The Vietnamese Newspaper in Canada

Tết Tây

Nói đến Tết Tây hay Tết Dương lịch người ta nghĩ ngay tới những buổi tiệc tùng và những cuộc vui chơi liên tu bất tận. Nhưng trong khi hàng tỷ người trên thế giới mừng ngày lễ này mỗi năm, bên cạnh đó có lẽ còn rất nhiều điều về lịch sử của ngày đầu của năm mới dương lịch mà nhiều người có thể vẫn chưa biết – trong đó có nguồn gốc của ngày lễ này và những diễn tiến ra sao kể từ đó cho tới nay.
Ví dụ, có nhiều người thắc mắc việc mừng ngày Tết Tây lần đầu tiên diễn ra khi nào, hay truyền thống đưa ra các quyết tâm cho năm mới khởi đầu ra sao và có những thay đổi nào không.
Nhiều người có thể ngạc nhiên khi biết rằng Tết Tây có một lịch sử lâu đời và xa xưa; trên thực tế, việc đón mừng năm mới sớm nhất được ghi nhận có niên đại khoảng 4,000 năm – vào năm 2,000 trước Công nguyên – ngược trở lại tới tận thời đế quốc Babylon cổ đại. Theo trang mạng History.com, những người thuộc dân tộc Babylon này đón mừng năm mới vào ngày trăng non đầu tiên sau ngày xuân phân (thường vào khoảng cuối tháng 3) bằng một lễ hội kéo dài 11 ngày gọi là Akitu, với mỗi ngày bao gồm một nghi lễ khác nhau. Ngày lễ được mừng để kỷ niệm chiến thắng của vị thần bầu trời Marduk trong truyện thần thoại trước nữ thần biển Tiamat, đồng thời cũng liên quan đến nghi thức trao vương miện cho một vị vua mới lên chấp chánh hoặc cho phép vị vua cũ tiếp tục được ở lại cai trị. Nhưng cho dù là thế nào, lễ hội kéo dài 11 ngày này có lẽ sẽ khiến những bữa tiệc đêm giao thừa thời nay của chúng ta không sao sánh kịp. Nói thế để thấy rằng việc ăn chơi của người thời xưa bỏ xa người thời nay.
Mặc dù ngày Tết Tây ngày nay như chúng ta thấy luôn được tổ chức và ăn mừng vào ngày đầu năm Dương lịch, nhưng ngày lễ này không phải lúc nào cũng được tổ chức vào tháng Giêng. Trong suốt một thời gian dài, nhiều nền văn minh khác nhau trên thế giới chào đón năm mới theo các cách thức khác nhau, có thể là dựa vào sự kiện của thiên văn hoặc của hoạt động nông nghiệp – chẳng hạn như dân tộc La Mã trước đây mừng ngày tết của họ là vào tháng 3, theo chu kỳ mặt trăng trong lịch mà họ sử dụng lúc đó – cho đến năm 46 trước Công nguyên, khi hoàng đế Julius Caesar cho áp dụng lịch Julian. Để vinh danh tháng đầu tiên của năm, Caesar đặt tên cho tháng là Janus – tên vị thần khởi đầu của dân tộc La Mã có hai khuôn mặt để có thể cùng một lúc nhìn về quá khứ và tương lai – và cũng chính Caesar đã lấy ngày 1 tháng 1 là ngày đầu tiên của năm.
Trước đó, xã hội La Mã trải qua nhiều thế kỷ sử dụng một hệ thống “âm lịch” có 10 tháng trong năm dựa trên hoạt động của mặt trăng. Mặc dù lịch này đã được điều chỉnh nhiều lần cho chính xác hơn, nhưng vì chu kỳ của mặt trăng quay quanh trái đất là 29.5 ngày nên lịch thường xuyên không đồng bộ với các mùa màng được đánh dấu trong đó.
Trong nỗ lực để sửa sự sai lệch và để lịch bớt khó hiểu hơn, các nhà khoa học La Mã đã đưa thêm một tháng vào trong lịch, được gọi là tháng Mercedonius, cứ hai hoặc ba năm một lần. Nhưng lịch mới này cũng không được áp dụng một cách nhất quán và nhiều nhà cai trị khác nhau trong thời gian chấp chánh lại vô tình làm cho lịch thêm khó hiểu bằng cách đổi tên các tháng.
