Những điều tác giả “Mưa Đỏ” viết không đúng với thực tế chiến trường Quảng Trị năm 1972
Tác phẩm “Mưa Đỏ” của Chu Lai được viết trong thời gian kéo dài nhiều năm. Trong chiến tranh, Chu Lai là bộ đội đặc công hoạt động ở vùng ven Sài Gòn. Theo lời ông kể, “Tôi đã đến Thành cổ Quảng Trị 7 ngày đêm, thậm chí nằm ở ngôi mộ để nghe tiếng rì rầm của tâm linh, để viết tiểu thuyết Mưa đỏ”, và ở cuối tác phẩm dài 38 chương, ông ghi “Viết tại các nhà sáng tác: Nha Trang – Đà Lạt – Tam Đảo / Lập thu 2015”. Sau khi xuất bản lần thứ nhất, ngày 29/04/2016, sách được Nguyễn Hoàng Hắc giới thiệu “là tiểu thuyết sử thi mới nhất của ông [Chu Lai], kết quả sau nhiều năm trăn trở và sáng tạo. Tiểu thuyết lấy bối cảnh chính là cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972, cả ở hai bên chiến tuyến (ta và địch), xoay quanh trục hai nhân vật chính: Cường (chiến sĩ Giải phóng) và Quang (tên chỉ huy hắc báo của ngụy). Bên cạnh đó là bối cảnh trên bàn đàm phán ở Paris với nhân vật bà mẹ của Cường – một nhà ngoại giao là thành viên của đoàn đàm phán phía ta…”
Tác giả kể kịch bản phim Mưa đỏ được ông viết cách đây 15 năm, năm 2010, các hãng phim rất thích nhưng không thể nào đủ kinh phí quay. Sau khi không có đoàn phim nào quay thì ông, theo ‘thói thâm canh tăng vụ’ của các nhà văn, đã viết thành tiểu thuyết năm 2015. Chu Lai cũng cho biết việc viết kịch bản Mưa đỏ là do ông được “đặt hàng”, chứ nếu không có lẽ ông cũng không viết. Ngày đó, có một doanh nhân Việt kiều Thái Lan đến tìm ông để đặt hàng ông viết kịch bản phim về trận Thành cổ Quảng Trị. Doanh nhân này có người anh ruột tên Vũ Huy Cường, hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị. Nên ông ấy muốn mẹ của mình khi còn sống có thể nhìn thấy hình ảnh con trai và các đồng đội trước khi hy sinh. Vì vậy ông đến nhà Chu Lai đặt vấn đề viết kịch bản phim. Chu Lai thấy đây là một đề tài quá hay, ông chưa bao giờ viết, nhưng nay gặp gia đình có con hy sinh ở đó nhờ viết thì ông như gặp được cảm hứng sáng tạo tự thân. Chu Lai nhận lời và kịch bản phim Mưa đỏ ra đời. Tiếc là khi phim Mưa đỏ được phát hành rất thành công dịp này thì bà mẹ của liệt sĩ Cường đã mất.
Thời gian vừa qua, sau khi cuốn “Mưa Đỏ” được nữ đạo diễn Thượng tá Đặng Thái Huyền dựng thành phim, theo đơn đặt hàng cũng như “sử dụng ngân sách của nhà nước – được triển khai theo chủ trương, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trực tiếp của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhờ sự chỉ đạo, định hướng sát sao ngay từ khâu kịch bản cho đến quá trình tổ chức sản xuất đã bảo đảm bộ phim vừa phản ánh trung thực, sinh động một giai đoạn lịch sử hào hùng, vừa thể hiện đúng tinh thần chính trị, tư tưởng và nghệ thuật mà Quân ủy trung ương đặt ra”, theo lời ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh. Cuốn phim đã bị “cháy vé” xem, riêng cuốn sách cũng bị “cháy” bản in, độc giả đặt mua phải chờ đợi phía xuất bản kịp in và kịp gửi.
Cuốn phim được cho là đã “tái hiện bi tráng cuộc chiến đấu ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972, biểu tượng bất diệt về tinh thần quả cảm, sự hy sinh to lớn của quân và dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc”. Theo nhà báo Hà Thúy Phương viết trên báo Dân Việt ngày 13/09/2025, “Đây là một trong những dự án điện ảnh trọng điểm do Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng giao Điện ảnh Quân đội nhân dân thực hiện, được xem như dấu ấn nổi bật của điện ảnh cách mạng Việt Nam.”
Như thế, vấn đề của cuốn phim là dù đã “được chỉ đạo, định hướng sát sao ngay từ khâu kịch bản cho đến quá trình tổ chức sản xuất đã bảo đảm bộ phim vừa phản ánh trung thực, sinh động một giai đoạn lịch sử hào hùng” – nhưng lại theo lời tác giả Chu Lai để mang vào phim những chi tiết bị ghi nhận và hư cấu sai sự thực – là phần trách nhiệm của bên đặt hàng và bên thực hiện cuốn phim. Ở đây, chúng ta chỉ thử lược qua cuốn sách, để xem trong những năm tháng kéo dài việc ghi nhận và kiểm chứng, tác giả Chu Lai đã thai nghén đứa con của mình như thế nào.
1. “Ái Tử”
Mở đầu chương 5, tác giả viết: “Trước mắt ông là thị xã Quảng Trị đang nằm im lìm, thoi thóp bên dòng Thạch Hãn. Dòng sông mùa này chưa có nhiều nước nên nó giống như một vành khăn xanh vắt qua nhà cửa, đất đai, đường sá, làng mạc rồi uể oải nối ra cửa biển Ái Tử. Một cửa biển có cái tên Mẹ Con thao thiết thế này mà giờ đây đen đặc những ụ pháo nòng dài, đen đặc những con tàu gầm ghì súng ống như sẵn sàng lao lên làm cuộc cày nát đất liền.”
“Ái Tử”, từ tiếng Hán 愛子, là tên làng thuộc xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, nằm ở vị trí cách thị xã Quảng Trị khoảng hơn 3km về hướng Tây Bắc. Đây là nơi nhạc sĩ Duy Khánh đã lấy câu ca dao “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử, Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu” để làm điệp khúc cho nhạc phẩm “Lối Về Đất Mẹ” của mình, phát hành ở Sài Gòn năm 1965.
