The Vietnamese Newspaper in Canada

Xin Đừng Buông Tay

Xin đừng buông tay

Michel Bussi

Dịch giả: Nguyễn Thị Tươi

– Chờ chút, Sofa, một chi tiết cuối cùng.

Anh cúi xuống con gái rồi đặt lên mũi cô bé một cặp kính mát mà anh tìm thấy trong chiếc tủ cạnh cửa ra vào.

– Con nghe kỹ này, Sofa, khi con quay về, có thể con sẽ khó nhận ra ba. Cả ba cũng sẽ cải trang, cắt tóc, cạo râu. Con hiểu không?

– Vâng…

Thật khó đoán biết bất kỳ điều gì trong ánh mắt Sofa. Sợ hãi? Ngạc nhiên? Phấn khích trước điều mà cô bé cho là một trò chơi?

Martial lùa bàn tay vào trong mái tóc ngắn của con gái. Hàng chục mẩu tóc vụn dính vào ngón tay anh.

– Nào, đi thôi, người hùng.

Chương 21

Tình tiết giảm nhẹ

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

7 giờ 51

– Uống trà nhé, cháu yêu?

Đầu tiên, cánh mũi Aja phập phồng, hít thở làn khói ấm. Rồi mắt cô mở ra.

Một cái khay. Một cốc trà. Ba chiếc bánh sừng bò trong giỏ.

Christos đang ăn chiếc thứ tư, mật dính đầy râu.

– Cháu ngủ à, Aja? Trông cháu như một bà già mất ngủ.

– Cảm ơn, chú Chris. Cháu rất thích được khen khi mới ngủ dậy. Vâng, chắc là cháu ngủ được khoảng một tiếng, mỗi lần mười phút.

– Chú đã nghe Đài Cảnh sát trên đường đến đây. Không có gì mới sao?

– Không có gì. Cứ như là Bellion đã bốc hơi. Cháu đã nói chuyện điện thoại với Laroche, nhạc trưởng của kế hoạch Papangue. Sáu chiếc trực thăng quay cuồng gần như khắp đảo ngay từ khi mặt trời mọc. Không có dấu vết nào của chiếc Clio xám, của Bellion hay của đứa bé gái. Laroche sống ở đảo Réunion từ sáu tháng nay rồi. Anh ta sẽ gọi lại cho cháu sau khi báo cáo xong với tỉnh trưởng. Anh ta… anh ta có vẻ có năng lực.

– Nên thêm chút âm điệu, Aja.

– Gì cơ?

– Thêm chút âm điệu khi cháu nói “có năng lực”.

Aja thở dài. Cô vươn vai và ấp hai bàn tay vào chiếc cốc nóng bỏng.

Christos bệ mông lên gờ cửa sổ.

– Ngược lại, chú có tin mới đấy, Aja. Tin nặng ký…

Mắt Aja sáng lên. Những ngôi sao đêm cuối cùng, giữa mơ và tỉnh.

– Thật không? Chú vẫn làm việc ở trên giường sao?

– Cháu không biết mình nói đúng đến thế nào đâu. Chú lấy thông tin từ một cô bạn. Một bộ não như bộ xử lý Intel Core gắn với trí nhớ của con voi tương đương ổ cứng ba téraoctet, chỉ được chia ngăn để xử lý những tin vặt ở Réunion từ xửa xưa đến giờ. Tóm lại, bạn gái cùng giường của chú đã chứng thực rằng cách đây vài năm, Martial Bellion đã nhúng chàm trong một chuyện xảy ra ở biển, một thằng nhóc chết đuối ở Boucan Canot.

Ánh mắt Aja mờ đi. Tòa nhà Nam Thập tự vừa biến mất trong ánh mặt trời mờ nhạt buổi sớm.

– Cháu không tin à? – Christos thất vọng hỏi.

– Có… Chỉ có điều ta đã có bảy cuộc điện thoại từ tối qua đến giờ để kể cùng một chuyện đó. Người dân đảo Réunion có một trí nhớ tuyệt vời đối với những chuyện ngớ ngẩn nhất ở địa phương… dù sao thì cũng hơn chúng ta. Không một cảnh sát nào trên đảo kết nối người khách du lịch từ chính quốc này với câu chuyện đứa trẻ chết đuối hồi đó. Chắc chú cũng biết, chúng ta đã tiến hành tìm kiếm từ lúc đó, cháu đã nhận được nhiều email từ chính quốc, cháu phải đọc kỹ từng cái, nhưng nói tóm lại, Martial Bellion đã mất đứa con đầu, với người vợ đầu, người vợ trước Liane. Alex. Sáu tuổi. Chết đuối ở biển. Lỗi không giám sát của Bellion, là người vốn phải trông con. Cho đến lúc này, cháu không thấy có mối liên hệ nào với hai vụ giết người ở Saint Gilles. Điều chủ yếu mà cháu hiểu được, đó là gã du khách của chúng ta tưởng chừng đang bị lạc ở nơi thù nghịch thực ra lại biết rõ hòn đảo này như lòng bàn tay.

– Phải nhìn vào mặt tốt của sự việc, Aja ạ, – Christos mỉa mai. – Hắn hiểu từng chân tơ kẽ tóc của ta, nhưng chúng ta có các tình tiết giảm nhẹ.

– Bellion đã sống chín năm ở đảo này, – nữ đại úy nói tiếp mà không ngẩng mặt lên, – từ năm 1994 đến năm 2003. Hắn làm việc ở câu lạc bộ bơi thuyền Bourbon. Theo những gì ComGend muốn nói với cháu, Bellion vẫn còn vài người bạn sơ giao trên đảo. Một bạn lặn ở Langevin, một người trồng mía ở sông Mât, một bạn gái cũ ở Ravine à Malheur. Tất cả đều khẳng định đã mất mọi liên hệ từ khi anh ta quay trở lại chính quốc, cũng không hề gặp từ khi anh ta quay lại đảo. Dù sao, tất cả họ đều được giám sát ngầm, nghe trộm và theo dõi, mọi thứ… Nhưng Bellion vẫn bặt tăm tích.

Christos ngốn tiếp chiếc bánh sừng bò thứ hai.

– Một gã ranh ma. Rất tiếc vì thông tin không còn giá trị, cháu yêu…

– Không có gì. Cháu rất tiếc vì đã nặng lời với chú tối qua…

– Tự chú gây ra thôi. Với lại cháu quá mệt. Bây giờ cháu còn mệt hơn… Có lẽ cháu phải ngủ một hoặc hai giờ…

Aja thổi cốc trà nóng bỏng.

– Không thể được, người hùng ạ. Mọi chuyện sẽ được giải quyết trong những giờ sắp tới, cháu cảm thấy thế. Bellion đã núp trong hầm trú ẩn suốt cả đêm, nhưng hắn sẽ ra ngoài, bắt buộc phải thế. Giống như loài gặm nhấm phải đi tìm thức ăn… Hắn không ngẫu nhiên bỏ trốn, chú Christos ạ, hắn có chủ đích. Một cái đích cụ thể.

– Nếu chú đề nghị giúp cháu một việc, nói thế nào nhỉ, hơi rắc rối, cháu có chấp nhận không?

– Cháu đã đến nước này…

– Bạn cùng giường của chú. Một phụ nữ người Cafre, cô ấy đã nghĩ ngợi suốt đêm về vụ án. Cô ấy cũng thấy có điều gì đó không ổn ở đây. Một thứ lô gích ngầm.

– Biết ủy quyền là một phẩm chất đấy, chú Christos. Bạn gái chú, cô ấy làm nghề bói toán kiểu Comore à? Bã cà phê Bourbon hay lòng dê đực?

– Đúng hơn là Harlan Coben. Kiểu đoán trước khi còn ba chương cuối…

Aja bị bỏng họng do nước trà quá nóng, cô nhăn mặt và cắt lời luôn:

– Ờ thì sao lại không chứ? Chú cứ bảo cô ấy đến, có mất gì đâu…

Christos mỉm cười.

– Thật dễ mến, sếp. Cháu sẽ không thất vọng đâu. Imelda là một tuyệt tác đấy.

Ông rút từ trong túi ra một gói cỏ, quấn một điếu thuốc. Aja nhăn nhó khó chịu.

– Chú Christos, nói cho cháu yên tâm đi, chú sẽ không hút cần sa ở đây chứ? Đây là đội cảnh sát, khỉ thật. Nhất là hôm nay, đầy đủ bộ sậu của đội ComGend sẽ đến…

– Bình tĩnh đi, Aja. Chúng ta đang ở ngoài sảnh. Bên bờ biển, gió sẽ thổi bay hết… Với lại, căn nguyên là một việc tốt, chú đã tịch thu cái này của một thằng nhóc trước khi đi!

Aja thở dài cam chịu.

– Chú làm cháu mệt quá! Sáng nay cháu không muốn cãi nhau với chú nữa.

Christos rít một hơi.

– Ngoài ra, có gì mới nữa không, cháu yêu?

– Có, phút nào cũng có… Chú nghĩ xem, kế hoạch Papangue nghĩa là bỗng nhiên có cả hàng chục người ở đây và ở chính quốc.

– Thế thì phải chọn lọc. Chỉ cho chú những chi tiết mới tinh thôi.

– Chú không biết chú nói đúng đến thế nào đâu. Trong số các tin mới nhất, kỹ sư tin học của ComGend đã đào xới đôi chút phía nhà Jourdain. Họ khẳng định rằng họ không quen biết nhà Bellion trước khi gặp nhau trên đảo cách đây vài hôm. Nhưng ngược lại…

Viên thiếu úy mím môi giữ điếu thuốc. Ông đoán ông sẽ thích đoạn sau.

– Ngược lại gì cơ?

-… ngược lại, họ đã nảy ra ý tưởng kiểm tra các tài khoản Internet của nhà Jourdain. Đặc biệt là của Jacques Jourdain. Chú đoán xem anh chàng bé nhỏ hay ra vẻ bí mật đó giấu gì trong hộp thư Picasa?

– Đó là một thứ để chứa ảnh, đúng không?

– Giỏi lắm, chú Chris. Jacques Jourdain sưu tầm ảnh chụp trộm các nữ du khách trẻ xinh đẹp mặc đồ bơi một mảnh, từ những ảnh âm bản mờ chụp cận cảnh trên bãi biển bằng điện thoại di động cho đến những bức khác chụp trộm kiểu paparazzi, zoom to bằng máy Konica Minolta.

– Wow! Gã luật sư này làm chú kinh ngạc đấy. Có thể bắt hắn vì tội đó không?

– Không đơn giản. Chỉ có điều trong bộ sưu tập những cô gái lưu ở tài khoản của ông ta, họ tìm thấy cả chục bức ảnh của Liane Bellion. Rõ ràng là hình như người đẹp thích có làn da rám nắng không có vết áo tắm…

Christos há miệng, mặt tươi roi rói, điếu thuốc vẫn giữ thăng bằng một cách thần kỳ giữa hai hàm răng.

