồi lâu sau, Hướng Viễn mới cảm thấy trái tim mình yên phận hơn trong khung cảnh tĩnh mịch này, cô nhìn Đằng Vân nói: “Đó không phải nỗi lo lắng của tôi”.
Đằng Vân mở mắt, khoanh hai tay lại, cười mà không nói gì.
Hướng Viễn lại cùng Đằng Vân đi tiếp, một vầng trăng non treo trên đỉnh ngôi chùa gần đó – xa vời, cô đơn như một giấc mộng.
Hướng Viễn chuyển chủ đề vào lúc thích hợp: “Nhìn kìa, mặt trăng xuất hiện rồi… Tôi đã kể với anh về ánh trăng ở quê tôi chưa nhỉ? Đã lâu rồi tôi chưa trở về. Thứ khiến tôi nghĩ đến nhiều nhất vẫn là ánh trăng quê nhà, lúc nằm mơ cũng nhớ, lúc tỉnh cũng không quên được… Nó sáng quá, sáng đến nỗi tôi không tìm được nơi nào để trốn. Nhưng nghĩ mãi, nghĩ mãi tôi cũng không rõ ánh trăng trong ký ức và ánh trăng đời thật có giống nhau không? Tại sao tôi chỉ nhớ những ngày tôi và Khiên Trạch còn ở Vụ Nguyên? Lúc đó, tôi luôn nghĩ ánh trăng lúc nào cũng tròn đầy không khuyết nhưng thực tế thì mỗi ngày nó đều thay đổi. Đằng Vân, anh nói đi, thứ tròn đầy kia có phải là mặt trăng không hay chỉ là hồi ức của tôi? Là hồi ức của tôi đã làm cho nó đẹp hơn”.
Đằng Vân cười rồi bắt chước Hướng Viễn, ngẩn cao đầu nhìn thật lâu như một đứa trẻ. Anh nói: “Dù là cùng một ánh trăng nhưng trong lòng mỗi người mỗi khác. Tôi còn nhớ lần hẹn đầu với người ấy, đó là một buổi tối, chúng tôi thuê một chiếc thuyền ra biển câu cá. Cô biết đấy, người ấy làm trong một cơ quan trọng yếu của chính phủ, chuyện gì cũng phải nghĩ đến có ảnh hưởng hay không, đối với quan hệ của chúng tôi, trước kia cũng cứ do dự không quyết định được… Chỉ có đêm hôm đó, mọi thứ đều thay đổi”. Lúc Đằng Vân nói, nụ cười bên khóe môi rất dịu dàng và ấm áp, đương nhiên Hướng Viễn biết “người ấy” mà Đằng Vân nhắc đến chính là người yêu đồng tính vô cùng thân mật của anh.
Đằng Vân nói tiếp: “Rất lâu về sau, mỗi khi nhắc đến đêm ấy, tôi thường nói, tôi nhớ rõ là vào một đêm trăng, ánh sáng khi tỏ khi mờ nhưng anh ấy lại khẳng định chắc chắn rằng đêm ấy không có trăng, biển còn có mưa nhỏ. Giờ tôi cũng không biết ký ức của tôi và anh ấy ai thật hơn. Có lẽ lúc ấy tôi hạnh phúc đến nỗi trời mưa cũng nhớ thành trăng sáng gió nhẹ hoặc cũng có thể hôm ấy anh ấy có tâm sự nên ký ức cũng thấm ước. Đương nhiên, có khả năng nhất là có trăng và cũng có mưa, có điều là thời tiết thay đổi. Ký ức chúng tôi là thế, luôn lựa chọn ghi nhớ những điều mà mình muốn nhớ, chẳng ai quan tâm đến sự thực như thế nào”.
Hướng Viễn lắng nghe hồi ức mang theo nụ cười của Đằng Vân rồi nói: “Thực ra, tôi rất hâm mộ anh”.
Tình yêu của Đằng Vân mới là trong sáng nhất, không màng danh lợi, địa vị, thậm chí cũng chẳng cần kết quả.
Cô nghĩ, không biết trong ký ức của Diệp Khiên Trạch, những đoạn có cô xuất hiện thì ánh trăng có đẹp như trong ký ức của cô không. Nếu họ quyết giữ ký ức cho riêng mình thì có khi nào đến phút cuối mới nhận ra, thực ra đó hoàn toàn là những cảnh tượng khác hẳn nhau? Nếu vậy thì chẳng thà quên đi nhưng trí nhớ của cô vốn xưa nay vẫn tốt như vậy.