Quân đội Mỹ đã san bằng khu vực đất đai nằm giữa Quốc lộ 1 và sông Thạch Hãn để thiết lập căn cứ quân sự và sân bay Ái Tử vào năm 1967. Khi lính Mỹ bắt đầu triệt thoái vào cuối năm 1971, căn cứ Ái Tử được bàn giao lại cho phía VNCH, dùng làm Bộ chỉ huy Sư đoàn 3 Bộ Binh, được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1971 tại căn cứ nầy, do Tướng Vũ Văn Giai làm tư lệnh cho đến khi bị quân “Giải phóng” chiếm hôm 30/04/1972, phải dời về Căn cứ Hòa Khánh ở phía Tây thành phố Đà Nẵng.
Cũng ở chương 5 nầy, tác giả lặp lại những gì mà báo chí quốc tế thời bấy giờ mô tả cảnh chết chóc do súng đạn của phía Bắc quân gây nên cảnh “Đại Lộ Kinh Hoàng” trong những ngày cuối tháng Tư và đầu tháng Năm 1972 ở vị trí giữa cầu Bến Đá và cầu Trường Phước trên đoạn Quốc lộ 1 dài 5274 mét (https://usvietnam.uoregon.edu/tu-lieu-lich-su-hot-xac-dong-bao-tu-nan-tren-dai-lo-kinh-hoang-1972/).
Ông Chu Lai viết: “Lúc đó, từ trên các chiến hạm Mỹ đậu ngoài khơi, từ những cao điểm nơi cửa Ái Tử, bất thần những nòng pháo đen sì ngóc đầu khạc lửa. Những tiếng nổ, những cột khói úp chụp xuống thị xã và các vùng lân cận. Úp chụp xuống một dòng người đông vô kể đang lũ lượt, hoảng loạn, bế bồng, gồng gánh nhau chạy ra khỏi vùng lửa đạn, ra khỏi thị xã.
Pháo vẫn nổ cấp tập. Tiếng đạn rít trong thinh không sằng sặc như tiếng cười của quỷ. Trong dòng di tản hỗn loạn đã có thân người, nhóm người tung lên, quật xuống. Tiếng kêu khóc, tiếng rên rỉ, giãy giụa, quằn quại, máu chảy thành vũng thành vệt, láng nhầy mặt đường. Lại một chiếc xe đò bốc lửa, nổ tung. Chiếc xe đò nữa, mảnh vỡ bay lên như xác pháo hồng. Một người đàn ông cháy đen như khúc củi bên đường, nước dịch rỉ ra làm dính nhớp cả những bầy ruồi đang sà xuống. Một đứa trẻ bung hết quần áo chạy như hóa dại gào thét gọi mẹ. Một người mẹ trẻ nằm chết vùi trong vệ cỏ để lộ những mảng trắng xanh xao trên da thịt. Đứa bé sơ sinh nằm cạnh không hay, cứ mãi rúc đôi môi nhỏ xíu vào khuôn ngực bết máu của người mẹ mà bú…”
Như thế, cái địa danh “Ái Tử” đã thấm sâu vào não trạng của tác giả, khi ông ấy lặp lại lần thứ 3 chùm chữ “cửa Ái Tử” ở chương 25: “Anh kéo cô gái vào sát người, nâng khuôn cằm mảnh mai của cô lên… Mắt cô hơi nhắm lại, cặp môi tai tái run run chờ đợi… Nhưng cái chờ đợi cồn cào ấy chưa kịp trao nhau thì tiếng rít của pháo từ cửa Ái Tử bay vào đã xé ngang đôi môi họ ra.”
Thật ra, do cung cách làm việc quá tự tin đang khi bị thính lực và trí nhớ của mình bội phản, lại không kiểm chứng rạch ròi, nên ông Chu Lai đã lầm lẫn giữa hai địa danh “Ái Tử” và “Cửa Việt” – là một nơi khác nằm cách xa căn cứ Ái Tử 15 km theo hướng chính Bắc. Trên bản đồ hành quân, Căn cứ Ái Tử nằm ở tọa độ 16° 776.173 độ vỹ Bắc và 107° 161.586 độ kinh Đông, trong khi Cửa Việt nằm ở 16° 904.588 độ vỹ Bắc và 107° 191.418 độ kinh Đông.
2. “Hắc Báo” và “Nhảy Dù”
Bắt đầu ở chương 9 đến chương cuối số 38, tác giả đã lặp đi lặp lại từ “Hắc Báo” đến 26 lượt.
Để giới hạn độ dài của bài viết này, ở đây người viết chỉ dẫn lần thứ nhất: (1) “Tai mắt của các người chính là Đại đội Hắc Báo do Thiếu úy Quang chỉ huy kia.” Và lần thứ 26: (26) “Chỗ đó, theo lệnh của Quang, hai gã Hắc Báo to con, thân hình dềnh dàng, đen mun, tóc tai cượp gáy như hai con báo đen hùng hổ nhảy vào như muốn cắn xé anh ra làm trăm mảnh.”

“Hắc Báo” là đơn vị của nhân vật phản diện trong tác phẩm và trong cuốn phim. Do đó, tác giả không thể “hư cấu” đến mức thiếu hiểu biết về nhân vật và đơn vị quan trọng này
Ở chương 2, ông ấy miêu tả về Quang là một quân nhân thuộc binh chủng Nhảy Dù: “Trong một căn nhà xây theo lối cổ u trầm, xinh xắn, có vườn cây, hòn non bộ bao quanh, một thiếu úy dù khá bảnh trai, mắt sáng, nước da ngăm đen, khuôn mặt lạnh hiện rõ vẻ phớt đời đang ngồi trước mẹ, một người đàn bà mà mọi cử chỉ, lời nói, ăn mặc, đi lại, đến cái nhướng mắt, cách cầm chén trà cũng đều toát lên vẻ quyền quý, sang giàu.” Và ở cuối chương nầy, Chu Lai đã lặp lại, “Thiếu úy Quang đi đến bên mẹ, ôm khẽ lấy bờ vai mảnh dẻ của mẹ để yên một lát rồi vội chụp chiếc mũ dù nâu lên đầu, ra nhanh. Từ dưới cổng, một tiếng động cơ xe Jeep rú lên rồi xa dần.” Cũng ngay trong câu nầy, tác giả đã nhầm lẫn màu mũ đỏ của binh chủng Nhảy Dù qua màu nâu của lính Biệt Động Quân.