– Chú ngạc nhiên đấy! Ta có thể xem ảnh không?

Aja phá lên cười.

– Bên ComGend đã có vài nhân viên bị ám ảnh giống chú xung phong làm việc đó rồi. Nhưng dù sao cũng không được đào ngũ, người hùng ạ…

Christos để rơi điếu thuốc.

– Chú cũng căm thù những gã ở ComGend như cháu! Cháu có tin là Jacques Jourdain phải lòng người đẹp tóc vàng Bellion không?

– Ta sẽ biết thôi…

Viên đại úy thong thả uống cạn cốc trà rồi lại ngước mắt nhìn Christos.

– Cháu có thứ khác cho chú. Bởi vì chú đến sớm, chú có muốn mình có ích không?

– Chú dậy sớm là vì thế, cháu yêu! Thậm chí chú còn bỏ cả cuộc yêu kiểu chó vào buổi sáng để đến đúng giờ…

Aja thở dài đặt cốc xuống.

– Một hướng khác cần xác minh! Một cú điện thoại đêm qua sau khi truyền hình đưa tin. Một cô gái, Charline Tai Leung, làm tiếp viên ở sân bay Saint Denis. Theo những gì cô ta nói qua điện thoại, Martial Bellion đã đến gặp cô ta để đổi vé máy bay vào năm ngày trước, bốn mươi tám giờ trước khi án mạng kép xảy ra. Nếu chuyện đó được chứng thực thì Bellion rất có thể bổ sung thêm yếu tố có chủ mưu trước vào toàn bộ những cáo buộc chống lại anh ta. Hôm nay cô gái đó nghỉ phép. Cô ấy sống ở Roquefeuil. Đang ở nhà chờ cảnh sát đến lấy lời khai.

Aja đưa ra một tấm bìa có dòng địa chỉ viết nguệch ngoạc. Viên thiếu úy đưa chân di nát mẩu thuốc.

– Nếu cháu quan tâm đến tình cảm của chú thì, người đẹp ạ… Chú ngưỡng mộ các tiếp viên hàng không.

Ông nói thêm, trước vẻ mệt mỏi của cấp trên:

– Nào, Aja. Gọng kìm đang siết lại. Chúng ta sẽ bắt được hắn, chắc chắn ta sẽ bắt được hắn.

Chương 22

Chim cắt đâu, ra đi

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

8 giờ 04

Tôi đi trên đại lộ lớn dành cho khách bộ hành đi xuống bãi biển. Hai bên đường, các ngôi nhà hình hộp sơn màu phấn, giống như những ngôi nhà búp bê mới tinh, mái hoặc tường nhà có thể nhấc ra được. Tôi đánh vần tên phố trên một tấm biển treo dưới chữ thập màu xanh lục của hiệu thuốc. “Đường đi dạo Rodrigues”.

Từ khi ba đóng cửa lại sau lưng tôi, tôi đã vâng theo tất cả các chỉ dẫn. Rất ngoan ngoãn. Không chạy. Đi trên vỉa hè. Xuống cầu thang. Đi qua đường. Đến con đường đi bộ rộng không có ô tô nhưng cũng không bao giờ được chạy.

Tôi đã ghi nhớ hết những điều cần làm tiếp theo. Đến mỗi cửa hàng, đưa cho người bán hàng danh sách những thứ cần mua. Chờ. Trả tiền.

Dễ dàng, mặc dù phải đeo đôi kính mát to tướng nên cứ bước vào bóng râm là tôi lại không nhìn thấy gì. Nhưng ba đã nói rất nghiêm túc. Không được quyền bỏ nó ra!

Ở đầu phố, gần bãi biển, có một cảnh sát mặc đồng phục. Ông ta đứng một mình. Ông đứng thẳng, chỉ có đôi mắt là cử động sang mọi hướng, giống như con mèo lười đang giám sát lũ chim sẻ.

Lúc này, ông ấy đang nhìn tôi. Chắc là tôi đã có cử chỉ gì đó khiến ông ngạc nhiên. May thay, tôi đã không hét lên, cũng không làm gì, tôi cố gắng càng kiềm chế càng tốt. Trong khi mọi thứ đang đảo lộn trong đầu tôi.

Chính là tôi ở trên tờ báo! To tướng, ngay trên trang nhất, với ba và mẹ. Có cả chồng báo đặt trước hầu hết các cửa hàng. Thế nhưng tôi vẫn phải tiếp tục đi bình thường, như ba đã dặn. Phải ranh ma. Trên bức ảnh ở tờ báo, tôi mặc chiếc váy vàng, tóc dài, còn nhìn thấy cả mắt tôi nữa. Không ai có thể nhận ra tôi. Dù sao thì cũng chắc chắn không phải là ông cảnh sát mèo đực to xác này.

Tôi vào thẳng cửa hàng thực phẩm.

– Cháu muốn gì, cậu bé?

Tôi câm lặng và đưa danh sách cho người phụ nữ đứng sau mấy chiếc sọt. Bánh mì, giăm bông, bánh ga tô và chuối. Bà ta mất đến cả giờ đồng hồ để xếp tất cả các thứ vào túi xách. Khi bà làm xong, và sau khi bà mất cả một giờ nữa để trả tiền lẻ lại cho tôi, tôi chỉ trả lời rất nhỏ, gần như thì thầm:

– Cháu cảm ơn bà.

Ba đã nói với tôi là không được đổi giọng, chỉ nói càng nhỏ càng tốt, như thể tôi đang nhút nhát.

Tôi đi ra. Cảnh sát mèo béo vẫn ở đó, ông ta không nhúc nhích nhưng cứ như thể ông ta đang lại gần, giống như trò Một, hai, ba, mặt trời.

Tôi đi tiếp như chưa từng có chuyện gì.

Bốn cửa hàng. Hai cửa hàng quần áo, một cửa hàng hoa, một cửa hàng bánh kẹp.

Tôi đi qua. Cố gắng bước thật nhẹ nhàng. Một hiệu sách.

Tôi bước vào.

– Cháu tìm gì nào, cậu bé?

Tôi ngước mắt lên. Ngay lập tức, ông ta khiến tôi sợ hãi. Một người Trung Hoa.

Tôi sợ người Trung Hoa, tiếp sau lũ quỷ ăn thịt người và cướp biển Caribê thì tôi sợ người Trung Hoa nhất. Cả ở Paris, trong các nhà hàng, tôi cũng sợ họ. Mẹ rất thích ăn ở đó mỗi khi chúng tôi đi chợ, nhưng tôi thì không. Ở trường, Timéo kể rằng họ ăn những thứ kỳ quặc, ăn thịt chó lạc, nhện và cá không mắt. Ở đây thì họ ăn dưa chuột đầy nhớt. Tôi khẽ giở tờ giấy ba đưa cho, vừa tự mắng mình là ngốc.

Tôi biết rõ rằng Timéo kể toàn chuyện linh tinh. Với lại người Trung Hoa này bán sách… Và báo.

Lại có ảnh tôi, ngay trước mũi, đúng ngang tầm mắt. Tôi thầm đánh vần những chữ hoa in đậm.

KẺ GI-ẾT NGƯ-ỜI ĐANG B-Ỏ TR-ỐN.

– Cháu muốn mua báo à, cậu bé? Tuổi này mà đã biết đọc rồi sao?

Tôi cúi đầu, nhăn trán, nhìn vào đôi dép con trai đang đi. Tôi chỉ có một thứ cần mua, nhưng tôi phải đọc để hỏi, mà cửa hàng thì quá tối, tối hơn cả một căn hầm ma. Đành vậy, tôi không thể làm khác được, tôi bỏ cặp kính đen ra và đánh vần không hề vấp.

– Một bản đồ tỷ lệ 1/25.000. Loại 4406 RT.

Người Trung Hoa ngần ngừ một phần tư giây, rồi chìa ra một tấm bản đồ màu xanh lơ gấp vuông vắn.

– Cháu sắp đi cắm trại với ba mẹ trên núi à, cậu bé?

Tôi không trả lời, chìa ra một tờ tiền, cúi đầu, đôi dép của tôi xấu quá. Dù sao thì cũng tốt vì tôi gặp phải một người Trung Hoa. Hẳn là ông ta nghĩ tôi sợ. Ông ta chắc đã quen rồi.

Tôi đã có đủ. Tôi bước ra.

Viên cảnh sát lại di chuyển. Ông ta chơi gian, ông ta đang đi trên đường dành cho người đi bộ, bây giờ ông ta ở phía trên tôi. Chắc chắn tôi sẽ phải gặp ông ta thì mới trở lên ngôi nhà của bà già tóc xanh lơ nơi ba đang đợi được.

Không sao. Không sao. Không sao. Ông ta không thể nhận ra tôi!

Hai mươi mét nữa.

Nào, ta chơi trò khác, chấm dứt trò Một, hai, ba, mặt trời, chuyển sang trò Chim cắt đâu, ra đi. Tôi quá giỏi trò Chim cắt đâu, ra đi. Mẹo chơi để chuyển từ bên này sang bên khác mà không bị bắt, chính là khiến người ta quên mình đi. Không ngu ngốc chạy như những thằng con trai tưởng mình quá giỏi mà lại luôn bị bắt trước tôi.

Tôi đi qua trước mặt viên cảnh sát mà không thay đổi nhịp điệu, thậm chí không cả quay đầu đi. Có thể ông ta nhìn tôi, có thể ông ta đang để mắt tới tôi, thậm chí có thể ông ta đang nhìn theo sau lưng tôi. Tôi mặc kệ, tôi mặc kệ, tôi mặc kệ, ông ta không thể nhận ra tôi, con chim cắt to béo vô dụng đó.

Ba mươi mét nữa.

Tôi chỉ còn phải đi qua phố. Giờ thì có thể quay đầu lại rồi. Viên cảnh sát đã ở xa, ông ta đi về phía bãi biển, ở đầu kia đường. Tôi quá giỏi!

Qua đường xong, chỉ còn phải leo lên một cầu thang hai mươi bậc và sau đó, tôi có thể chạy, chạy, nhanh, nhanh lên, tôi muốn chạy quá rồi. Tôi chỉ còn phải để cho những chiếc ôtô chạy qua hết.

Chỉ có một chiếc. To và đen với mấy bánh xe rất cao để chạy trên đường núi.

Nó đi chậm lại. Dừng lại để tôi đi qua.

Tôi đặt một chân lên lối đi bộ sang đường, rồi quay đầu lại theo phản xạ.

Người đàn ông ngồi trước vô lăng quá kỳ cục! Ông ta có nước da sẫm, gần như màu cam, mặc chiếc áo sơmi Ấn Độ và đội trên đầu mũ lưỡi trai xanh lục có thêu một con hổ màu đỏ. Một người Malbar, ba gọi những người này như thế, trong khách sạn cũng có một người cắt cỏ là người Malbar. Ông ta cũng đeo kính mát.