Khu nghỉ mát suối nước nóng được chuẩn bị gần hai năm, cuối cùng đã khai trương vào một ngày đầu thu. Mọi việc đã được sắp xếp hoàn chỉnh nên hôm ấy chỉ việc vận hành theo kế hoạch. Nói như Hướng Viễn thì vở kịch hoàn hảo hay không cần phải xem lần công diễn đầu tiên có thành công hay không, nếu phút trên sân khấu xảy ra sơ suất sẽ khiến công lao chuẩn bị trước đó xem như lãng phí hoàn toàn. Trước đó cô đã bảo Đằng Vân sắp xếp chi tiết từng công việc cho những người phụ trách, từ chuyện lớn là tiếp đón những nhân vật quan trọng đến chuyện nhỏ là trang trí lọ hoa đều phải chuẩn bị kỹ lưỡng, mọi việc đều có người phụ trách. Hôm ấy mà thành công thì mọi người đều có thưởng, còn ai lơ là sẽ bị phạt. Bận nhưng không loạn, mọi thứ đều có trình tự mới là điều cô cần.
Mãi sau này, sự hoành tráng hôm khai trương khu nghỉ mát suối nước nóng của Giang Nguyên vẫn được dân trong ngành nhắc đến. Không cần nói đến cảnh tượng lộng lẫy hôm ấy ra sao, khách quý đến tham quan nườm nượp như thế nào mà chỉ cần nói đến lúc cắt băng khánh thành do Thư ký viện kiểm sát họ Kỷ và Phó thị trưởng phụ trách kinh tế của thành phố G thôi cũng đủ khiến mọi người ấn tượng. Những phóng viên được mời đến rất đông, những hoa chúc mừng kéo dài khắp một con phố, trên mỗi tấm thảm đỏ ở mọi nơi đều có những vị khách quý ăn mặt rất sang trọng, lộng lẫy khiến Diệp gia chưa bao giờ có ngày nào huy hoàng như vậy. Lúc Hướng Viễn bỏ tiền ra đầu tư cảm thấy ruột đau như cắt, giờ đây đã có được sự an ủi thỏa đáng nhưng không bỏ tiền ra thì làm sao thu tiền vào được? Nếu đã muốn chơi thì phải chơi cho đáng đồng tiền.
Lúc đích thân tiễn vị lãnh đạo lớn ra về, Hướng Viễn khom lưng đóng cửa xe cho họ, cười vẫy tay nhìn theo chiếc xe chạy xa dần rồi mới đứng ở đó nhìn về phía cổng lớn của khu nghỉ mát, cô chỉ thấy dưới bầu trời mùa thu cao xanh vô cùng, người người nô nức, huyên náo không ngừng.
Cô vẫn nhớ rõ, qua khỏi cổng lớn rồi qua một sảnh khuất, trên chiếc cột bên góc phải hành lang có đề mấy chữ triện rất tao nhã – Cựu Thời Minh Nguyệt Hữu Vô Trung. Khi ấy, Đằng Vân đã đề nghị đổi câu khác cho phù hợp hơn nhưng Hướng Viễn đã nói: “Thôi, bỏ tiền đó ra để làm gì, thế này được rồi”. Cô rất rõ, dưới sự ồn ào náo nhiệt như thế, dù có ánh trăng năm xưa thật thì “vô” cũng sẽ thắng “hữu”.
Khi yến tiệc bắt đầu, Hướng Viễn và Diệp Khiên Trạch lần lượt đi chào hỏi khách mời, đêm nay khách quý đến rất đông nhưng người nhà lại vắng mặt nhiều. Bà Diệp nằm trong bệnh viện đấu tranh giữa sự sống và cái chết đã lâu, hai tháng trước đã qua đời, theo căn dặn của Diệp Bỉnh Lâm, hậu sự được làm rất đơn giản. Diệp Bỉnh Lâm thậm chí còn không để các con ở lại mà mình ông ngồi bên hộp tro cốt của người vợ vắn số, sau đó đích thân đưa chiếc hộp lên chùa Lục Dung.