Qua chương 5, tác giả đã nhắc lại về bình chủng của nhân vật Quang là lính dù: “Từ trên sườn đồi, Thiếu úy Quang và tốp lính dù của mình qua chiếc ống nhòm có độ phân giải cao đã nhìn thấy hết thảy.” Trong cùng chương sách nầy, ông viết tiếp: “Không dừng lại, chính tao sẽ xách đại đội dù về hỏi tội chúng. Phóng lẹ đi!”, và “Nơi đó hiện diện một nữ sinh vận áo dài trắng, tóc vén cao, khuôn mặt thanh thoát, sáng trắng, đôi mắt hơi xếch, đen huyền đẹp đến nao lòng chiếu thẳng vào đám đông, chiếu thẳng vào cả toán lính dù của Quang mặc thường phục đứng lẩn quất phía dưới, cách hơi xa một đoạn.”
Ở chương 7, Chu Lai viết: “Và người chèo không ai khác chính là cô gái có tên là Hồng đã dứt đứa bé ra khỏi vú mẹ trong buổi chạy loạn hôm rồi và cũng là cô sinh viên áo trắng diễn thuyết trên sân trường đã làm cho viên Thiếu úy biệt động dù chao đảo trước đó.” Như thế, tác giả đã bắt đầu lạc lối giữa “biệt động” và “nhảy dù”.
Qua chương 9, tác giả đã trộn lẫn hai sắc lính miền Nam vào cùng một trận đánh: “Cách Thành cổ về phía Tây Nam chừng chục cây số, trong một tòa nhà được đắp bao cát xung quanh, cũng có khoảng mươi sĩ quan cấp tướng cấp tá, cả cấp úy, người thì vận đồ dù, người thì đội mũ nồi nâu đang ngồi nghiêm ngắn trước một tấm bản đồ căng rộng trên tường. Trong đó để ý thấy có cả vóc dáng to lớn, đen rầm của Thiếu úy Quang đứng sau cùng cũng đang càu cạu nhìn lên.”
Đến chương 15, tác giả mô tả, “Nhìn sang cả cái tình huống đã khiến cho hắn không thể không kinh ngạc và sau đó còn lại rất lâu trong tâm tưởng, đó là lúc con người chão rừng kia đã đè nghiến được một gã lính dù to khỏe của hắn xuống đất…”
Chưa hết, ở chương 17, ông Chu Lai viết: “- Nếu lính dù mình ai cũng được như hắn thì cái Thành cổ kia ta đã làm cỏ từ lâu rồi.” Đến chương 21, tác giả lại ghi: “Rồi cái gì khó lại phải dính đến tay lính dù thôi…” và “- Nhưng trong sư đoàn dù của tôi, loại thiện chiến, chịu chơi như hắn không có nhiều, nếu thay hết có khác gì con cá bị rút hết xương?”
Theo những mô tả này của Chu Lai, đơn vị của nhân vật Quang là một “đơn vị biệt động” của lực lượng Nhảy Dù mang tên là “Hắc Báo”.
Rõ ràng nhà văn Chu Lai đã không nhất quán về binh chủng của nhân vật phản diện chính của mình — là Quang, khi không đủ kiến thức để phân biệt giữa các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân của VNCH, thậm chí không nắm vững màu mũ đỏ, mũ xanh và mũ nâu thuộc về binh chủng nào.
Mặc dù Đại tá Chu Lai không chiến đấu ở thành cổ Quảng Trị, nhưng xin hỏi, ai và những ai là kẻ đã cho đại tá thông tin thất thiệt về lính Hắc Báo có mặt ở chiến trường Quảng Trị trong thời gian 81 ngày, từ 28/6/1972 đến 16/9/1972?
Nếu tìm đọc lại thật kỹ các văn kiện lịch sử về trận thị xã Quảng Trị, ông Chu Lai sẽ phải giật mình vì sự mơ ngủ của mình khi nhắc đến Đại đội Hắc Báo liên tục như đã.
Ở mục “Thị xã Quảng Trị thất thủ” trong cuốn “Cuộc tấn công mùa Phục sinh năm 1972”, tác giả Ngô Quang Trưởng đã phân tích rất chi tiết về biến cố VNCH mất thị xã Quảng Trị hôm 1/05/1972:
“Các hành động cuối cùng của Bắc Quân góp phần vào biến cố thất thủ thành phố Quảng Trị xảy ra trong tuần cuối của tháng Tư. Bấy giờ, ảnh hưởng của sự căng thẳng và chấn thương tâm lý sau bốn tuần chiến tranh quy ước đối với binh sĩ VNCH vốn không được chuẩn bị kỹ đã ảnh hưởng đến kỷ luật của đơn vị và tính hiệu quả. Đã qua rồi những mảnh vụn cuối cùng sót lại của lòng tự tin và sự cam kết. Các đơn vị của SĐ3 đánh đấm mà không có niềm tin và trên thực tế còn bị bỏ mặc để tự bảo vệ mình. Khu vực trách nhiệm của sư đoàn đã teo tóp lại theo với thời gian mỗi ngày trôi qua.