Đầu người đàn ông đó cứ ngoảnh theo tôi trong khi tôi băng qua đường, tôi leo lên bậc cầu thang và vòng tránh cây cọ nằm giữa lối đi. Tôi có một cảm giác khủng khiếp, cả người tôi run rẩy, những con kiến điên cuồng chạy trên chân tôi, tôi không nhìn thấy mắt ông ta, nhưng, nhưng tôi gần như chắc chắn… ông ta đã đoán ra là tôi cải trang.

Ông ta biết tôi là con gái! Ông ta không bị mắc bẫy như viên cảnh sát ngu ngốc hay con quỷ Trung Hoa ở hiệu sách.

Thoáng nghĩ như thế, tôi còn sợ người Malbar hơn cả người Trung Hoa. Chân tôi run lên, như thể con phố với ba cây cọ còn dài hơn cả một khu rừng có ma.

Tôi thật ngốc. Tôi gần đến nơi rồi. Ba đang đợi tôi ở đó, sau lối rẽ, tôi sắp nhìn thấy ngôi nhà rồi. Bây giờ tôi chạy trên vỉa hè mà không quay nhìn về phía chiếc xe to tướng màu đen, chắc là nó đã nổ máy đi rồi.

– Ba!

Cánh cửa nhà mở ra, tôi nhận ra ba mặc dù trông đầu ba thật buồn cười với mái tóc cắt siêu ngắn và đôi môi rất nhỏ không có râu và ria mép. Tôi lao vào hành lang, ba đóng cửa lại và hôn tôi.

Tôi rất thích được ba hôn. Việc đó không thường xuyên. Rốt cuộc, tôi cũng thích ở một mình với ba. Chúng tôi làm nhiều điều kỳ quặc hơn là khi ở với mẹ. Những trò chơi mới. Những trò chơi mà tôi luôn giỏi nhất! Tôi đưa mấy cái túi cho ba, tôi đã chiến thắng trong cuộc truy tìm kho báu mà không bị bắt! Và nhất là, chiều nay, chúng tôi sẽ gặp lại mẹ.

Ba xem từng thứ có trong chiếc túi thứ nhất, ba có vẻ hài lòng, quá tự hào về tôi, ba lùa tay vào trong tóc tôi, như để làm nó rối tung lên.

Tôi chỉ muốn khóc vì mái tóc của mình. Bây giờ tôi nghĩ lẽ ra không cần phải cắt nó. Có lẽ chỉ cần đội mũ lưỡi trai là đủ, một cái mũ to màu xanh lục với một con hổ ở trên như mũ của người đàn ông Malbar đó.

Ba đã xem xong những thứ đựng trong túi cuối cùng, cái túi có tấm bản đồ.

– Con là nhà vô địch, con yêu ạ.

– Mình đi gặp mẹ thôi chứ ba?

Ba choàng tay ôm tôi.

– Con nghe kỹ này, Sofa. Ba sẽ khóa cửa nhà lại. Ba sẽ bật tivi cho con. Con để tiếng thật nhỏ và nhất là không mở cửa cho bất kỳ ai. Con đừng rời khỏi chiếc ghế dài. Bây giờ con về rồi, ba sẽ đi tắm. Chỉ khoảng năm phút thôi, rồi sau đó, chúng ta đi…

8 giờ 21

Mới xem Titeuf được hai phút, không hơn, tôi nghe có tiếng xe bên ngoài, ngay trước cửa nhà. Tôi lưỡng lự không biết có nên đứng dậy không.

Tôi cho tiếng tivi nhỏ hơn nữa. Titeuf đã bị khóa miệng! Có tiếng động trong gara, cái gara mà ba đã để mở.

Như thể có một chiếc xe đi vào đó.

Tôi những muốn ít nhất là đi ra cửa sổ để xem có đúng không. Tôi có cảm giác thật sự chiếc xe không đậu ngoài phố. Nó ở đó, rất gần, tôi nghe thấy tiếng động cơ.

Có một cái cửa giữa gara và nhà. Nếu đúng thế thì nó đang mở.

Ai đó có thể vào nhà.

Không biết tại sao, tôi lại nghĩ đến người đàn ông Malbar có khuôn mặt màu cam trong chiếc xe đen có bánh lớn. Tôi phải gọi ba, nhưng ba đã bảo tôi gây càng ít tiếng động càng tốt. Thế nhưng tôi lại phải gào to thì ba mới nghe thấy tôi, vì ba đang tắm. Tôi không thể vào phòng tắm, tôi còn không được phép ra khỏi chiếc ghế.

Trừ phi…

Tôi đứng dậy. Khẽ khàng bước đến bên cửa phòng tắm, lớp thảm dày lút chân.

Không có gì. Không còn gì. Tôi không còn nghe thấy tiếng động nào. Cả Titeuf và Nadia đều câm lặng trong tivi.

Cả tiếng động trong gara cũng không.

Thậm chí tôi còn không nghe thấy tiếng nước chảy từ vòi hoa sen.

Chương 23

Cap Champagne

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

8 giờ 32

– Chúa ơi, anh không hiểu sao, đại tá? Bỏ chốt chặn sẽ là điều ngu ngốc tột bậc.

Aja bấu chặt chiếc điện thoại. Laroche gọi cho cô ngay sau khi nói chuyện xong với tỉnh trưởng. Cùng lắm là mười phút; vẫn ông tỉnh trưởng ngay trước đó đã phải hội đàm qua video với một bộ trưởng nào đó, của Bộ Nội vụ hoặc Bộ Hải ngoại. Cùng lắm là hai phút. Rõ ràng là chuyện đang nóng lên… theo từng đợt. Một thác nước quan liêu nặng nề thêm sau mỗi cấp hành chính để rồi đổ xuống đầu cô qua miệng đại tá Laroche.

– Những cái chốt chặn chết tiệt của cô huy động hết ba mươi người của tôi từ tối qua, đại úy Purvi ạ. Kết quả duy nhất chỉ là một cảnh hỗn độn chưa từng thấy ở Réunion kể từ hồi con đường ven biển bị sụt lở vào tháng Hai năm 2006.

– Đại tá, hãy tin tôi! Bellion sẽ ra khỏi hang, đêm qua hắn trốn để cho con hắn ngủ, hắn không có cách nào khác, nhưng bây giờ hắn sẽ phải tính cách khác. Vấn đề chỉ là phải kiên nhẫn thôi.

Aja quan sát tấm bản đồ Saint Gilles được chiếu trên tường của đội cảnh sát.

– Quá một phần ba các ngôi nhà trong vùng đã được lục soát. Trừ phi Bellion đã sang bên kia đảo. – Laroche bình thản nói. Lạnh lùng. Không gây sự.

Aja nổ tung.

– Không thể nào! Bellion đã bị mắc vào thòng lọng. Chỉ cần kéo nhẹ mối buộc. Tôi biết rõ vùng này, đại tá…

– Tôi nghi ngờ điều đó, đại úy Purvi. Cô biết rõ vùng này hơn tôi, nếu cô muốn ám chỉ điều đó. Nhưng như thế cũng không ngăn cản tôi biết việc của mình và có những người phối hợp có năng lực. Hôm nay là thứ Hai dịp lễ Phục sinh, ngày đi cắm trại truyền thống của người Créole lên vùng Thượng. Tất cả các thành phố trên đảo đều vắng người. Các chốt chặn của cô sẽ gây ra cảnh lộn tùng phèo lịch sử trong truyền thống ẩm thực của đảo.

– Đúng thế, đại tá ạ, Bellion biết điều đó. Hắn sẽ tìm cách lợi dụng điều đó để chui qua các mắt lưới.

Laroche im lặng một lát, hình như đang suy nghĩ. Theo đúng lô gích, lẽ ra Aja phải nói với anh ta về việc một nữ tiếp viên đã tiếp đón Martial Bellion ở sân bay Roland Garros. Giữ lại những thông tin loại này sẽ là lỗi nghiệp vụ, cô biết rõ điều đó. Chỉ trừ phi cô không thực sự giữ kín, mà chỉ giữ lại một thời gian ngắn. Ngay khi Christos báo cáo lại, cô sẽ chuyển giao thông tin. Nếu nó quan trọng…

Laroche thở dài ở đầu dây bên kia.

– OK, đại úy Purvi. Ta sẽ giữ các chốt chặn ở quanh Saint Gilles thêm vài giờ nữa. Chuyện này sẽ ầm ĩ đến tận quảng trường Beauvau nhưng lúc này ta không còn hướng nào khác.

Aja áp lưng vào bức tường trắng của văn phòng đội cảnh sát. Cô đã thắng.

– Cảm ơn đại tá. Người ở đây cũng mệt rồi. Họ đã canh chừng suốt đêm nhưng họ sẽ không bỏ cuộc, nếu tôi yêu cầu họ tiếp tục…

– Đừng làm quá, đại úy Purvi…

– Đừng quá nghĩa là sao?

Laroche không nổi cáu. Aja ngờ rằng anh ta có toàn bộ thông tin về các sĩ quan trên đảo, các nét tính cách của đại úy Aja Purvi hẳn cũng được nêu ra. Gạch chân bằng mực đỏ.

– Giải thích với cô thế nào nhỉ, đại úy? Để đơn giản, tôi sẽ quay lại ẩn dụ vừa rồi của cô, cái thòng lọng và nút thắt, cô nhớ không? Ẩn dụ của cô rất thú vị, nhưng nó bị sai. Nói chính xác là không đầy đủ. Kế hoạch Papangue là một chiến dịch rất phức tạp, ngay cả trên một hòn đảo như Réunion. Cái mà chúng ta giăng ra không phải là thòng lọng, mà là tấm lưới, bao gồm rất nhiều sợi dây kết nối với nhau. Và điều quan trọng nhất, đại úy ạ, chính là cách thắt nút. Đây không phải là một tấm lưới trắc địa đơn thuần, mà đúng ra là nhiều vòng tròn nằm trong nhau, bắt đầu từ vòng tròn thứ nhất, đơn giản nhất, được vạch ra vài trăm mét xung quanh nơi Bellion đã bốc hơi, cho đến những vòng tròn khác, phức tạp hơn, lôi kéo sự tham gia của rất nhiều tác nhân, các phương tiện giao thông, các mạng lưới giám sát, các đội hành động chuyên nghiệp…

Gã khốn này muốn đi đến đâu đây?

– Cô yên tâm, đại úy Purvi ạ, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng ở cô…

Im lặng. Lần này là có tính toán.

-… để duy trì sợi dây ở vòng tròn thứ nhất…

Aja tưởng tượng ra nụ cười của gã Laroche đạo đức giả. Không chắc là gã nhìn thấy ngón tay thối mà cô dành cho gã.

8 giờ 36

Aja ngồi xuống chiếc võng mắc giữa hai cây phi lao, đặt máy tính lên đầu gối. Cô luôn thấy việc mắc võng ở bãi đỗ xe của đội cảnh sát là buồn cười, lại một ý tưởng của Christos, nhưng cô không vì chuyện quá nhỏ này mà biến tất cả đồng nghiệp trong đội cảnh sát thành kẻ thù… Hôm nay, sau một đêm gần như không ngủ, cuối cùng cô cũng thấy dễ chịu khi được ru ngủ trong khi đang kiểm tra email.