Vì chỉ có Diệp Linh mới là cốt nhục của bà Diệp nên cô đã được đưa về thọ tang mẹ. Khí sắc của cô khá hơn trước nhiều, thần trí xem ra cũng tỉnh táo, lúc nhìn thấy vợ chồng Diệp Khiên Trạch còn nở nụ cười với họ. Hôm ấy, Diệp Khiên Trạch tỏ ra đau buồn vì người mẹ kế xem anh như con ruột đã qua đời, không còn tâm trạng nào lo những điều khác. Hướng Viễn thấy Diệp Linh vuốt ve bên di ảnh của mẹ, sau đó thắp hương, cô không có kinh nghiệm nên làm mãi đến chảy nước mắt mà vẫn không thắp xong. Hướng Viễn bước đến giúp một tay, lúc đó Diệp Linh đã nói: “Cảm ơn”.
“Khách sáo làm gì, xem ra, em khá hơn nhiều rồi”, Hướng Viễn nói với Diệp Linh.
Diệp Linh cắm hương vào lư, mỉm cười vừa nói vừa chỉ vào di ảnh của bà Diệp: “Khỏe cũng ích gì, rồi cũng ốm mà chết, ai cũng sẽ có ngày này, chỉ là sớm hay muộn mà thôi”.
Tuy cô chỉ vào hướng di ảnh của Diệp thái thái, Hướng Viễn biết Diệp Linh nói đúng nhưng trong lòng vẫn có một cảm giác quái kỳ lạ. Cô đầu cảm thấy ngờ vực, rốt cuộc Diệp Linh đã khỏe hay là bệnh càng nặng thêm?
Diệp Bỉnh Lâm nãy giờ vẫn đứng một bên không trách móc gì, yên lặng một lúc rồi gật gù: “Đi trước là có phúc”.
Sau tang lễ, cuộc sống của Diệp Bỉnh Lâm càng lặng lẽ hơn, mỗi ngày nếu không ở trong viện điều trị đóng cửa đọc sách thì sẽ bảo người đưa ông đến chùa Lục Dung nghe tăng lữ giảng kinh, ông cũng ít chơi cờ hơn, chuyện công ty giao hết cho con trai và con dâu, rất hiếm khi hỏi đến. Nói bằng ý tứ trong quyển sách gối đầu giường của ông là, “Tuổi già chỉ cần yên, vạn sự không quan tâm”. Đến cả ngày khu nghỉ mát cắt băng khánh thành, ông cũng không xuất hiện, chỉ dặn Hướng Viễn: “Các con làm thì có gì mà bố không yên tâm, gặp mấy người bạn cũ thì thay bố hỏi thăm họ là được rồi”.
Tuy Diệp Linh nhìn có vẻ bình thường nhưng cũng chỉ có mặt một lúc khi yến tiệc bắt đầu. Diệp Khiên Trạch sợ Diệp Linh mệt quá sẽ xảy ra chuyện gì, lại biết Diệp Linh không thích xuất hiện ở chốn đông người nên bảo người đưa về. Diệp Quân tuy bảo nhất định sẽ đến khi anh và chị dâu một mực căn dặn nhưng vốn là học viên cảnh sát, hôm nay trường có việc nên cậu cũng không đến được.
Hướng Viễn hàn huyên một lúc với Trương Thiên Nhiên, lúc quay lại đã gặp ngay Diệp Bỉnh Văn. Ông ta vẫn áo mũ chỉnh tề, phong độ không giảm, khoác tay một cô gái trẻ nhìn mặt rất quen. Cô nghe Trương Thiên Nhiên nói đó là một “tiểu minh tinh” đã từng quay quảng cáo vài lần.
Đã gặp mặt nhau rồi nên Hướng Viễn tươi cười nghênh đón: “Lúc nãy cháu còn nói với Khiên Trạch, sao vẫn chưa thấy chú Hai đâu, thì ra có giai nhân kế bên, cố ý tránh xa bọn cháu”.
Diệp Bỉnh Văn cười tươi: “Sao lại không đến được, khu nghỉ mát này cũng có phần của tôi mà. Tốt lắm, cháu dâu à, lại lần nữa khâm phục mắt nhìn người của ông anh. Có cháu rồi thì cần đàn ông như Diệp Khiên Trạch làm gì nữa? Haha”.