Trong thời gian này, các cuộc tấn công của địch từ phía Tây sát ranh giới tỉnh Thừa Thiên đã cắt đứt QL1 nối vào phía Nam và ngăn chặn tất cả các phương tiện giao thông của quân bạn trên một đoạn đường dài 7 km. Biến cố ấy đã cô lập hóa lực lượng QĐI còn trên phần đất tỉnh Quảng Trị và hoàn toàn cắt đứt mạch sống để duy trì họ trong tình trạng chiến đấu. Phản ứng đầu tiên của Tư Lệnh QĐI trước tình huống này là một chùm các mệnh lệnh buộc các đơn vị hậu cần VNCH phải mang các đoàn công voa vượt qua các chướng ngại vật của địch. Tiếp theo, tư lệnh SĐ3 liên tục nhận lệnh phải giải tỏa áp lực trên QL1 từ phía Bắc. Quân lệnh như thế bắt buộc Tướng Giai phải chuyển hướng một thiết đoàn kỵ binh từ vị trí tiền tiêu quan trọng gần Quảng Trị để dồn hỏa lực về địa bàn hành quân ở phía Nam. Cuối cùng, tư lệnh QĐI còn quyết định lấy một tiểu đoàn TQLC mới dành cho việc bảo vệ Huế để giải tỏa QL1 từ phía Nam. Những cuộc chuyển quân này đã rốt ráo làm cạn kiệt nguồn nhiên liệu và đạn dược tối cần ở Quảng Trị mà vẫn không thành công trong nỗ lực khai thông tĩnh mạch hậu cần quan trọng này.
Thời tiết đặc biệt xấu vào ngày 27 tháng 4 và địch đã tận dụng lợi thế ấy. Các hoạt động quân sự trong ngày hôm đó báo hiệu màn khởi đầu đợt tấn công của Bắc Quân để giành tất cả phần lãnh thổ còn sót lại từ tay quân đội VNCH ở tỉnh Quảng Trị. Dọc theo tuyến phòng thủ mới của SĐ3 vốn đã bị thu hẹp và ép sát đến vùng ngoại ô phía Đông, phía Bắc và phía Tây của thị xã Quảng Trị, các đơn vị báo cáo hoặc chạm súng hoặc bị pháo tới tấp. Trong suốt ngày hôm ấy, tất cả các đơn vị tiền tiêu của sư đoàn đều bị pháo và bị bộ binh địch được xe tăng yểm trợ tiến đánh. Hầu hết các đơn vị đều bị mất một số lãnh thổ nhưng vẫn cố bám giữ một cách bấp bênh. Vào cuối ngày, phần lớn chiến xa của LĐ1/KB bị đẩy lùi từ hai đến ba cây số trên QL1 trong khi hỏa lực pháo binh của địch vẫn tập trung như vũ bão xuống Căn cứ Quảng Trị. Đáp lại lời tuyên bố tình trạng chiến thuật khẩn cấp của tư lệnh SĐ3, máy bay khu trục và B-52 của Mỹ đã can trường bất chấp thời tiết bất lợi để ngăn chặn sức tiến quân của địch trên đất Quảng Trị.
Ngày hôm sau, 28 tháng 4, xe tăng địch tiến sát cầu Quảng Trị, cách thành phố Quảng Trị khoảng 2 km về phía Tây Nam, là địa bàn trách nhiệm của TrĐ2. Thiết đoàn kỵ binh được gửi đến tăng phái cho Trung Đoàn 2 đang làm nhiệm vụ trấn giữ cầu buộc phải rút lui. Các thiết đoàn khác của LĐ1/KB cũng bị đánh bật trong ngày và đã rút lui ngót một cây số về phía bắc của Căn cứ Quảng Trị. Lúc ấy chỉ huy trưởng lữ đoàn bị thương và được tản thương. Với việc đầu tàu thương vong ấy, kỷ luật sụp đổ và lính LĐ1 chạy dọc QL1 trốn về phía Nam, tràn qua chướng ngại vật do LĐ147 dựng lên.
TrĐ57 trong thời gian đó đã trở nên mất hiệu quả. Người chỉ huy đơn vị không biết gì về hiện tình của hai tiểu đoàn mình gần thành phố Đông Hà. Nhúm quân binh duy nhất mà trung đoàn trưởng đang chỉ huy chỉ là một trung đội trinh sát. Suốt đêm, lính tráng tiếp tục tuôn về phía Nam. Đơn vị duy nhất còn hiệu quả đang bảo vệ căn cứ chiến đấu Quảng Trị là LĐ147 và cánh quân nầy bị pháo nặng 130 ly dập không ngừng nghỉ.
Đến ngày 29 tháng 4, tình hình Quảng Trị đã trở nên nghiêm trọng. Sáng kiến mới của địch xoay qua một nỗ lực chính khác. Về phần QLVNCH, các chỉ huy đơn vị vào thời điểm này hoàn toàn âu lo về tình trạng thiếu hụt nhiên liệu và đạn dược. Một số súng bích kích pháo đành phải được phá hủy sau khi toàn thể đạn dược dự trữ đã sử dụng sạch. Nỗ lực của VNCH nhằm khai thông QL1 bấy giờ tiến triển với tốc độ của loài rùa vì thiếu phối hợp và nỗ lực tích cực; triển vọng của biện pháp nầy không có gì hứa hẹn. Quảng Trị được tiếp viện bằng trực thăng là phương pháp vô cùng liều lĩnh khi máy bay tiến vào gần thành phố, nhất là đường bay dọc theo QL1.
Đối diện với thảm họa chỉ mành treo chuông này, hôm 30 tháng Tư, Tướng Giai bèn triệu tập các chỉ huy cấp dưới đến bản doanh tư lệnh và thuyết trình kế hoạch di tản về phía Nam sông Thạch Hãn. Về cơ bản, kế hoạch bao gồm việc giao cho một lữ đoàn TQLC bảo vệ thành phố Quảng Trị bằng cách án ngữ tuyến phòng thủ dọc bờ phía Nam Thạch Hãn với bộ binh và Biệt Động Quân trong khi về phía Nam tung đủ xe tăng và các đơn vị kỵ binh làm nhiệm vụ cấp bách khai thông QL1. Tất cả các đơn vị được lệnh phải chuyển quân vào sáng hôm sau, 1 tháng Năm. Khi được thông báo về kế hoạch rút quân của Tướng Giai, Tướng Lãm đã ngầm đồng ý mặc dù ông chưa bao giờ công khai xác nhận việc chấp thuận. Ông ta cũng không đưa ra bất kỳ chỉ thị nào cho tư lệnh SĐ3 về việc di tản.