Ánh mặt trời chiếu là là, gió từ biển thổi vào qua các ngôi nhà, hàng cây cọ đổ bóng mát, từng ấy điều kiện lý tưởng để tự tặng mình một khoảng trống nhỏ giữa cuộc truy đuổi và tập trung vào tâm lý của Martial Bellion, mặc dù cô không tin lắm vào những lý thuyết lờ mờ về những kẻ giết người tái phạm vốn được những người tự cho mình có tài nhận diện rao giảng ở trường đại học: phương thức hành động, chữ ký, tâm lý đồi trụy và ái kỷ, khủng hoảng cảm xúc và những điều ngu ngốc khác tương tự. Cô vẫn luôn cho rằng các cảnh sát này che đậy năng lực kém cỏi của họ bằng cách chém gió, gần giống với những giáo viên không có khả năng giảng dạy bị điều chuyển về IUFM.

ComGend đã hành động, họ đã gửi đến tất cả các đội cảnh sát chịu trách nhiệm giữ một đầu dây của tấm lưới nổi danh của Laroche một email mật gắn kèm bốn tệp tài liệu. Aja mở tài liệu đầu tiên. Nó được sở cảnh sát Deuil la Barre soạn thảo khẩn cấp. Trong đó là hồ sơ lý lịch vắn tắt của Martial Bellion.

Sinh tại Palaiseau năm 1973. Trải qua thời niên thiếu ở Orsay rồi ở Ulis.

Sau hai năm học ngành STAPS tại trường Paris 11, hắn rời trường đại học mà không có bằng, ngoại trừ một chứng chỉ giám sát bơi lội và một chứng chỉ khác về đồng hành trên thuyền kayak, sau đó đến Réunion. Khi đó hắn hai mươi mốt tuổi. Hắn trở thành hoạt náo viên thể thao cho câu lạc bộ bơi thuyền Bourbon ở Saint Gilles. Hắn đã ở đó trong chín năm. Tháng Chín năm 1996, hắn kết hôn với Graziella Doré, người quản lý của quán bar – nhà hàng Cap Champagne trên bãi biển Boucan Canot. Graziella lúc ấy đang có thai ba tháng. Cậu bé Alex sinh ngày 11 tháng Ba. Ba mẹ cậu ly hôn sau đó mười tám tháng và chia nhau trông giữ cậu. Mỗi người một cuối tuần.

Chủ nhật ngày 4 tháng Năm năm 2003, là cuối tuần đến phiên Martial trong con, thi thể Alex được các khách du lịch tìm thấy, cậu bé bị chết đuối trên biển. Tin này chiếm trang nhất của các báo trong vài ngày. Viên dự thẩm do dự khá lâu trong việc định tội giữa ngộ sát và gây chết người do tai nạn. Sau nhiều bàn cãi dài dòng, kết luận đưa ra là gây chết người do tai nạn, điều đó tránh cho Martial Bellion việc phải ra trước tòa án tiểu hình… và giải thích việc không có dấu vết nào về vụ án được lưu trong hồ sơ của cảnh sát.

Martial Bellion rời Réunion vài tháng sau đó. Quay lại Pháp. Hắn gặp Liane Armati vào năm 2005. Josapha ra đời vào tháng Một năm 2007. Họ cưới nhau vào năm sau đó. Từ năm 2009, Martial là bảo vệ của một phòng tập thể dục tại vùng Paris, ở Deuil la Barre. Liane Bellion đã bỏ học để nuôi dạy con gái.

Chỉ có thế.

Aja ngáp. Ánh mặt trời xuyên qua hàng phi lao, đốt nóng gáy cô. Chiếc võng rung rinh. Cô có cảm giác đang bập bềnh trên một tấm đệm hơi giữa đại dương. Một đại dương nơi ta vẫn bắt được sóng Wi-Fi. Cô lại ngáp và nhấp chuột vào tệp tài liệu thứ hai.

Cô phát hiện ra một báo cáo vắn tắt về tai nạn của Alex Bellion, do thẩm phán Martin Gaillard, người chịu trách nhiệm tổng hợp thông tin, soạn thảo.

Tối xảy ra thảm kịch, Martial Bellion đang trông Alex. Mọi chuyện xảy ra trong khoảng từ 22 giờ, thời điểm Martial Bellion đón con từ nhà mẹ cậu bé, trên bãi biển Boucan Canot, đến 6 giờ sáng hôm sau, thời điểm mà thi thể cậu bé Alex, sáu tuổi, được tìm thấy đã chết đuối trên bờ biển. Kết quả điều tra của tòa án đối với Bellion là không thể chối cãi và quy tội một cách chắc chắn cho người cha đã không giám sát con. Tất cả các khách hàng của Bambou Bar, cách bãi biển Boucan Canot một trăm mét, đều khẳng định rằng Martial Bellion đã uống hết cốc này đến cốc khác trong khoảng thời gian con trai hắn chết đuối. Tình tiết tăng nặng là Martial Bellion không hề báo động. Chính cảnh sát là người đến báo hung tin tại căn hộ của hắn ở Saint Paul vào sáng hôm sau. Martial Bellion có 1,2 gram cồn trong máu và 150 nanogram cần sa trong nước tiểu.

Chết tiệt…

Aja nhắm mắt. Đương nhiên, cô nghĩ đến Jade và Lola.

Cha mẹ làm sao có thể sống sót sau một thảm kịch như vậy? Họ còn gì để gây dựng lại sau đó?

Phải chăng Martial Bellion đã trở thành quái vật do cẩu thả? Gần như do ngẫu nhiên? Cô tưởng tượng ra một khớp nối, vừa ngu ngốc vừa bần tiện. “Con đừng đi đâu, Alex, ba chỉ đi hút thuốc và uống một lát ở đằng kia, đầu bãi biển ấy, ba sẽ về ngay lập tức, đó không phải chỗ dành cho trẻ con…”

Phải chăng tất cả đều có thể bị đảo lộn chỉ bởi vài ly rượu quá chén? Đầu tiên là một mạng sống, rồi đến nhiều mạng sống khác…

Liane Bellion. Rodin. Sofa Bellion.

Aja nhấp chuột vào tệp tin thứ ba: bản chụp PDF một bài viết trên tờ nhật báo đảo Réunion hiện ra, bài đăng ngày 1 tháng Bảy năm 2003, tức hai tháng sau vụ tai nạn. Một mục nhỏ thông báo đóng cửa quán bar – nhà hàng Cap Champagne do Graziella Doré quản lý. Để thêm mắm dặm muối, phóng viên không bỏ qua việc nhắc lại thảm kịch về cái chết của Alex. Mặc dù anh ta hiểu rằng Graziella Doré khó mà có thể tiếp tục sống đối diện với những con sóng đã từng đưa thân thể đã chết của con trai về với cô, nhưng những hậu quả của việc đóng cửa kinh doanh cũng rất thê thảm: bảy người Créole hôm trước hôm sau đã rơi vào cảnh thất nghiệp! Nhân viên quầy bar, nhân viên phục vụ, đầu bếp… Lao công…

Aja ghi nhận sự trùng hợp kỳ lạ. Chính ba mẹ cô cũng từng là nhân viên của khách sạn Alamanda trong nhiều năm. Một công việc bấp bênh giống như công việc của bảy người Créole được nhắc đến trong bài báo. Bối rối, Aja đẩy lập luận đi xa hơn: chắc chắn là trong số những người Créole đột nhiên bị mất việc làm do cái chết của Alex Bellion, một vài người đã tìm cách chuyển sang làm ở Alamanda. Tuy nhiên, không một nhân viên khách sạn nào trong số những người được hỏi sau khi Liane Bellion biến mất nhắc đến vụ án cũ này: Gabin Payet, Eve Marie Nativel, Naivo Randrianasoloarimino, Tanguy Dijoux.

Tại sao?

Trong một góc trí não, Aja ghi nhận rằng cần phải xác minh nhân thân của bảy nhân viên ở Cap Champagne. Toàn bộ vụ điều tra, ngay từ đầu, dựa trên một định đề cơ bản: Martial Bellion là thủ phạm duy nhất có thể gây án. Năm nhân chứng chống lại một, trong đó có lời khai của Eve Marie Nativel khẳng định rằng Liane Bellion không hề ra khỏi phòng 38. Cô vẫn nhớ rõ từng lời trong kết luận đã được kiểm chứng với Christos: “Khó mà tưởng tượng rằng toàn bộ nhân viên trong khách sạn lại liên minh cùng chống lại một người. Họ hành động như thế vì lý do chết tiệt gì chứ?”

Năm nhân chứng chống lại một.

Cô hoang tưởng rồi! Có lẽ cô phải ngủ.

Cơ thể cô đòi hỏi điều đó. Khẩn khoản. Trừ việc các ngón tay cô vẫn nhảy múa trên bàn phím, tất cả các bộ phận và cơ quan khác trong cơ thể dường như đang hoạt động chậm lại, gần như ở chế độ chờ. Suy nghĩ của cô bay về phía bãi biển Boucan Canot. Cô không thể ngăn mình nghĩ đến số phận kỳ lạ của bãi biển vốn là biểu tượng cho hòn đảo. Chính sự nguy hiểm đã làm nên sức hấp dẫn của nó, bãi biển mấp mô với những con sóng lừng, không có vùng phá ở Boucan Canot, chỉ có những con sóng đẹp cho người lướt sóng ở tất cả các cấp độ. Cho đến khi vào tháng Chín năm 2011, vận động viên lướt sóng nổi tiếng nhất vùng đã bị một con cá mập nuốt trọn ở cách bãi biển mười lăm mét… Một cơn chấn động đối với khách du lịch và một thảm họa đối với các khách sạn, nhà hàng và cửa hiệu, không có gì đáng so sánh với một vụ chết đuối do tai nạn, cách đây mười năm, mà mọi người đều đã lãng quên…

Aja ngáp. Cô đấu tranh chống lại cơn buồn ngủ bằng cách mở tệp tin thứ tư. Cô phát hiện ra một cuộc nói chuyện dài với Agnès Sourisseau, cô giáo của Alex Bellion. Rõ ràng là một tài liệu khác được thẩm phán Martin Gaillard đưa vào hồ sơ.

Câu hỏi của thẩm phán.

“Martial Bellion là người cha thế nào?”

Aja đọc chéo câu trả lời dài dòng của cô giáo.

“Martial Bellion là một người cha hay vắng mặt, hay thay đổi, không tập trung lắm. Ngược lại, Graziella Bellion là người thực tế. Một mình cô đảm nhận việc dạy dỗ Alex. Dù sao cũng là một mối quan hệ vợ chồng khá kinh điển, theo cô giáo. Martial Bellion chỉ đơn giản là chưa sẵn sàng làm cha. Chưa sẵn sàng hy sinh những say mê cá nhân vì một đứa trẻ.”

