The Vietnamese Newspaper in Canada

Đi hành hương Miễu Bà Chúa Xứ

Tháng Hai, tháng Ba vẫn còn nằm trong tháng Giêng âm lịch, vô số lễ hội được tổ chức ở lăng, đình, đền, miễu khắp nơi, thiên hạ đi cúng mệt nghỉ.
Một số đình to khi cúng hạ nêu, kỳ yên, cúng vái còn tổ chức ăn uống rình rang, mời các đoàn hát bội hay hồ quảng đến trình diễn cho phần hoàn mãn, khiến cho những ngày ấy không chỉ là lễ lạt mà còn mang tính chất hội hè. Những dịp như vậy đã lôi cuốn đông đảo khách thập phương, nhất là một số nơi như đình Bình Long, đình Khánh Bình, đền đức Thánh Trần Hưng Đạo…còn có gieo âm dương, xin xăm, nên càng kéo nhiều người đến lễ bái, cầu xin. Phải kể đến một số đền, miễu đã vượt qua giới hạn địa phương thu hút công chúng từ các nơi xa xôi kéo đến như chùa Bà Đen (Tây Ninh), miễu Bà (Bình Dương), lăng Ông Bà Chiểu… Vượt xa hơn nữa là miễu Bà Chúa Xứ (Châu Đốc) về số lượng người đến chiêm bái, cúng kiếng. Bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng Tư (ta), người đi viếng miễu không ngơi, vì thế phải gọi chính xác đây là cả một lễ hội chứ không còn là ngày lễ giản đơn nữa.
Dù lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức là ngày 25 tháng Tư âm lịch nhưng dân chúng đi viếng Miễu Bà quanh năm, đông nhất từ tết Nguyên Đán đến tháng Tư. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Dân chúng các tỉnh, từ miền Bắc, miền Trung, từ nước ngoài nườm nượp đi lễ Bà Chúa Xứ . Đi theo tour hay đi bằng xe nhà, xe thuê, xe ô tô hay xe máy…Xe đó Saigon- Châu Đốc chạy ngày đêm.
Các công ty du lịch, các nhóm du lịch… đều có tour “hành hương Bà Chúa Xứ Châu Đốc”. Tổ chức mỗi cuối tuần kể cả ngày trong tuần. Ai bận đi làm có thể xin nghỉ 1 ngày. Một ngày thôi.
Chiều cơm nước xong, lên xe. Giữa khuya đến miễu Bà, tối mai đã có mặt ở nhà. Đi đêm trời mát, thiu thiu ngủ trên xe nên không phải tốn tiền thuê khách sạn hay nhà trọ. Còn ai muốn thoái mái mua sắm, đi viếng thêm các đình, chùa lân cận, đi chợ Tịnh Biên mua sắm hàng hóa nhận khẩu từ Thái Lan, Kampuchea…thì thêm một đêm ngủ lại. Chung quanh miễu Bà vô số khách sạn, nhà nghỉ, phòng nghỉ, chiếu nghỉ…
Xưa kia dọc đường có nhiều điểm nghỉ chân với hàng rong bán bắp luộc, chuối luộc, trái cây… Nhưng nay đã có vài trạm dùng chân thế chỗ. Thật tiện lới. Đầu tiên là chỗ đi vệ sinh. Kế đến là nơi ăn qua bữa, giải khát sạch sẽ, kế đó là các sạp bán hàng đặc sản địa phương và cả quầy bán hàng xách tay từ nước ngoài như thuốc bổ Pháp, nhụy hoa nghệ tây Mỹ, kem làm trắng da Hàn…
Rất nhiều truyền thuyết kể về nguồn gốc Bà Chúa Xứ, tình tiết có thể khác nhau chút ít, nhưng tựu trung phần cốt lõi không thay đổi gì mấy. Khoảng thời gian 1820-1825, tương truyền quân Xiêm thường sang quấy nhiễu nước ta, dân chúng phải bồng bế nhau lên núi để lánh nạn. Có lần đuổi theo lên tới đỉnh, gặp tượng Bà, chúng định mang đi nhưng pho tượng nặng chịch, không cách gì lay chuyển nổi, một tên tức mình đập mạnh làm gẫy một phần