Tuy nhiên, vào sáng ngày 1 tháng 5, Tướng Lãm gọi cho tư lệnh SĐ3 nói rằng ông không hề chấp thuận kế hoạch rút quân. Ông lệnh cho Tướng Giai phải xác quyết là tất cả các đơn vị phải trụ lại tại vị trí mình và bảo vệ “bằng bất cứ giá nào.” Ông cũng minh định với Tướng Giai rằng không bất cứ đơn vị nào được rút lui trừ phi đích thân ông cho phép. Phản lệnh vào giờ thứ 25 của Tướng Lãm hóa ra chỉ là sự lặp lại chỉ thị của Tổng thống Thiệu vừa mới được nhận từ Sài Gòn. Quyết định này đã được đưa ra có lẽ là do cuộc đàm phán tại Paris vừa được nối lại sau khi bị phái đoàn VNCH tẩy chay kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược của phía Bắc Quân.
Việc cứ bốc điện thoại và ban ra một phản lệnh thì chẳng có gì dễ dàng hơn. Tại mặt trận và dưới áp lực nặng nề của địch quân, kiểu lệnh lạc trống đánh xuôi kèn thổi ngược như thế hẳn phải dẫn đến một cơn ác mộng do ngộ nhận và hỗn quan hỗn quân. Thậm chí Tướng Giai không đủ thời giờ để nghịch đảo các mệnh lệnh trước đó của chính mình đồng thời truyền đạt mệnh lệnh mới xuống cấp dưới qua một chuỗi các cuộc gọi vô tuyến. Cộng thêm vào đó, tất cả các chỉ huy trưởng lữ đoàn và trung đoàn không ở tư thế để chấp hành các mệnh lệnh mới. Một vài người trong số họ báo cáo rằng các đơn vị của mình đã chuyển đến các vị trí mới theo đúng kế hoạch trước; kẻ khác thẳng thừng từ chối hủy đổi một phương án đã được thi hành. Phía Tướng Giai tiếp tục thuyết phục họ chấp hành các lệnh mới của QĐI vừa ban hành. Ông nhắc lại các quân lệnh mới và nhấn mạnh mỗi đơn vị phải tuân thủ. Ông cũng hủy bỏ lệnh di tản bộ chỉ huy của mình trước kia, và bám trụ lại ở thành phố Quảng Trị.
Và cứ thế, trong vòng bốn giờ đồng hồ, các tuyến phòng thủ được phân nhiệm của QLVNCH sụp đổ hoàn toàn. Các đơn vị đóng quân ở vị trí phía Bắc xung quanh Căn cứ Quảng Trị tràn qua sông Thạch Hãn và tiếp tục ùa về phía Nam cứ như nước vỡ bờ. Các đơn vị cơ giới đến được đầu cầu Quảng Trị thì không thể vượt qua; cây cầu đã bị phá hủy. Họ bỏ rơi lại tất cả các xe cộ và thiết bị và vượt sông ở chỗ cạn để xuôi Nam. Trên bờ Nam của dòng sông, các đơn vị bộ binh không còn ở vị trí mới được phân nhiệm. Ngay khi phát hiện xe tăng VNCH đã rút về phía Nam, họ đã đào ngũ khỏi vị trí của mình và trà trộn vào đoàn quân tháo chạy. Nhưng đoàn quân chạy làng này không tiến xa. Xe tăng và xe bọc thép bắt đầu cạn nhiên liệu và từng chiếc một bị bỏ rơi lại dọc theo QL1. Đơn vị duy nhất còn duy trì được sự thống nhất và kỷ luật hoàn toàn trong thời điểm này là LĐ147 đang làm nhiệm vụ bảo vệ thành phố Quảng Trị. Cuối cùng, lữ đoàn trưởng nhận định rằng tình hình đã tuyệt vọng nên ra lệnh cho đơn vị mình chuyển quân rời khỏi Quảng Trị vào lúc 14g30, bỏ lại vị tư lệnh SĐ3 và dăm sĩ quan tham mưu của ông ta trong thành cổ không còn được bảo vệ.
Ebola 2026: Đáng lo đến mức nào?
Mạng lưới tội phạm tại sân bay Canada: Bạn có thể trở thành “con lừa thồ” bất cứ lúc nào!
Chuyện một người có cái tên xấu
Sau chót, khi biết điều gì đang xảy ra, tư lệnh SĐ3 và bầu đoàn thê tử của ông đã lên ba chiếc xe bọc thép với hy vọng bắt kịp đoàn quân binh của mình đang phía trước. Điều này xảy ra khi các trực thăng của Mỹ đến để giải cứu các cố vấn sư đoàn và nhân viên người Việt Nam của họ.
Nỗ lực của tư lệnh SĐ3 nhằm nhập bọn với đoàn quân của ông cũng thất bại nốt. QL1 bị tắc nghẽn bởi đoàn người tị nạn và binh sĩ tan hàng, trộn chung với tất cả các loại xe cộ quân sự và dân sự, ai cũng điên cuồng tìm đường vào Huế dưới những đợt mưa pháo man rợ nhất giữa biển lửa của địch nhằm cầm chân. Tướng Giai buộc lòng phải quay trở về thành cổ và sau đó ông cùng nhóm tham mưu bỏ túi của ông đã được các trực thăng Mỹ bốc đi. Khi “gã khổng lồ xanh” cuối cùng cất cánh lúc 16g55 với cố vấn trưởng SĐ3 trên tàu, chiếc trực thăng đã bị địch quân dùng súng nhỏ bắn theo. Vào giờ đó, những bộ đội miền Bắc đầu tiên đã thâm nhập vào thành cổ Quảng Trị. Thành phố Quảng Trị nay thuộc về địch quân: đây là thủ phủ đầu tiên của một tỉnh thuộc chính phủ VNCH rơi vào tay cộng sản trong chiến tranh.” (*)
Sau khi thị xã Quảng Trị thất thủ vào chiều ngày 1/05/1972, phía VNCH rút lui về đến Mỹ Chánh, lập phòng tuyến bằng các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ngay trên bờ Nam của con sông Ô Lâu.
– Ngày 28/06/1972, hai đơn vị Tổng Trừ Bị của QLVNCH là Nhảy Dù và TQLC bắt đầu vượt sông Mỹ Chánh, tiến lên những vùng do Bắc quân tạm chiếm thuộc tỉnh Quảng Trị. Binh chủng Nhảy Dù được chỉ định tiến quân dọc theo mé trái Quốc Lộ 1, phía Tây, hướng về La Vang. TQLC được bố trí hành quân và đổ quân bằng trực thăng, dọc theo mé phải Quốc lộ 1, phía Đông, hướng về phía thị xã và cổ thành, sâu hơn về phía Cửa Việt — nhưng không đánh vào thị xã vì đó là mục tiêu của Nhảy Dù.