Cuối cùng, vào năm 45 trước Công nguyên, ngay sau khi vừa lên chấp chánh, hoàng đế Julius Caesar ra lệnh cải cách lại hệ thống lịch để đưa ra một phiên bản mới sau này được gọi là lịch Julian. Hệ thống lịch này được thiết kế bởi nhà thiên văn học và toán học Sosigenes của thành Alexandria, người đã đề nghị một loại lịch mới bao gồm 365 ngày, với cứ mỗi bốn năm thì có một năm nhuận. Mặc dù nhà bác học đã tính sai thời gian của một năm dài thêm khoảng 11 phút, nhưng hệ thống lịch về sau đã được sửa sai lại và cho đến nay có thể nói gần như đồng bộ với mặt trời.
Lịch mới này của Caesar có một đổi mới rất quan trọng: một năm mới luôn bắt đầu vào ngày 1 tháng 1, cũng là ngày nhậm chức của hai vị quan chấp chánh, được bầu lên mỗi năm để nắm quyền điều hành cơ quan hành pháp của thể chế cộng hòa La Mã. Mặc dù lịch Julian đã tồn tại hàng nhiều thế kỷ sau đó, nhưng ngày đầu năm mới của nó không phải lúc nào cũng được những người áp dụng lịch này theo đúng. Thay vào đó, nhiều người theo Ki tô giáo mừng năm mới vào những ngày lễ khác nhau.
Ngoài một vài thay đổi nho nhỏ bởi những hoàng đế La Mã khác, lịch Julian hầu như giữ đúng nguyên bản cho mãi đến năm 1582, khi Giáo hoàng Gregory XIII điều chỉnh lại lịch để phản ánh chính xác hơn thời lượng mà trái đất cần di chuyển để hoàn tất đúng một vòng quanh mặt trời. Thời lượng của hệ thống lịch cũ là 365.25 ngày; lịch mới của Gregory là 365.2425 ngày. Lịch mới cũng thay đổi lại ngày vốn đã bị xê dịch đi mất khoảng hai tuần lễ, để đưa trở lại cho đồng bộ với các thay đổi của mùa màng trong năm. Trong suốt 16 thế kỷ mà thời gian của lịch Julian chỉ bị xê dịch đi hai tuần lễ thì kể là khá chính xác rồi.
Nhờ cuộc cải cách năm 1582 của Giáo hoàng Gregory, ngày 1 tháng 1 (hay ngày Tết Tây) mới thực sự chính xác là ngày bắt đầu của năm mới. Nhưng không hẳn là tất cả mọi người đều chấp nhận chuyển sang áp dụng lịch Gregorian mới, và kết quả là ngày lễ Giáng sinh của giáo hội của Chính thống giáo Đông phương rơi vào tháng Giêng tây lịch hàng năm chứ không phải ngày 25 tháng 12 như chúng ta vẫn thường thấy.
Trong khi các quốc gia trên thế giới thời hiện đại này chủ yếu sử dụng lịch Gregorian, một số hệ thống lịch khác vẫn tiếp tục tồn tại. Do đó, có một số nền văn hóa vẫn lấy những ngày khác nhau trong năm để đánh dấu ngày bắt đầu của năm mới – và các lễ hội, nghi thức và ngày lễ nghỉ, như Nowruz của dân tộc Ba Tư, Rosh Hashanah của dân tộc Do Thái và Tết Nguyên Đán của nhiều dân tộc Á châu – tiếp tục được đón mừng theo cách tính lịch của họ.
Ngày nay, việc đón mừng Tết Tây mới được tổ chức theo nhiều cách khác nhau trên khắp thế giới, nhưng những truyền thống điển hình đón năm mới tây lịch bao gồm mọi từ việc nâng ly chúc mừng và ăn những món ăn được cho là mang lại may mắn cho đến việc đưa ra những quyết tâm cho năm sắp tới – một tập tục được cho là có nguồn gốc xa xưa từ thời Babylon cổ đại. Rồi phong tục hôn người thân yêu nhất đúng vào lúc giao thừa, truyền thống này được cho là có nguồn gốc từ văn hóa dân gian của dân tộc Anh và Đức, với niềm tin rằng người đầu tiên gặp trong năm mới sẽ quyết định vận mệnh trong suốt một năm. Nhưng cho dù hình thức đón mừng Tết Tây của mỗi dân tộc có khác nhau ra sao thì ước muốn chung của mọi người vẫn là gặp được nhiều điều may mắn trong năm mới.
Huy Lâm

Tin liên quan