“Say mê cá nhân?”

“Thể thao, bạn bè, rượu bia, cần sa… phụ nữ.”

“Phụ nữ?”

“Martial Bellion đẹp trai. Dáng thể thao. Lướt từ bữa tiệc này sang cuộc vui khác. Anh ta chỉ cần búng ngón tay, mặc dù tôi nghĩ là trước khi Alex chết vài tháng, anh ta đã khôn ra, và ít nhiều có cặp với một cô gái trẻ người Créole.”

“Nghĩa là thảm kịch không khiến cô ngạc nhiên?”

“Không, không. Tôi không nói thế. Martial Bellion không phải là một người cha biết điều lắm, nhưng từ đó dẫn đến việc tưởng tượng ra vụ tai nạn thì…”

“Đúng thế. Đã có thể xảy ra chuyện gì?”

“Ai mà biết được? Khác với các bãi biển khác ở vùng phá, Boucan Canot nguy hiểm, do vách đá ngầm, ta sẽ bị trượt chân ngay tức khắc. Cậu bé Alex không biết điều đó. Đó là một cậu bé thích bơi như người lớn. Thật kinh khủng khi nói điều đó, nhưng cậu rất ngưỡng mộ cha. Cậu bé luôn vẽ hình anh ta, trên một tấm ván trượt buồm hoặc ván lướt, giữa bầy cá. Về phía anh ta, như tôi đã nói, Martial Bellion thích bạn bè, gái đẹp qua đường, những đêm sôi động hơn… Anh ta không độc ác, chỉ là giống với anh trai hơn một người cha… Với lại… Tất cả những gì tôi kể với ông, là những điều chúng tôi đã sắp xếp lại sau vụ việc, để giải thích. Nếu ông hỏi tôi trước vụ tai nạn, có lẽ tôi sẽ khẳng định với ông là cậu bé Alex là một đứa trẻ hoàn toàn cân bằng, và mặc dù cha mẹ ly hôn, cậu sẽ lớn lên trên hòn đảo này như trong một câu chuyện cổ tích, được thụ hưởng lý trí và uy thế của người mẹ, cùng sự phóng khoáng của người cha..”

“Những đứa trẻ khác trong trường phản ứng thế nào sau cái chết của Alex?”

Aja sẽ không đọc câu trả lời. Ít ra là ngay bây giờ.

Cô ngủ thiếp đi, được ru vỗ bởi những làn gió tín phong và nhịp võng đung đưa.

Chương 24

Cánh cửa gara

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

8 giờ 47

Tôi sợ.

Không còn tiếng động nào, cả trong nhà lẫn trong gara. Tôi chỉ nghe thấy tiếng những nắm tay nhỏ bé của mình gõ vào cửa phòng tắm.

Càng lúc càng mạnh.

Cuối cùng, ba cũng ra khỏi phòng tắm. Ba đã thay quần áo. Ba choàng tay ôm tôi.

– Ba đây, con yêu. Ba đây rồi.

Thật kỳ cục, ba không hỏi tại sao tôi lại đập vào cánh cửa như một con điên. Đột nhiên, tôi không dám nói với ba về chiếc xe mà tôi nghe thấy dừng lại trong gara. Ngay bên cạnh, ngay sau cánh cửa. Tôi nghĩ đến một chuyện khác, còn kỳ cục hơn. Tóc ba không ướt. Chắc là ba đã sấy khô, hoặc ba không cho nước chảy vào đầu. Đó là điều tôi thích nhất trong lúc tắm, được ghé đầu dưới vòi nước.

– Ta đi nhé, con yêu? Bây giờ thì không nên chần chừ nữa.

Ba nhét quần áo vào một chiếc túi lớn: giày thể thao, quần, áo thun. Có vẻ chúng tôi sẽ đến một nơi trời lạnh. Tôi thấy thật khó tin. Từ khi ở đây, ở Réunion này, tôi chưa từng thấy nóng như thế trong đời. Hơn nữa, cậu bé ở trong nhà này, người mà tôi đang mượn quần soóc và áo, cao hơn tôi một chút, và tôi những muốn có thời gian để lựa chọn những quần áo khác, và cả thử chúng nữa.

– Sẽ ổn thôi, – ba nói.

Ba cũng đã nói rằng tôi không nên khó tính, rằng bà già tóc xanh lơ đã rất tốt bụng khi cho chúng tôi mượn tất cả đồ đạc cùng với ngôi nhà…

Ba dọn sạch chiếc tủ bên trên chậu rửa bát. Nhét những gói bánh gatô vào túi.

Tôi vẫn nhăn nhó.

– Đừng lấy những cái đấy, ba ơi, trông có vẻ không ngon…

Ba không nói gì, lôi mấy cái bánh gatô ra và để trên bàn. Ba căng thẳng. Ba lại nhìn tôi bằng một vẻ lạ lùng, vẫn vẻ mặt đó từ lúc trước, khi ba ra khỏi phòng tắm. Có thể là do anh trai đã chết của tôi. Chắc chắn là anh trai cũng có đôi nét giống tôi và chính vì thế mà ba đã bảo tôi cải trang thành con trai.

Tôi muốn có một bức ảnh của anh quá… Ba vớ lấy chiếc túi. Tôi ngước mắt nhìn ba.

– Chúng ta đi có xa không, ba?

Giọng ba cũng căng thẳng:

– Có, ba nói với con rồi mà… Sang phía bên kia đảo, để gặp lại mẹ.

Ba bước về phía cửa gara. Tôi chần chừ một giây, rồi buột miệng:

– Ba… Lúc trước con vừa nghe thấy tiếng xe, trong lúc ba đang tắm. Hình như nó dừng ngay bên cạnh… Trong… trong gara.

Ba đưa ánh mắt hoảng hốt nhìn tôi, như thể tôi vừa thông báo rằng tôi đã gọi điện cho cảnh sát để nói chúng tôi đang ở đâu.

– Con… con có nhìn thấy gì không?

– Không ba ạ. Không gì cả. Cửa gara vẫn đóng. Không có ai vào…

Ba sải bước đi dọc nhà. Tôi lúp xúp chạy theo. Ba mở hé cửa gara và quay sang phía tôi.

– Con ở đây, con yêu, ba đi xem đã…

Ba đóng cửa lại sau lưng.

Tôi sẵn sàng chờ đến vài giờ, nhưng ba quay lại gần như ngay lập tức. Ba mỉm cười với tôi, nhưng tôi thấy rõ là ba đang cố làm thế.

– Sao ạ?

– Không có gì, Sofa. Con… chắc là con nhầm… Không… không có ai.

Ba nói dối. Lại còn dở nữa. Tôi biết điều đó nhưng đóng vai cô con gái ngoan.

– Thế càng tốt, ba ạ, lúc trước con hơi sợ…

– Con ở đó, Sofa, ba chỉ xem qua trong vườn để xem đường có thông không. Khi nào ba gọi thì con chạy ra ngay nhé.

– Ba nên chú ý để cảnh sát không nhận ra ba nhé!

– Con ngoan quá, con yêu.

Ba hôn tôi. Rồi đi ra.

Có chuyện gì trong gara? Ba còn giấu tôi điều gì? Tôi cần phải biết…

Tôi mở cửa.

Trong gara, có một chiếc xe màu vàng. Nhỏ, tròn và bóng loáng. Tôi không nhận ra nhãn hiệu xe.

Tôi bước vào.

Có ai đó ngồi sau tay lái.

Tôi lại gần. Giờ thì tôi đã nhận ra.

Chính là bà già có mái tóc màu xanh lơ.

Bà ngồi đó, cứng đơ trên ghế lái. Đôi kính xanh lơ rơi xuống đất. Tôi lại gần thêm nữa, không gây tiếng động. Như thể bà già đang ngủ…

Tôi đặt tay lên cánh cửa màu vàng rồi kiễng chân lên. Và nuối tiếc ngay lập tức.

Trong một phần tư giây, mắt tôi không tin vào những gì đang nhìn thấy. Ngay lập tức, tôi hét lên!

Bà già tóc xanh lơ bị một con dao đâm vào cổ họng!

Máu chảy lênh láng từ cổ xuống, cả trên cằm, trên ngực bà, giống như một người bị dây bẩn trong lúc ăn. Chiếc váy xanh lơ bà đang mặc ướt đẫm, gần như tím lại, cùng màu với những lọn tóc xanh bị nhúng trong máu.

Tôi chuẩn bị hét tiếp, để đánh thức cả khu nhà, nhưng một bàn tay đã bịt miệng tôi.

Bàn tay to tướng của một người đàn ông lông lá mà tôi chỉ nhìn thấy cái bóng.

Chương 25

Mật ngọt cho thanh tra

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

8 giờ 49

Christos đậu chiếc xe bán tải Mazda dưới mái vòm của tòa nhà mới tinh Terrasses de Roquefeuil, một khu mới của Saint Gilles được xây dựng cách bờ phá hai bước chân. Roquefeuil là cậu học trò giỏi về các kế hoạch đô thị hóa bền vững, một sự pha trộn khôn ngoan giữa những ngôi nhà có bể bơi dành cho người giàu, có tường bao và lưới sắt, với những tòa nhà rất bình dân cao vài tầng chồng đống lên nhau, tất cả những người này buộc phải học ở những ngôi trường giống nhau, đến những khu thương mại và công viên giống nhau.

Ôi trời, Christos nghĩ, ông không thật sự bị thuyết phục trước sự pha trộn bề mặt. Niềm tin của cá nhân ông, đó là chỉ có một nơi duy nhất trên đảo mà tất cả các chủng tộc hòa trộn vào nhau: bãi biển! Mọi người đều ở trần, đều bình đẳng. Thật kỳ lạ, các màu da càng lộ ra nhiều thì người ta càng bỏ quên chúng.

Viên thiếu úy bước lên ba bậc, đi vào sảnh tòa nhà và đọc tên khắc trên những tấm biển nhỏ bằng đồng: Charline Tai Leung. Cầu thang B. Tầng ba. Nhà số 11.

Chưa đầy 1% người dân đảo Réunion chấp nhận từ bỏ nhà hoặc biệt thự của họ để đến sống chồng đống trong những tòa nhà chung cư, nên người ta liền chải chuốt cho chúng; xây nhà cao tầng là giải pháp duy nhất để có chỗ ở cho mười nghìn dân Réunion phát sinh mỗi năm và chặn đứng xu thế đô thị hóa hỗn loạn ngốn hết các không gian thiên nhiên của đảo, chẳng khác gì một đám cháy rừng.

Một thang máy êm ru. Một tấm thảm chùi chân màu hồng. Một cánh cửa đỏ. Một chiếc chuông vàng óng.

Đẳng cấp!

Giữa hai hồi chuông, Christos ôn lại những ảo ảnh về các nữ tiếp viên hàng không châu Á bị quấy rầy trong giường của họ vào buổi sáng.