– Ngày 7/07/1972, các đơn vị Nhảy Dù đầu tiên đã tiến đến khu vực ngoại thành thị xã Quảng Trị và đã đụng độ với Bắc quân đang cố bám giữ các vị trí trọng yếu quanh thị xã. Để giải tỏa áp lực ấy, ngày 11/07/1972, tướng Ngô Quang Trưởng đã lệnh cho phía Thủy quân Lục chiến điều động Tiểu đoàn 1 TQLC được trực thăng vận xuống một khu vực nằm trên hương lộ 560 cách thị xã Quảng Trị 2 km đường chim bay về phía Đông Bắc. Trong cuộc hành quân này, 1 trực thăng CH- 53 của Không quân Hoa Kỳ bị hỏa tiễn SA-7 bắn hạ, gây tử thương cho 30 binh sĩ TQLC và phi hành đoàn.
– Ngày 27/07/1972, sau khi hai tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tiến chiếm được một góc Cổ Thành, tướng Ngô Quang Trưởng đã thay đổi lực lượng tấn công: phía TQLC sẽ trách nhiệm khu vực duyên hải Quảng Trị và mặt trận Cổ Thành. Nhảy Dù trách nhiệm bảo vệ phòng tuyến Thạch Hãn về phía hướng Tây thị xã và yểm trợ các nỗ lực của Thủy quân Lục chiến, đồng thời khống chế và ngăn chận đường tiếp liệu và tăng viện của Cộng quân từ hướng Tây, bảo vệ Quốc lộ 1, đường tiếp vận trọng yếu của Quân đoàn 1 cho các đơn vị tham chiến. Cụ thể, Lữ đoàn 2 Nhảy Dù sẽ bàn giao khu vực trung tâm thị xã Quảng Trị bao gồm cổ thánh Đinh Công Tráng lại cho Lữ đoàn 258 TQLC, trong khi hai bên đang giao tranh, vị trí gần nhất, còn cách tường thành khoảng 200 mét.

Như thế, trong thời gian 81 ngày từ 28/06/1972 đến 16/09/1972, nếu Chu Lai viết về “phía địch”, thì bộ đội chỉ giáp mặt với binh sĩ Nhảy Dù cho đến ngày 27/07, và từ hôm đó trở về sau đến ngày rút ra khỏi cổ thành hôm 16/09, thì phía Bắc quân chỉ đụng trận với Thủy quân Lục chiến — thay vì với đơn vị Hắc Báo hay Nhảy Dù mũ Đỏ, hay lính mũ Nâu Biệt Động Quân.
Trở lại với từ “Hắc Báo”, đây là danh hiệu của một đơn vị cấp đại đội trực thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, chịu trách nhiệm chiến đấu và phòng thủ trên lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên, từ con sông Ô Lâu chảy qua Mỹ Chánh, xuống đến đỉnh đèo Hải Vân thuộc xã Lộc Hải, quận Phú Lộc—gọi theo thói quen là Lăng Cô. Toàn thể SĐ1BB, kể cả Đại đội Hắc Báo không và chưa bao giờ liên quan đến các hoạt động quân sự trên lãnh thổ tỉnh Quảng Trị, hay Quảng Nam như nhà văn Chu Lai viết đi viết lại nhiều lần.
Tuy mang tên là “đại đội Hắc Báo” nhưng quân số bằng hai đại đội, đặc biệt, đây là đơn vị VNCH cấp đại đội duy nhất có cố vấn Mỹ. Hai đại đội trưởng lừng danh của đại đội này về sau là trung tá Phạm Văn Đính, trung đoàn trưởng trung đoàn 56 thuộc SĐ3 BB và trung tá Trần Ngọc Huế, tiểu đoàn trưởng TĐ 2/2 của TrĐ2, SĐ1 BB. Hai người này có hai số phận khác nhau, như được mô tả trong tác phẩm “VN, một quân đội bị lãng quên, anh hùng và kẻ phản bội” của tác giả Andrew Wiest.
Đại đội Hắc Báo với chức năng Trinh sát và Viễn thám nổi tiếng thiện chiến với quân số 260 tay súng được thành lập bằng cách kết hợp 2 Đại Đội Bộ Binh của hai Trung Đoàn 1 và 3, do đó quân số rất đông, gần 300 người. Lúc đầu được đặt tên là “Lực Lượng Hành Động Cấp Thời” do Đại Úy Nguyễn Hữu Lữ chỉ huy. Vài tháng sau đổi thành “Đại Đội Cọp Vằn”, rồi “Hắc Báo” do Trung Úy Phạm Văn Đính làm Đại Đội Trưởng.
Đại Đội được giao những trọng trách sau đây:
– Phòng thủ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Thị Xã Huế.
– Sẵn sàng tiếp viện khi nhu cầu chiến trường đòi hỏi, thường bằng trực thăng vận.
– Hành quân lùng và diệt địch cùng với các đơn vị bạn trong tỉnh Thừa Thiên.
– Hộ tống các đoàn xe hoặc tàu lửa từ Huế đi Đà Nẵng và ngược lại.
Lần tới có dịp quay lại Huế, mời ông Chu Lai quá bước đến căn nhà ở địa chỉ 21 Trần Văn Kỳ, phường Tây Lộc, Thành phố Huế (nằm trên con đường cặp sát bờ sông Ngự Hà, đối diện bên kia sông là trường Nông Lâm Súc xưa, nay là đại học Nông Lâm). Đây chính là hậu cứ của đại đội Hắc Báo ngày xưa trước năm 1975, hiện chủ nhà vẫn giữ lại 2 trụ cổng cũ; mặc dù đã xóa màu sơn, nhưng vẫn lưu lại dấu mờ vết tích: phù hiệu của SĐ1BB bên phải, và phù hiệu hình tam giác của đại đội Hắc Báo bên trụ cổng trái. Đường Trần văn Kỳ chạy từ đường Thái Phiên, cắt qua sông Nhị Hà bằng cầu Khánh Ninh (vẫn còn được gọi là “cống Hắc Báo”), nối vào đường Triệu Quang Phục — trên khu đất trước 1975 là phi trường Tây Lộc.