Giọng cười ông ta không nhỏ nên rất nhiều người xung quanh đều quay lại nhìn. Hướng Viễn không hề tức giận, đảo mắt nhìn qua cổ tay của Diệp Bỉnh Văn, kinh ngạc kêu lên như phát giác ra châu lục mới: “Chú Hai bắt đầu tin Phật từ khi nào vậy? Chẳng lẽ chú đã làm gì có lỗi nên sợ gặp báo ứng?”, Trước khi sắc mặt Diệp Bỉnh Văn sa sầm, cô đã cười nói tiếp: “Cháu nói đùa thôi, chú Hai không để bụng chứ? Có điều nói đi nói lại thì vòng hạt gỗ trên tay chú, cháu thấy quen mắt lắm, giống như đã nhìn thấy ở đâu rồi”.
Kỳ thực đâu chỉ nhìn thấy, vòng hạt gỗ này là vật tùy thân của bà Diệp khi còn sống, từ khi ốm nặng phải vào viện bà chưa bao giờ cởi ra. Hướng Viễn nghe Diệp Khiên Trạch nói, đeo lên người có thể hóa vận xấu thành may mắn, bệnh sẽ biến mất, nhất định nó sẽ bảo vệ chủ nhân vượt qua hiểm nghèo. Kết quả là chiếc vòng lẫn tín ngưỡng đều không giúp được bà Diệp. Sau khi tế bào ung thư lan rộng ra, bà Diệp gầy đi rất nhanh, chiếc vòng vốn vừa cổ tay bà giờ đã có thể trôi xuống khuỷu tay. Hướng Viễn sợ bà Diệp thấy sẽ kinh hãi nên nhân lúc bà thiếp đi sau khi tiêm thuốc giảm đau, cô đã len lén gỡ vài hạt trên chiếc vòng ra để nó vẫn có vẻ vừa vặn với cổ tay bà. Chiếc vòng gỗ có hai mươi bốn hạt tròn giảm xuống còn hai mươi hai hạt, rồi hai mươi… Cuối cùng khi bà Diệp hấp hối, chiếc vòng chỉ còn lại mười sáu hạt. Khi thuốc giảm đau hết hiệu nghiệm, bà Diệp đau đớn khôn xiết, đã dùng răng cắn mạnh lên chiếc vòng gỗ trên tay, tuy không sâu lắm nhưng nhìn rất nổi bật. Khi bà Diệp qua đời, đích thân Hướng Viễn thay quần áo cho bà. Lúc đó Hướng Viễn đã lắp lại sáu hạt gỗ mà cô đã tháo ra vào chiếc vòng rồi đặt trong túi áo bà Diệp. Cô vốn ngỡ nó cũng theo chủ nhân hóa thành cát bụi nhưng bây giờ lại nhìn thấy trên tay Diệp Bỉnh Văn thì cô không thể không ngạc nhiên.
Diệp Bỉnh Văn vô thức đưa cổ tay lên, mân mê mấy hạt gỗ trên đó rồi đáp lại với vẻ lơ đãng: “Chắc cháu nhìn nhầm. Đây chẳng qua là loại vòng gỗ rất tầm thường, thấy quen cũng chẳng có gì là lạ, đeo nó là do thích thú với sự mới mẻ mà thôi”.
Hướng Viễn cười gằn trong bụng, chiếc vòng này đã qua tay cô không biết bao lần, hạt thứ mấy trên đó bị mẻ, hạt thứ mấy có dấu răng, cô đều rõ mồn một. Nực cười là Diệp Bỉnh Văn còn cố trấn tỉnh để nói dối, lừa được người khác chứ là sao lừa nổi cô? Có điều Hướng Viễn không có ý định vạch mặt mà chỉ vỗ vỗ vào trán mình, nói với vẻ bất lực: “Có lẽ gần đây nhiều việc quá làm cháu mụ mị cả đầu óc nên cứ nhìn nhầm, nghe nhầm, nhớ nhầm suốt. Nhắc mới nhớ, đêm trước khi nhìn mẹ chồng cháu qua đời, khoảng hơn ba giờ sáng, cháu không yên tâm nên đến xem thế nào, lại phát giác sau cánh cửa an toàn có người đang co rúm lại khóc ở đó. Mắt hoa đầu váng thế nào mà suýt nữa cháu tưởng người đang khóc đó là chú Hai nữa đấy”.
Diệp Bỉnh Văn không nói gì nữa, chỉ nhìn Hướng Viễn chằm chằm. Khóe môi Hướng Viễn thấp thoáng nụ cười châm biếm khiến ông cảm thấy mình như một con khỉ, tự cho là mình có bảy mươi hai phép biến hóa thần thông quảng đại nhưng thực tế lại không che giấu nổi cô.