cánh tay trái mà sau này một cánh tay khác đã được điêu khắc gắn vào, tên giặc hộc máu chết liền tại chỗ làm cả bọn sợ hãi hè nhau tháo chạy. Sau đó Bà đạp đồng tự xưng Chúa Xứ, dạy dân chúng phải lập miễu thờ. Dân làng dời tượng xuống núi nhưng pho tượng quá nặng, bao nhiêu trai tráng cũng không xê xích được. Bà lại đạp đồng báo cho biết việc này cần chín cô gái đồng trinh, quả vậy tượng được khiêng nhẹ nhàng nhưng xuống tới chân núi lại trở nặng, cho rằng Bà đã chọn chỗ yên vị nên một ngôi miễu được lập lên ở ngay đó. Rất nhiều câu chuyện truyền khẩu kể về những linh ứng của Bà: sự trừng phạt những tên trộm lẻn vào miễu ăn cắp đồ quý báu, sự đáp ứng hiển hiện những lời khẩn cầu, xin ban phúc ban tài của bá tánh thập phương. Lời đồn dãi ngày càng lan xa khiến miễu Bà trở nên một địa điểm hành hương được rộng rãi dân chúng biết đến. Qua bao nhiêu thăng trầm, những bất ổn của cuộc sống luôn rình rập vây quanh; con người cảm thấy nhỏ bé, yếu đuối biết bao trước những phước họa chẳng lường được giáng xuống lúc nào, đã quay về tìm chốn nương náu cho tâm linh.
Ngôi miễu tre lá thưở ban đầu chắc giờ khó mà tìm thấy dù chỉ trong một tấm ảnh kỷ niệm, thay vào là một ngôi miễu lộng lẫy, đồ sộ do kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng thiết kế với bốn tầng mái lợp ngói đại ống thanh lưu ly, các cửa, khung bao, vì kèo… Được chạm trổ, khắc tinh vi. Khoảng sân rộng rãi với nhiều ghế đá đặt rải rác trong tên người hiến cúng từ nhiều tỉnh thành miền Nam, từ Anh quốc, từ Porland, Oregon, từ Houston, Texas…
Thoạt tiên tượng Bà được an vị nhìn ra con đường chân núi, tức vẫn là cổng chính của miễu ngày nay, nhưng sau thấy người dân qua lại phải xuống ngựa, giở nón mất công, nên Bà đạp đồng dạy dân làng xoay ngược hướng tượng quay lưng lại con đường, ngoảnh mặt nhìn ra đồng ruộng. Võ ca đặt ghế đá xếp hàng hàng lớp lớp ngay ngắn, chiếc giá ở giữa cắm hàng chục cây nhang dài cả mét đang hun khói.
Đồ phụng cúng gồm đồ cúng tỏ lòng thành và đồ cúng trả lễ. Đủ cả nhang, đèn, áo mão, đồ trang sức, kim khánh, heo quay, trái cây, xôi, chè, trà, rượu, trầu cau, gạo, muối, bộ tam sên… Ngoài đồ cúng lễ mang từ nhà tới, người ta thường mua ngay tại chỗ. Nên chung quanh hàng bán đủ các loại thiên hạ cần cúng bái.
Nhìn đâu cũng thấy đồ cúng chất đầy. Vật phẩm như: áo mão, hài, dây chuỗi, vàng mã, mâm tiền, tháp bạc, đèn cầy…Thức ăn như: xôi, bánh bông lan, bánh bao, trái cây, trầu cau…hết giỏ này tới mâm khác. Heo quay xếp hàng một lượt ba, bốn con trên bàn thờ. Con nào đưa ra là có con khác thế chỗ liền, nên chi chuyện buôn bán trái cây và quay heo ở đây phát triển dữ lắm.
Một loạt dịch vụ cung cấp vật phẩm cúng Bà. Từ may áo mão hài dâng Bà, đặt ghế đá khắc tên người cúng dường trả lễ…Từ giỏ trái cây đến mâm nhang đèn, rượu, muối gạo, heo quay, tam sên…
Áo dâng Bà tùy vải nhung kết cườm, kim sa, hạt đá, pha lê… tạo hình rồng phượng có giá từ vài triệu đến vài chục triệu đồng.