Cuối cùng cánh cửa cũng mở ra, để lộ thân hình bốc lửa khoảng một mét sáu nhìn chằm chằm vào viên cảnh sát với đôi mắt to của nhân vật truyện tranh manga mới ngủ dậy. Khuôn mặt tròn được mái tóc đen cứng bao quanh, kiểu nhà thám hiểm Dora. Christos cố gắng không nhìn xuống thấp hơn, chiếc áo tee shirt mà cô ta đang mặc chỉ che được chút ít cặp đùi, khiến ông có cảm giác mỗi lần cô gái hít thở, cặp vú nhỏ đang chĩa ra lại kéo lớp vải lên, để lộ cả vùng kín.

Ông chìa thẻ ra. Cô ta dụi mắt và đào bới trong trí nhớ mù mịt.

– À vâng, đúng rồi, anh chàng ở sân bay. Ông vào đi.

Dora trơ trẽn mời ông ngồi xuống ghế trước, rồi mời cà phê.

Christos thích thú. Ông tận hưởng khung cảnh đẹp đẽ mở ra toàn cảnh Ấn Độ Dương nhìn từ căn nhà, hoặc nếu xoay người một chút, là cái khe giữa cặp mông tròn rám nắng của Charline, khi cô ta cúi xuống để kéo khay đồ ăn sáng lại gần. Cà phê, bánh bích quy và mật ong.

– Cảnh sát các ông làm việc sớm nhỉ!

Christos thể hiện uy quyền.

– Trường hợp bất khả kháng, thưa cô. Chúng tôi có một kẻ giết người đang bỏ trốn. Cô hình dung ra rồi đấy. Mỗi phút đều đáng giá.

Cô ta hình dung. Đến lượt cô ta trèo lên ghế và bắt tréo chân. Chiếc áo tee shirt lại co lên đến rốn. Dora chơi trò Sharon Stone. Christos cắn môi để tránh cho chiếc lưỡi thè lè khỏi rơi vào cốc cà phê nóng bỏng. Người đẹp mỉm cười, không ngượng ngùng, đúng ra là vui thích trước vẻ bối rối của viên cảnh sát.

– Dù sao ông cũng chờ được hai giây chứ? Tôi đi mặc cái gì đó.

Tiếc quá…

Cô ta biến mất vào phòng ngủ. Christos chưa kịp chùng xuống thì cô ta đã quay lại. Đã phủ lên vai một chiếc váy mỏng bằng vải pôpơlin hồng che thêm được chừng một xăngtimét trên cặp đùi trần.

Sự e thẹn kiểu Dora.

Bù lại, cái cổ tròn kín đáo của chiếc áo tee shirt được thay thế bằng cổ váy khoét sâu tài tình, hai sợi dây mỏng mảnh chiến đấu với mong muốn tận hưởng ngày mới của hai núm vú sẫm màu.

Christos quay đầu nhìn ra phía biển. Một tấm ván lướt sóng choán hết ban công.

Lại còn thể thao nữa…

Viên thiếu úy bật ho.

– Vậy là cô đã gặp Martial Bellion ở sân bay Roland Garros? Cách đây năm ngày?

Charline cười rúc rích.

– Vâng… kẻ thù số 1 của quốc gia. Hơn nữa còn khá đẹp trai. Nếu anh ta phạm tội hiếp dâm thay vì giết người, tôi sẽ sẵn sàng tập chạy ở phía Saint Gilles.

Cô ta lại nhảy lên ghế, cách Christos một mét, và tạo dáng ngồi Lolita. Đầu gối áp vào ngực.

Cô ả đang khêu gợi ông! Có thực sự là ông đang làm việc với một cô nhóc bị ám ảnh về những nữ anh hùng đại diện cho lực lượng giữ gìn trật tự chăng? Ông ngần ngại không muốn suy đoán mà chỉ tạm thời đan hai bàn tay trên bụng dưới để che đi sự cương cứng.

– Martial Bellion muốn gì?

– Chẳng có gì bất thường. Anh ta chỉ muốn đổi ngày trên vé về.

– Anh ta có nói với cô tại sao không?

– Tôn trọng cuộc sống riêng của khách hàng, đó là điều khoản đầu tiên trong hợp đồng của chúng tôi với Corsair.

Christos nhăn nhó khó chịu.

– Thế cuối cùng, Bellion có đổi được vé không?

– Không, không thể! Anh ta muốn quay về Paris sớm hơn, nhưng tất cả các chuyến đều kín chỗ. Ít nhất cũng phải đợi một tuần để có một chỗ trên chuyến bay thẳng, cũng gần với ngày về dự kiến của anh ta, ngày 7 tháng Tư.

– Anh ta phản ứng thế nào?

– Hoảng sợ ra mặt. Anh ta đã nài nỉ. Chúng tôi đã thử mọi cách… Phức tạp là vì anh ta không có hộ chiếu. Khả năng duy nhất là bay quá cảnh, hoặc qua Sydney, hoặc qua Delhi. Đắt gấp ba lần.

– Rồi sao?

– Anh ta nói không… Nhưng anh ta đã lưỡng lự.

– À…

Christos cố gắng tập trung vào những vùng tối trong vụ điều tra hơn là vùng tối giữa chiếc váy của Charline Tai Leung và khe đùi cô ta. Martial Bellion đã kín đáo chuẩn bị quay về trước thời hạn! Gần như bằng mọi giá. Từ quan điểm của một biện lý, điều đó có thể có nghĩa là việc giết vợ không đơn thuần là tai nạn, mà là một tội ác có kế hoạch… Nhưng trái lại, tại sao lại trốn về Pháp? Bởi vì trốn ở chính quốc thì dễ hơn ở một hòn đảo ư? Hừm…

– Martian có nói với cô điều gì nữa không?

– Không. Anh ta có vẻ khá dễ mến. Bực bội nhưng dễ mến.

Trong tư thế nhào lộn trên ghế, cô gái vừa cười tươi vừa cúi xuống nhón một chiếc bích quy. Chiếc váy trượt khỏi mông và tốc lên đến tận xương cụt, trong khi cặp vú nhỏ lộ ra ngoài lớp vải và nhảy múa trước mũi viên thiếu úy. Ngồi im như tượng, không thử làm gì sẽ là sự thiếu đứng đắn tồi tệ nhất. Christos với tay về phía chiếc khay đựng đồ ăn sáng, lướt qua một bên bầu vú.

– Ông còn muốn gì khác không, thanh tra?

Cô nhóc không nhúc nhích xăngtimét nào. Da chạm da.

Christos ấp úng:

– Chút… chút mật…

Khó có thể ngu ngốc hơn.

Trong khi ông đang lưỡng lự giữa việc đưa ra lời ám chỉ ranh mãnh trực tiếp hơn hay áp thẳng bàn tay lên bộ ngực trêu ngươi kia, một tiếng giật nước bỗng át những suy nghĩ tà dâm của ông. Tiếng vòi nước mở ra rồi đóng lại. Một cánh cửa kêu cót két.

Một gã mặc quần thụng đỏ bước vào phòng. Cởi trần, để lộ những cơ bắp dài cuồn cuộn, tóc vàng kiểu Hoàng tử bé rối tung. Loại đàn ông có thể làm tình cả đêm. Và lướt sóng trong thời gian còn lại.

– Mật à, thanh tra? – cô ả Dora hỏi lại.

– Cảm ơn…

Vị ngọt xua đi vị đắng.

Gã vận động viên lướt sóng không nhiều lời. Anh ta ngồi uể oải trên một chiếc ghế và uống cạn cả lít nước.

Cô Tai Leung, Christos lúng túng.

– Martial Bellion có vẻ muốn bỏ trốn không?

– Chính xác thì ông muốn nói gì với từ “bỏ trốn”, thanh tra?

– À, thì, hình như anh ta muốn rời khỏi đảo bằng mọi giá… Theo cô, phải chăng anh ta sợ điều gì đó?

Anh chàng vận động viên lướt sóng đứng dậy gãi vùng bẹn bên trong quần thụng. Charline ném cho anh ta ánh mắt tình tứ rồi lại quay đôi mắt to như búp bê về phía Christos.

– Có, thanh tra ạ. Anh ta sợ, chính xác là thế.

Chương 26

Chỗ của người chết

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 03

Bàn tay lông lá bịt miệng khiến tôi bị ngạt. Tôi không thở được nữa.

Tôi nghẹt thở. Vì ngước mắt. Vì sợ. Tôi muốn cắn bàn tay đó, nghiến ngấu nó bằng răng giống như một con thú hoang, xé rách nó và rứt từng ngón tay một.

Con quái vật thở sau lưng tôi, phả vào gáy tôi một luồng khí nóng ran.

Đọc thêm

Overtime

1. Tờ mờ sáng, tôi chuẩn bị đi làm với tâm trạng còn tệ hơn ngày thường vì hôm nay thứ bảy. Nghĩ về…

Trông mặt bắt hình dong

Người xưa nói: “trông mặt mà bắt hình dong” cho đến nay vẫn chưa ai xác định được điều ấy đúng hay…

Một lần Giáng Sinh

Cái tên đi học rất tân thời thì tôi không thích. Tôi thích tên Síu từ hôm nghe mẹ Síu gọi: “Síu ơi,…

Tiên học lễ

Có nhiều cách cho thấy sự lễ phép. Khi xưa, trẻ con và ngay cả người lớn, khi gặp các bậc trưởng…
1 của 433

– Suỵt, Sofa. Không được hét. Không được… Ba?

Bàn tay lỏng ra. Tôi quay lại, không hiểu.

– Ba?

Ba đứng trước mặt tôi. Ba quỳ xuống để ngang tầm với tôi. Mắt nhìn vào mắt tôi.

– Bình tĩnh nào, con yêu, ba đã chạy lại ngay khi nghe thấy con hét. Không nên lặp lại nữa. Không bao giờ. Ba đã đóng cửa gara nhưng hàng xóm có thể nghe thấy chúng ta. Họ có thể báo cảnh sát. Họ có thể…

Tôi không còn muốn nghe ba nói, tôi đưa hai tay lên bịt tai mà vẫn gào lên:

– Bà ấy chết rồi, ba ạ! Bà già tóc xanh lơ chết rồi…

Ba lùa tay vào trong tóc tôi, tay ba lạnh và lông lá như một con nhện.

– Suỵt. Sofa. Không nên nghĩ đến việc đó. Phải đi thôi. Nhanh lên. Một con nhện khổng lồ và chết chóc.

– Ba, bà già bị đâm dao vào cổ. Ba đã giết bà ấy.

Mắt tôi nhìn thẳng vào mắt ba.

– Chính là ba. Chắc chắn ba đã giết bà ấy!

Ba càng lại gần hơn nữa.

Con nhện đậu lên vai tôi, chân nó bò trên cổ tôi.