Lính của đại đội Hắc Báo được trang bị các vũ khí cá nhân tối tân nhất của Mỹ. Ngoài ra, họ được cấp phát 3 loại quân phục, để mặc theo ngày trong tuần: thứ Hai và thứ Ba: quân phục màu xanh ô liu bộ binh; thứ Tư, thứ Năm và thứ Sáu: quân phục ngụy trang (camouflage) rằn ri màu lá cây rừng như của Nhảy Dù hay Biệt Động Quân; thứ Bảy và Chủ Nhật: đồ vải đen (giống như bên “Xây Dựng Nông Thôn”).
Theo cố ký giả Nguyễn Kỳ Phong trong bài viết về cuốn sách của Andrew Wiest:
“Đại đội Hắc Báo của sư đoàn 1BB có lẽ là một trong những đơn vị cấp đại đội được nhắc đến tên nhiều nhất trong quân lực VNCH. Thành hình vào tháng 2/1965, đại đội có năm trung đội tác chiến (đến năm 1968, sau biến cố Tết Mậu Thân, có sáu trung đội); có một đơn vị không vận cơ hữu ứng trực 24 tiếng đồng hồ một ngày, gồm năm trực thăng chuyên chở và hai trực thăng võ trang yểm trợ. Đại đội có một toán cố vấn Mỹ và Úc Đại Lợi đi kèm. Sự có mặt của các cố vấn ở cấp đại đội cho thấy sự quan trọng của đơn vị này: thông thường cố vấn chỉ có mặt ở cấp tiểu đoàn trở lên. Từ lúc thành hình cho đến ngày VNCH thất thủ, đại đội Hắc Báo chưa bao giờ thất bại với những công tác giao phó. Từ những công tác giải cứu phi công bị rớt trong lòng đất địch, cho đến những cuộc đột kích vào những binh trạm của CSBV ở thung lũng A Shau, ở Co Roc, hay xa hơn bên kia biên giới Lào. Đại tướng Creighton Abrams, tư lệnh MACV, nhiều lần nhắc đến tên đại đội Hắc Báo trong những buổi họp tham mưu cuối tuần (được ghi lại trong cuốn The Abrams Tapes, của Lewis Sorley). Ít có một đại đội nào của quân lực VNCH có danh tiếng vang tận đến Bộ Quốc Phòng Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn như đại đội Hắc Báo. Cuối năm 1971, trong cao điểm của chương trình Việt Nam Hóa, phó giám đốc Nha Nghiên Cứu và Biến Chế của Bộ Quốc Phòng, Leonard Sullivan — đang làm việc trực tiếp cho Bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair — sang Việt Nam nghiên cứu một kế hoạch ít tốn kém để ngăn chận đường xâm nhập Hồ Chí Minh. Trong lần viếng thăm Trung tướng Hoàng Xuân Lãm và Thiếu tướng Phạm Văn Phú vào trung tuần tháng 10-1971, Sullivan cho biết Không Quân Hoa Kỳ sẽ không còn ngân sách tài chánh để tiếp tục dội bom ngăn chận bằng B-52 vào năm tới. Thay vào đó, bộ quốc phòng Mỹ đề nghị một phương cách ngăn chận khác là dùng những đại đội như đại đội Hắc Báo để đột kích những binh trạm của CSBV trên đuờng mòn Hồ Chí Minh! Tiếp theo, Sullivan đề nghị quân đoàn I nên lập thêm vài đại đội Hắc Báo nữa và đưa vào Vùng II để đột kích những binh trạm ở vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào. Nhưng hai vị tư lệnh quân đoàn và sư đoàn cho biết họ chỉ có thể thực hiện lời yêu cầu nếu có lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Hơn nữa, nhân sự của đại đội Hắc Báo không phải dễ có. Trung tá Nguyễn Xuân Lộc, trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 1BB, cho biết nhân sự của Hắc Báo đến từ hai đại đội thám báo của trung đoàn 3 và 54. Nghĩa là hai trung đoàn này không có đại đội thám báo như hai trung đoàn 1 và 2 của SĐ 1BB, để có đủ nhân sự của đại đội Hắc Báo. Tóm lại, lập ra một đại đội như đại đội Hắc Báo không phải là chuyện đơn giản.”
3. Căn cứ Mang Cá
Ở đầu chương 4, Chu Lai viết:
“Tại căn cứ quân sự Mang Cá, một chiếc chuyên cơ đen sì như con nhặng chửa từ hướng nam bay đến, nặng nề đáp xuống rồi từ từ dừng bánh.