Một đĩa nhỏ hay giỏ trái cây đại khái gồm: đu đủ, thanh long, dừa, xoài, cam, mận, thơm…màu sắc xanh đỏ khoảng vài chục ngàn đến vài trăm ngàn, trái cây ngoại thì tới bạc triệu.
Còn heo thì tùy nghi, một con heo sữa có giá hơn một triệu tới vài triệu. Áo, mão, vàng mã… dâng cúng để lại, còn thực phẩm thì hoàn chủ, nhưng chẳng lẽ cúng xong lại bê nguyên con heo ngồi lên xe bao nhiêu cây số mang về nhà, nên nảy sinh ra dịch vụ thuê heo quay. Cúng Bà một hồi rồi hoàn tiệm, chỉ trả tiền thuê thôi.
Chuyện lễ bái âu cũng phải uyển chuyển tùy thời lúc sao cho thuận tiện cho người đi lễ, cốt ở thành tâm là chính, mà sự thành tâm thể hiện như thế nào thì không nhất thiết phải theo một quy định cứng nhắc!
Tượng Bà được đặt sâu trong cung. Từ võ ca vào đến tượng có đến ba lớp bàn thờ và nơi nào cũng xếp đầy lễ vật thay phiên mau chóng. Kẻ đi tới, người xoay lui, chính điện lúc nào cũng chen chúc người. Tuy nhiên, không phải vì đông đúc mà mất trật tự hay kém đi phần nào sự thành kính trang trọng. Từng người xì xụp khấn vái đều toát ra vẻ thành tâm nhất mực. Bà không trú ngụ một nơi quá xa xôi để mọi người ngưỡng vọng. Pho tượng được đặt trong một không gian ấm cúng, ai cũng có thể nhìn thấy rất rõ đôi mắt to tròn và khoé miệng tươi vui, một vị thần rất gần gũi thân mật. Mọi người xúm xít chung quanh như đàn con quây quần bên mẹ, lời cầu xin dường như chỉ phải đi qua một khoảng cách quá ngắn nên có vẻ dễ thấu đến tai Bà hơn.
Đặc điểm của nhiều đền, miễu ở miền Nam là thần linh ở rất gần với dân chúng, con đường và nơi chốn gởi gắm niềm tin thật giản dị, quen thuộc, không có những lòng đình, miễu rộng đến mênh mông với những pho tượng đặt quá xa, quá cao vời vợi; cũng không có giáo lý rắc rối khó hiểu. Tín ngưỡng dân gian thật đơn sơ, và vì thế, đi thẳng vào, trụ giữ trong lòng người một cách nhanh chóng.
Khu triển lãm trưng bày những chiếc tủ chưng y trang của Bà. Đó là dãy một trệt, hai lầu song song với khu chính diện bên này, cũng mái cong lợp ngói tráng men xanh lục. Dãy nhà rộng rãi với hành lang cũng rất rộng, tầng trệt một nửa là phòng họp, một nữa là phòng triển lãm kim khánh, tủ kê sát ba vách tường dài chưng hàng trăm bức kim khánh. Lên lầu, tại tủ kính kê sát tường, từ dưới đất lên trần nhà là hàng ngàn bộ áo xếp cuộn gọn gàng, bộ nào cũng bằng nhung đỏ thêu kim sa, kim tuyến, đính hột đá, pha lê dày đặc tinh xảo, trên cùng là hàng chục chiếc mão phượng vĩ đại thêu cườm, đính hột lộng lẫy, những chiếc mũ bằng bạc hay mạ bạc tuyệt mĩ, không kể những cặp nến cao cả thước, cờ quạt, lọng, gối… Vòng, hột, dây… đếm không xuể. Vô số chuỗi hạt trai lớn nhỏ, các chuỗi đá đủ màu, các sợi dây bạc chạm khắc tỉ mỉ đủ kiểu đủ loại nhìn hoa cả mắt. Vì quá nhiều áo như vậy nên thường thì hiến cúng tới đâu, người ta mặc chồng ra ngoài đến đấy, có khi đến năm, sáu lớp thì mới sử dụng được hết áo, nên đôi khi Bà trông có vẻ to hơn là vì thế. Số áo cũ thải ra lâu lâu phải thiêu bớt vì không còn chỗ chứa nữa.