– Tất nhiên là không, Sofa! Làm sao con có thể tin điều đó? Không bao giờ được nói lại những điều như thế, Sofa. Con nghe ba nói không? Không bao giờ. Con phải tin ba, luôn luôn, luôn luôn phải tin ba, mặc cho tất cả những điều người ta sẽ nói với con, mặc cho tất cả những gì con có thể sẽ nhìn thấy. Đi nào, bây giờ ta phải đi, chúng ta sẽ đi lấy túi và chuồn thôi.

Tôi run cầm cập. Tôi mặc kệ. Tôi sẽ không nhúc nhích.

– Con biết là ba đã giết bà ấy, ba ạ. Chỉ có chúng ta ở trong nhà.

– Đừng nói linh tinh, Sofa, lúc nào ba chẳng ở cùng với con.

Con nhện bò xuống tim tôi, trong một giây nó lại quay lên đậu trên tóc tôi.

Tôi run rẩy. Tôi khóc. Tôi biết mình nói đúng.

– Ba đã không tắm! Ba đã giết bà già để lấy xe của bà ấy. Để lấy nhà của bà ấy nữa. Và cả đồ đạc. Và bộ đồ con trai mà con đang mặc.

Tôi nhận thấy mình gào lên càng lúc càng to. Con nhện bỗng bay lên trên má tôi. Tôi không kịp hiểu ra ngay lúc đó.

Cái tát như xé rách mặt tôi.

Tôi lùi lại, ngạc nhiên, và bỗng im bặt.

– Bây giờ thì đủ rồi, Sofa! Chúng ta không có thời gian để mất đâu! Quay lại đi!

– Không!

Con nhện lại ló ra, đe dọa. Lần này thì tôi nhượng bộ.

Ba mở cửa phụ của chiếc xe màu vàng. Vô cùng nhẹ nhàng, gần như không gây tiếng động. Dù không nhìn, tôi vẫn biết ba đang làm gì.

Ba lôi bà già ra khỏi xe. Không quan tâm đến máu dây ra ghế. Không quan tâm việc bà đã chết. Không quan tâm việc bà không bao giờ còn có thể chơi với cậu bé mà tôi đang mượn quần soóc, áo và giày.

Ba chẳng quan tâm đến cái gì hết.

Tất cả những gì ba muốn, đó là một chiếc xe để cảnh sát không bắt được ba.

Bởi vì ba đã giết mẹ, bây giờ thì tôi biết chắc như vậy.

Bởi vì ba đã giết mẹ và không muốn bị đi tù.

9 giờ 11

– Con có thể quay lại rồi, Sofa.

Chiếc áo xanh lơ của ba dính đầy máu.

Tôi nhìn thấy chân bà già thò ra sau hai chiếc lốp cũ và một chiếc máy xén cỏ.

– Lên xe đi, Sofa. Ba rất tiếc vì đã tát con, nhưng ba không có cách nào khác. Mặc dù con còn nhỏ, nhưng con vẫn phải hiểu. Chúng ta phải tiếp tục, bằng mọi giá. Con sẽ thấy, Sofa, ba sẽ chỉ cho con xem những cảnh đẹp tuyệt vời, những cảnh mà con chưa từng thấy…

Cảnh đẹp ư? Tôi ngồi vào sau xe. Chiếc xe của một người chết. Ba điên rồi.

– Con không cần cảnh đẹp. Con muốn gặp mẹ!

Ba bình tĩnh trở lại.

– Thế thì con phải đi theo ba, Sofa. Và tin ba. Nếu con muốn gặp lại mẹ, chúng ta phải đến được bên kia đảo vào chiều nay.

– Ba hứa chứ?

Tôi không hiểu tại sao lại hỏi câu đó. Dù sao, tôi cũng sẽ không tin ba…

– Ba hứa, con yêu. Đúng. Ba hứa với con.

9 giờ 17

Martial chốc chốc lại quay đầu rất nhanh, nhìn vào trong gương chiếu hậu để giám sát Sofa ở băng ghế sau chiếc Nissan Micra màu vàng, rồi lại nhìn thẳng trước mặt để xác định bất cứ dấu vết nghi vấn nhỏ nào. Lúc này, những con đường ở Ermitage les Bains còn khá vắng vẻ.

Martial đã đi được một kilômét.

Không hơn.

Ngón tay anh co rúm lại trên tay lái.

Con đường Saint Pierre bị chặn trước mặt anh. Một hàng xe kéo dài mấy trăm mét đằng trước một chốt chặn của cảnh sát, ngay trước bùng binh ở ngã tư giao với đường Bruniquel. Martial khẽ nghiêng người sang phải quan sát cảnh tượng. Cảnh sát chặn từng chiếc xe, kiểm tra giấy tờ của lái xe, nhìn mặt từng hành khách, mở cốp xe. Anh không có cơ may nào để qua được, mặc dù Sofa đã cải trang thành con trai, mặc dù anh đã cố gắng hết sức để thay đổi khuôn mặt bằng cách cạo râu và lông mày, đeo kính dày cộp và chụp lên đầu chiếc mũ có lưỡi trai rộng vành.

Một ông bố và một đứa trẻ sáu tuổi. Không giấy tờ.

Chắc chắn họ sẽ nghi ngờ. Hỏng bét. Rơi vào bẫy…

Một chiếc 4×4 bấm còi sau lưng anh. Anh dừng xe sát vào lề đường, nghiền nát đám rễ cây phong ba xanh tốt.

Martial kín đáo nhìn Sofa đang lả đi trên băng ghế sau, trong đầu luẩn quẩn một phương trình không lời giải: Cảnh sát đang tìm một ông bố và một đứa trẻ sáu tuổi.

Chỉ có một cách để giải bài toán. Một giải pháp kinh khủng đối với Sofa, quái đản nhất trong tất cả những gì anh vừa bắt con gái phải gánh chịu, còn khủng khiếp hơn cả việc phải đối đầu với xác chết của một bà già trong gara.

Thế nhưng, một lần nữa, anh không có lựa chọn nào khác.

Sofa mở tròn mắt ngạc nhiên trong khi anh hành động một cách kín đáo nhất có thể.

– Ba, sao ta lại quay lại?

Chương 27

Những lọn tóc vàng

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 19

– Aja! Aja!

Cuối cùng, nữ đại úy cũng tỉnh dậy. Khuôn mặt Christos và Morez đung đưa trên trời, giống như hai thiên thần có gắn lò xo. Phải mất vài giây Aja mới hiểu ra rằng chính cô đang đung đưa, người nằm trên võng, máy tính xách tay luồn dưới gáy thay cho gối. Cô cẩn thận bước xuống. Christos đưa tay ra, cô liền nắm lấy.

– Có gì mới không?

Nữ đại úy lo lắng vừa hỏi vừa nhìn đồng hồ để ước lượng xem mình đã ngủ bao lâu. Hai giờ mười tám phút. Vừa hợp lý lại vừa quá nhiều. Morez là người trả lời đầu tiên:

– Có và không. Chúng tôi cũng không rõ nữa, thế nên mới phải đánh thức chị. Có người báo tin về vụ mất tích của Chantal Letellier, sáu mươi tám tuổi, phố Maldives, Ermitage. Theo lời người bạn mà bà ấy đến nhà ngủ cùng đêm qua, bà ấy chỉ tạt qua nhà vào sáng nay, khoảng 8 giờ, rồi sẽ gặp lại ông ấy ở La Saline, cùng với những người về hưu khác. Tất cả họ đều tham gia một câu lạc bộ cờ vây. Câu lạc bộ Go du Dodo. Đã xác thực! Câu lạc bộ vẫn đang chờ bà ấy… Họ đã gọi điện thoại đến nhà bà từ ba mươi phút trước đến giờ. Không ai trả lời…

Aja vươn vai, thất vọng ra mặt. Cô đưa ngón tay lên xoa mặt, có cảm giác như sau giấc ngủ trưa áp mặt vào dây võng, mặt cô đầy những vết nhăn hình thoi.

– Ôi trời! Chắc là bà già bị kẹt trong đám tắc đường thôi… Hoặc bà ấy ngủ quên. Có quan hệ gì với Bellion không?

– Ít lắm, – Morez nói thêm.

Đôi mắt to thiếu ngủ của viên sĩ quan hạng nhất đỏ ngầu những tia máu. Morez không ngừng chớp mắt, không hơn gì hai cánh hoa giấy kháng cự lại gió biển.

– Một mối liên hệ mảnh như sợi tóc, Aja ạ. Bà Chantal Letellier ở ngay cạnh vườn Địa đàng. Thế mà, tối muộn hôm qua, nhân viên lễ tân của vườn đã gọi đến để thông báo cho chúng ta là có hai người có thể giống với Bellion và con gái hắn xuất hiện ở đó vào chiều qua.

Aja bắt đầu khởi động bộ não hết mức. Cô đã ngủ hơn hai tiếng, bây giờ phải lấy lại thời gian đã mất. Thời hạn Laroche đưa ra sắp hết rồi. Cô phải tìm ra bằng chứng chứng tỏ rằng Bellion đã không vượt qua được các trạm chốt chặn xung quanh Saint Gilles trước khi ComGend mở van.

– Morez, chính anh đã nhận cuộc gọi của nhân viên lễ tân vườn Địa đàng à?

– Vâng, nhưng cô gái không chắc chắn lắm. Một người cha và con gái, hai dáng dấp mơ hồ, cô nàng ngốc nghếch đó chỉ nói được có thế. Từ tối qua, có đến năm chục thông báo kiểu đó.

Aja vỗ vỗ vào má cho tỉnh hẳn. Những vết nhăn chắp vá mờ đi. Morez và Christos chờ phản ứng của cô. Aja đột nhiên bùng nổ.

– Chỉ trừ việc hai dấu hiệu yếu cộng lại sẽ trở thành một dấu hiệu mạnh, các chàng trai ạ! Phố Maldives, đúng không? Ta đến đó!

9 giờ 27

Aja tạt vào phòng khách vắng tanh. Cô tận hưởng sự trật tự, cách bố trí hơi già nua, khô cứng, sự tĩnh lặng thoáng qua, ý thức rõ rằng trong vài phút nữa ngôi nhà sẽ trở thành hiện trường vụ án nơi mỗi mét vuông, mỗi đồ vật, mỗi đồ mỹ nghệ sẽ bị một đội chuyên gia khoa học hình sự tháo dỡ và phân tích tỉ mỉ. Cô lướt ngón tay trên lớp giấy dán tường và chăm chú quan sát bức ảnh bà Chantal Letellier. Một bà già có mái tóc xanh lơ lạ lùng. Hẳn là một người độc đáo. Một bà già mà chắc hẳn lũ cháu rất thích…

Morez ào vào như cơn gió. Đôi mắt tròn của anh đã đổi hẳn sang màu vàng và chớp với tốc độ vỗ cánh của một con chuồn chuồn, giống như một cặp đèn pha nháy loạn.