Ông ta cố kiềm chế, ra hiệu cho cô gái trẻ kia đi lấy đồ uống. Sau khi cô gái xinh đẹp kia đi rồi, ông ta lập tức sa sầm mặt, nghiến răng nói với Hướng Viễn: “Chuyện của tôi không đến lượt cô lo. Cô đừng tưởng mọi người trong Diệp gia đều bị cô nắm thóp”.
Hướng Viễn dồn sự chú ý lên chiếc vòng cổ trên tay Diệp Bỉnh Văn với vẻ thú vị, điềm nhiên nói: “Đương nhiên, tôi không hề có hứng thú với những chuyện xa xưa cũ rích. Có điều nể tình chúng ta là người một nhà mà nhắc nhở chú Hai rằng chiếc vòng này đeo trên tay chú, e rằng không phải là ý nguyện của người đã khuất. Mẹ chồng tôi sinh thời không muốn nhìn thấy chú, bà mất rồi chú lén lấy di vật theo bên mình, không sợ gặp ác mộng ư?”
“Cô hiểu cái gì?” Diệp Bỉnh Văn như ý thức được tâm trạng mình đã quá mất bình tĩnh, không nên như vậy vào lúc này nên cố gắng kiềm chế rồi quay đầu đi, mấy giây sau hạ giọng nói, song vẫn không thể khống chế được tâm trạng của mình: “Cô chẳng hiểu gì hết, tôi và bà ấy…”
“Chỉ là tôi hiểu chuyện gì với phụ nữ là hành động thú vật nhất, không thể tha thứ được nhất”.
“Tôi đã làm, nhưng tôi hối hận… rất hối hận rồi…”. Giọng Diệp Bỉnh Văn mỗi lúc một thấp, ông ta như đang lảm nhảm một mình, như đang tự nhủ, cũng như đang nói với một người đã không còn: “Tôi đã cầu xin cô ấy, về sau, tôi nguyện để cô ấy kiện tôi, nguyện ngồi tù, nguyện kết hôn với cô ấy, mãi mãi không bao giờ hỏi cô ấy đứa trẻ ấy có phải con của tôi hay không, nguyện làm người đàn ông tốt chăm sóc mẹ con cô ấy suốt đời… Nhưng cô ấy không hề cho tôi một cơ hội, một lần cũng không. Cô ấy thà bị gả cho anh tôi, gả cho một người đàn ông đã vứt bỏ cô ấy về nông thôn cưới vợ sinh con, cũng không chịu cho tôi lấy một lần, đến chết cũng không. Nếu không phải do tôi cố ý lừa cô ấy, dọa sẽ nói mọi chuyện trước kia cho anh trai nghe thì cô ấy sẽ chẳng chịu nói chuyện với tôi. Cùng một sai lầm nhưng cô ấy có thể tha thứ cho anh tôi, chăm sóc con của anh ta và người khác mà không chịu tha thứ cho tôi. Có công bằng không, cô nói xem?”
Hướng Viễn vừa uống nước trong cốc vừa nghe Diệp Bỉnh Lâm lảm nhảm như đang tận hưởng từng câu từng chữ trong lời tâm sự của ông ta, nhưng cô chẳng có hứng thú trả lời, chứ đừng nói là tranh cãi.
Chí khí, phong độ và vẻ từng trải của Diệp Bỉnh Văn lúc này đã biến mất. Lúc này, trước mặt Hướng Viễn chỉ là một người đàn ông thất bại, ông ta nói rồi ngừng, ngừng rồi nói mà vẫn không thấy thoải mái hơn, cho đến khi ánh mắt khinh bỉ của Hướng Viễn như một gáo nước lạnh tạt vào mặt, ông ta mới ý thức được việc mình bị cô gái này chọc giận là điều hết sức ngu ngốc. Trước khi cầm cốc nước mà cô gái đi cùng mang về, ông ta đã kịp thu dọn hết những nét thê thảm trên gương mặt cười lạnh một tiếng, nói: “Tôi quên mất, cô là người máu lạnh đến không thể máu lạnh hơn, nói những lời này cô không hiểu được đâu”.
Hướng Viễn gật đầu tán đồng: “Cũng may là tôi không hiểu được”.