Thiên hạ giờ chụp hình bằng smart phone. Nên chỉ còn vài người thợ chụp hình cầm tấm hình mẫu mời chào. Khách ngoại quốc thì nhất thiết ống kính không thể bỏ qua các mái đao cong vút tuyệt đẹp của chính điện, chiếc lư to, cao ngang người, dày đặc chân hương nghi ngút khói, chiếc lò bên cạnh không ngơi bừng lửa vàng mã và khoảng sân khi nào cũng đông nườm nượp người.
Đã quá ngọ, nhưng miễu Bà dường như không có giấc nghỉ trưa. Từng đoàn người vẫn lũ lượt kéo vào, các cô gái không biết vượt đường xa tận đâu tới mà vẫn má phấn môi son, giày cao gót yểu điệu như đi dạo phố. Nhiều nhóm người đủ già trẻ bé lớn, tay xách nách mang như cả đại gia đình, bạn bè đi nghỉ cuối tuần. Nói nghỉ cuối tuần cũng không ngoa vì người ta nhân thể ngủ lại đây chơi tối thứ Bảy đến mai Chủ nhật mới về. Do vậy, càng về chiều tối càng đông đúc. Đêm tới, đèn sáng như sao sa một góc trời, người đi như nước chảy. Suốt từ tháng Giêng đến tháng Tư cả một vùng chân núi Sam đều nô nức rộn rịp như thế. Ấy là thời gian lễ hội đã kéo dài đến mấy tháng mới thỏa mãn được con số hành hương khổng lồ mấy triệu lượt người một năm chứ chỉ tập trung vào ngày chánh vía 25 tháng Tư tức là ngày tượng Bà được khiêng xuống chân núi lúc xưa thì quả thật ngôi miễu trở nên quá tải trước làn sóng người đến dự lễ. Đúng vậy, chung quanh miễu Bà, bao la nhà nghỉ, phòng trọ, khách sạn; giá từ vài chục ngàn/ một chiếu; vài trăm ngàn, vài triệu ở phòng trọ, khách san… Giá có lên xuống đôi chút tùy ngày giữa hay cuối tuần.
Hàng quán bình dân mọc san sát, sạp bán trái cây, vàng mã và những sản phẩm địa phương mua về làm quà được bán tràn lan: đường thốt nốt, muối tiêu, muối tôm, bánh tráng sữa… Nhất là mắm thì la liệt khắp nơi: mắm lóc, mắm thái, mắm sặt… tràn trề, mắm bà giáo Thảo, bà giáo Khoẻ, bà giáo Phát, cô giáo Hoa…, cứ như gắn thêm cái chức vị “giáo”vào thì mới được đóng con dấu bảo đảm vậy! Cả một xã Vĩnh Tế buôn bán sầm uất, sinh hoạt tấp nập phần lớn chính là nhờ được lộc tài của Bà ban phát hào phóng vậy.
Nay xe hơi đã chạy thẳng lên đỉnh núi Sam. Con đường tráng nhựa ngoằn ngoèo dài 2 km để tới đỉnh cao 230m.
Tới đỉnh, lối đi bậc thang đá dẫn đến một ngôi miếu nhỏ tương truyền vốn là nơi đặt tượng Bà khi xưa. Ngày nay vẫn còn vết tích một hõm vuông nhỏ vừa khít với đế tượng đặt trong miễu dưới chân núi. Xa thật xa tít chân trời, một bên là dãy Thất Sơn trùng điệp, kênh Vĩnh Tế lững lờ, bên này là biên thùy Kampuchea. Nhà cửa san sát như bát úp, ruộng nương bát ngát. Một dải giang sơn cẩm tú trải dài chung quanh.
Người ta còn mở rộng sang núi Cấm chiêm ngưỡng tượng Phật Di Lặc cao nhất Đông Nam Á, viếng lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An. Trên đường về còn ghé rừng tràm Trà Sư… Du lịch mở rộng nên hành hương miễu Bà Chúa Xứ ngày càng tấp nập…
Hàm Anh

Tin liên quan