Bước xuống là cái dáng nhanh nhẹn, tầm thước, vận đồ trắng lịch lãm quen thuộc của Tổng thống Thiệu, kế tiếp là cái dáng cao dong dỏng của Đại tướng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, rồi Trung tướng Ngô Quang Trưởng với nước da đen cháy, khuôn mặt hốc hõm và một cố vấn Mỹ cao cấp vận thường phục…”

Theo trí nhớ của tôi, thì Tổng thống Thiệu không hề mặc đồ trắng, mà là đồ màu xám, và các cố vấn người Mỹ luôn mặc quân phục thay vì thường phục. Còn căn cứ Mang Cá, là một đồn lính tương đối bé, nằm ở góc Đông Bắc của Thành Nội Huế, diện tích khoảng 36.000m2, được chia thành hai khu vực: phía Nam là Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, Bộ tư lệnh SĐ1BB; phía Bắc là quân y viện Nguyễn Tri Phương. Do mặt bằng chật hẹp lại được xây tường thành chắn tứ phía, nên không đủ chỗ để xây dựng sân bay dành cho “chuyên cơ”, mà chỉ có một bãi đáp trực thăng ngay cạnh Bộ Tư lệnh Tiền phương. Như thế, thay vì đáp xuống Mang Cá như ông Chu Lai tưởng tượng, thì phái đoàn của Tổng thống Thiệu phải đáp “chuyên cơ” xuống sân bay Phú Bài ở vị trí cách Huế khoảng 15 km, rồi đến Mang Cá bằng đoàn trực thăng của Sư đoàn 1 Không Quân. Đã thế, ở cuối chương, tác giả còn nhắc lại sự sai sót của mình bằng cách lặp lại “Thiệu lạnh mặt buông thõng một câu rồi đi trở ra chiếc chuyên cơ nằm loang lổ dưới nắng…”
Ngoài ra, khi mô tả việc phái đoàn Tổng thống Thiệu đến Mang Cá bằng chuyên cơ, chúng tôi e rằng tác giả đã nhầm lẫn khi muốn đề cập tới phi trường Tây Lộc, tọa lạc ở tọa độ 16°28’32” vỹ tuyến Bắc và 107°34’10” kinh tuyến Đông, cách Mang Cá khoảng 1 km. Phi đạo độc nhất của phi trường Tây Lộc nay là đường La Sơn Phu Tử được lưu thông hai chiều, bắt đầu từ đường Thái Phiên đến đường Ngô Thế Lân, dài 750m. Từ năm 1965 đường này là đường nội bộ của phi trường Tây Lộc mở qua vùng ruộng Tịch điền xưa. Sau 1975 đường được mở rộng thêm theo khu dân cư mới. Trước năm 1995, vẫn được gọi “đường phi trường Tây Lộc”, đến tháng 6/1996, được đặt tên đường La Sơn Phu Tử là tên hiệu của Nguyễn Thiếp (1723-1804), danh sĩ cuối đời Lê Trung Hưng.
4. Súng lục trang bị cho sĩ quan quân đội và cảnh sát VNCH
Ở chương 5, Chu Lai viết về sĩ quan quân đội tên Phan Thái: “Từ phía sau, Phan Thái, gã Chuẩn úy đội phó có mái tóc bồng bềnh và cái nhìn u tối chen lên đứng ngay trước mặt diễn giả, khẩu rulô hườm hườm trên tay. Tiếng nói của gã đầy uy lực đượm chút lưu manh giang hồ: ‘Có câm đi không con nặc nô đội lốt tiên cô kia! Mi còn gào lên như vậy nữa, thân thể của mi sẽ nhòe máu ngay bây giờ. Câm!’
Cây rulô trên tay hắn lạnh lẽo đưa lên nhằm đúng khuôn ngực thanh nữ no tròn đang rướn căng ở trên cao…”
Thưa đại tá Chu Lai: ở miền Nam Việt Nam, trước 30/04/1975, chỉ có cảnh sát mới được trang bị súng ngắn ổ xoay— còn gọi là súng rulô (phiên âm theo từ “rouleau”, tiếng Pháp, nghĩa là cuộn hay con lăn— là loại súng ngắn có hộp đạn kiểu ổ xoay, thông thường chứa 6 viên vì thế thường được gọi là súng lục, trong khi sĩ quan quân đội luôn được cấp phát súng lục bán tự động Colt M1911 (còn gọi là Colt.45).
5. Xe máy vô chủ vẫn nổ máy, và chỉ cho cô gái chạy về phía giao tranh sẽ an toàn hơn
Cũng ở chương 5, tác giả viết: “Chạm dòng người, phát hiện ra một chiếc Honda vô chủ vẫn nổ máy nằm đổ nghiêng phịt khói ở vệ đường, hắn vội dựng lên, vặn ga phóng chầm chậm về phía trước, đưa mắt sục sạo khắp mọi ngóc ngách, mọi khuôn mặt nhưng vẫn không thấy cái hình bóng kia đâu. Hắn phóng tiếp và ánh mắt đỏ kè lại sục sạo nhưng vẫn không thấy gì. Đúng vào lúc hắn thất vọng định quay đầu xe trở lại thì chợt dừng, toàn thân nóng bừng… Trời ơi! Người đó đấy, chính cô ấy đấy, khuôn mặt kia, đôi mắt kia, cái miệng đang mím chặt kia không thể sai được. Cô ấy đang bồng đứa bé trên tay, lưng áo ướt đẫm, chân trần, bắp chân con gái mịn trắng có mấy vệt máu chảy dài, thỉnh thoảng lại vấp chao lạng người đi. Pháo vẫn nổ ở hai bên, ở đằng trước đằng sau quẩn vào bụi đỏ. Dáng hình của cô phiêu dạt như một bức tranh tội tình về người con gái chìm trong khói lửa chiến tranh.
Hắn cho xe cắt đến sát cạnh, dừng khựng, không nói không rằng xốc cả hai lên phía sau xe rồi bươn nhanh qua dòng người, qua các đụn khói, qua những thân người nằm rải rác đó đây… Đến một chân dốc, hắn cho xe dừng lại, nói nhanh:
– Đã qua tọa độ pháo. Nghỉ một chút đi rồi cô dùng chiếc xe này đưa đứa nhỏ về hướng bắc, ở đó sẽ an toàn hơn.”
Có hai điều khó có thể là sự thực ở đoạn văn nầy. (1) một chiếc Honda vô chủ nhiều giờ vẫn còn xăng để nổ máy, và (2) “dùng chiếc xe này đưa đứa nhỏ về hướng bắc, ở đó sẽ an toàn hơn” là điều phi lý, vì người dân lúc ấy đang bỏ mặt trận Quảng Trị ở phía Bắc để chạy về phía Huế, là ở hướng Nam. Như thế, nhân vật Quang không cần phài hướng dẫn, tự dưng theo bản năng, nếu muốn an toàn cô gái phải chạy về hướng Nam. Và quả là đại tá Chu Lai đã lạc hướng, vì ngay sau đó, ông ấy viết: “- Cách trả ơn tốt nhất là cô ráng đưa đứa bé cùng với cô ra khỏi vùng chết chóc vớ vẩn này trở về Huế.”
(Xem tiếp kỳ sau)
Ngy Thanh
_________
(*) Trích và dịch từ sách “The Easter Offensive of 1972”, từ trang 41 đến trang 47 https://www.google.com/books/edition/The_Easter_Offensive_of_1972/uO4u5MkiG6EC? hl=en&gbpv=1&pg=PP1&
printsec=frontcover