– Chúng tôi đã lục soát khắp nơi, Aja ạ. Tìm thấy cả vài lít máu trong gara. Trên đất. Trên máy xén cỏ, mấy cái lốp xe, những tấm bạt. Nhưng không có dấu vết của cái xác.

– Chết tiệt, như thế có nghĩa là gì? – Aja cắn môi.

Christos đã nói chuyện qua điện thoại mười lăm phút với ông bạn của bà Chantal Letellier. Và đưa ra lý giải ban đầu. Chantal Letellier ở cả năm trên đảo, nhưng thường sống ở nhà bạn trai, cũng là người về hưu, là bác sĩ, họ gặp nhau tại câu lạc bộ cờ vây Saint Paul. Ông sống trên phố Scalaires ở La Saline, cách đây ba kilômét. Do nhà bà ít khi có người ở, nên Chantal Letellier đã quyết định đăng tin cho thuê trên một trang web bất động sản tư nhân, trừ những khoảng thời gian bà đón tiếp con cháu. Chắc Bellion đã tra cứu thông tin từ một trang cho thuê trên Internet; do lời rao đó, hẳn anh ta đã nghĩ rằng bà Chantal Letellier sống ở chính quốc và căn nhà đang bỏ trống. Nó đã từng như thế. Gần như thế.

Trước khi đến câu lạc bộ cờ vây như mỗi sáng, bà Chantal Letellier tạt qua nhà vào khoảng 8 giờ. Đó không phải là thói quen của bà, nhưng vì một người hàng xóm đã gọi đến nhà bạn trai bà để báo là bà đã quên khóa cửa gara! Điều đó khiến bà ngạc nhiên, bà còn chưa bị lú lẫn, và vẫn nghĩ là đã khóa cái cửa chết tiệt đó… Nhưng liên tưởng đến câu chuyện về kẻ giết người đang lẩn trốn, bà muốn xác minh lại.

Aja gỡ một bức ảnh trên tường xuống, ảnh hơi mờ chụp bà Chantal Letellier tạo dáng đằng trước thác nước Voan Cưới.

– Định mệnh tàn ác. Bà Chantal Letellier thật dại dột. Cánh cửa gara để mở là dấu hiệu lẽ ra đã giúp bắt được Bellion. Lẽ ra chỉ cần gọi một cú điện thoại cho cảnh sát.

Nữ đại úy đặt bức ảnh lên chiếc bàn trong phòng. Cô sẽ bảo Morez fax bức ảnh này đến tất cả các đội cảnh sát trên đảo. Phòng khi… Vì không tìm thấy thi thể của Chantal Letellier, có thể có cơ may nhỏ là Bellion chưa giết hại bà. Hắn chỉ bắt cóc bà làm con tin.

Hàng lít máu trong gara… Một cơ may rất nhỏ.

Aja vẫn chưa có kết quả phân tích DNA, dấu vân tay, các chuyên gia sẽ phụ trách việc đó, nhưng tất cả các dấu hiệu đều trùng khớp. Thậm chí họ còn tìm thấy một mẩu cần sa trong phòng tắm. Không còn nghi ngờ gì nữa: Martial Bellion và con gái đã ngủ trong căn nhà này đêm qua.

Cô đã liên hệ với đại tá Laroche mấy phút trước. Toàn bộ nhân sự của ComGend khẩn cấp đổ về Saint Gilles, bằng trực thăng.

Cụp đuôi…

Aja đã nói đúng ngay từ đầu, con cá đã bị mắc trong lờ. Để nhấn mạnh thêm, cô đã gần như gác máy trước mũi Laroche, để anh ta hiểu rõ đã phí sức lực và thời gian khi triển khai truy đuổi trên phạm vi toàn đảo.

9 giờ 29

Christos lại bước vào phòng, nụ cười hợp tình huống nở trên môi, nửa vô liêm sỉ, nửa tôi-không-quan-tâm, chính xác là thái độ mà Aja ghét nhất ở thuộc cấp. Nữ đại úy lo lắng hỏi ông:

– Vẫn không có dấu vết gì của thi thể bà Chantal Letellier à?

– Không… nhưng chú tìm thấy thứ khác.

Ông đang nhón tay cầm một chiếc túi ni lông. Đột nhiên, không nói lời nào, ông dốc túi xuống chiếc bàn thấp, ngay trước mặt Aja. Một cơn mưa tóc bay khắp phòng trong vài giây, rồi rơi xuống bàn và xung quanh, biến sàn nhà thành phòng cắt tóc nữ.

Những sợi tóc dài màu vàng. Mảnh. Gần như nhân tạo. Như thể một gã điên đã cạo sạch đầu của một trăm con búp bê Barbie. Hoặc chỉ một. Một cô bé có những lọn tóc vàng.

Ánh mắt Aja lại lướt sang những bức ảnh đóng khung trên tường, lần này cô không dừng lại ở bà già, mà ở cậu bé sáu tuổi bên cạnh, mũ lưỡi trai và áo sơmi kẻ carô, đang mải nhìn lũ cá sấu.

Cô đã hiểu.

– Chết tiệt! đột nhiên cô hét lên. Không được để họ đi qua!

Chương 28

Mơ làm lính cứu hỏa

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 29

– Đây, thưa ông cảnh sát, giấy tờ của mẹ tôi đây.

Martial mở ví và đưa ra thẻ căn cước, bằng lái xe, thẻ bảo hiểm. Viên cảnh sát mỉm cười. Đã thành thông lệ. Anh đã phải kiểm tra vài trăm xe từ sáng nay. Anh nhìn vào bên trong chiếc Nissan màu vàng. Trên ghế phụ lái, bà già đang ngủ, khăn choàng phủ trên đầu gối, cổ quấn khăn, như thể bà đang lạnh, mặc dù trời đang 300°C; ở đằng sau, một thằng bé đang giận dỗi, ngồi giữa một cái võng và những chiếc cà mèn dã ngoại của người Créole. Bây giờ cả người Zoreille cũng tham gia nữa…

Dù mệt mỏi nhưng vẫn ý thức trách nhiệm, viên cảnh sát chăm chú xem xét giấy tờ xe.

– Giấy tờ của anh đâu? – cuối cùng anh hỏi Martial.

Martial cúi đầu ra vẻ lấy làm tiếc.

– Ờ, không có… Chúng tôi chỉ đưa bà lên hít thở khí trời trên vùng Thượng. Anh thấy đấy, nếu tìm được mũ trùm đầu thì tôi tin chắc bà cũng sẽ đội luôn.

Viên cảnh sát phá lên cười, vui vẻ. Đó là một người Créole. Anh thông cảm. Anh đưa giấy tờ cho Martial.

– Tôi cũng thế, cứ cách một tuần tôi lại lên đó một lần. Nhưng tôi ít may mắn hơn anh. Tôi vẫn còn cả hai bên cha mẹ để chở đi.

Anh lại chăm chú nhìn lần nữa vào băng ghế sau. Đứa bé mặt mũi trông thật khó coi, thậm chí trông nó như vừa khóc. Viên cảnh sát nháy mắt với Martial ra chiều thông cảm.

– Với trẻ con thì càng khổ sở nhỉ. Nó thích ở vùng phá hơn, đúng không? Giống lũ con tôi! Thôi, chúc anh đi vui vẻ.

Martial bình tĩnh nhấn ga. Anh đã thoát!

Lúc đầu anh lái xe nhẹ nhàng dọc phố Saint Pierre, cho đến tận Trou d’Eau. Ít ra, chốt chặn cũng có tác dụng lọc bớt phương tiện giao thông, trên đường không có một ai và anh có thể nhanh chóng đi xa.

Anh đi dọc bờ biển trước khi đến Saint Leu, sau khi vượt qua một loạt các cửa sông Trois Bassins, Grande Ravine và Ravine Fontaine, liếc mắt nhìn qua những cây cầu vượt khổng lồ trên đường Tamarins, với tổng chiều dài dưới một ki lô mét. Tương đương với ba cây cầu cạn Milau dài chưa đầy mười kilômét… Giao thông trên đường cao tốc thông suốt. Quá thông suốt. Quá dễ bị phát giác.

Martial đột ngột rẽ ngoặt. Giữa những cây cọ lùn và đám xương rồng khổng lồ, vòng xuyến ở lối rẽ vào Saint Leu khiến anh ngạc nhiên. Thi thể Chantal Letellier, mặc dù đã được siết chặt bằng dây đai an toàn, vẫn trượt trên ghế phụ. Cái đầu nhợt nhạt chầm chậm ngả xuống tay anh.

Martial rùng mình. Bàn tay anh co quắp trên tay lái, đờ đẫn; làn da mềm nhão chạm vào tay khiến anh buồn nôn, làm bùng lên trong anh những ký ức không thể chịu nổi. Khi anh đi xe cùng Liane, dù quãng đường rất ngắn, cô đều ngủ thiếp đi sau vài kilômét, và mái tóc vàng mềm mại của cô rủ xuống vai anh.

Cũng trong tư thế trìu mến như cái xác này. Cái xác lại bắt đầu rỉ máu.

Áo anh lại ướt đẫm. Sofa khóc ở đằng sau.

Trừ vài phút ở chốt chặn, trước mặt viên cảnh sát, con bé không ngừng khóc từ khi bắt đầu đi. Tuy nhiên, Martial không có cách nào khác là tiếp tục đi, tiếp tục lái xe, dù anh biết rằng thi thể bà già bị cắt cổ, hóa trang thành bà nội mệt mỏi, ngồi ở chỗ của mẹ, sẽ ám ảnh con gái anh. Suốt đời.

Nhiều năm… Hoặc vài giờ. Ai mà biết được.

Anh không còn kiểm soát được bất cứ điều gì.

9 giờ 37

Martial ra khỏi Hồ Mặn. Vài kilômét nữa, sau Saint Louis, anh sẽ phải lựa chọn, tiếp tục đi theo bờ biển hoặc quay về trung tâm đảo, hướng Tampon. Quyết định của anh phụ thuộc vào những câu hỏi mà anh chưa biết câu trả lời. Bao lâu nữa để cảnh sát phát hiện ra việc Chantal Letellier mất tích? Để nhận diện chiếc xe? Để viên cảnh sát đã để anh đi qua ráp nối các sự việc lại với nhau? Để họ tung ra thông báo tìm kiếm. Vài phút? Vài giờ?

Anh lưỡng lự. Để đến vịnh Thác, con đường ven biển là đường ngắn nhất. Saint Pierre. Saint Joseph. Saint Philippe. Một chuỗi gần như liên tục các ngôi nhà, bùng binh, lối sang đường cho người đi bộ, đèn giao thông và ra đa. Con đường này sẽ là nơi anh dễ bị lộ nhất, giống như một cái phễu giữa núi và biển. Việc bắt anh ngay khi biết rõ anh đã ra khỏi Saint Gilles bằng đường nào sẽ chỉ là trò trẻ con đối với cảnh sát.

Hướng đi Tampon được chỉ dẫn trên đường quốc lộ RN1. Thẳng tuột. Theo bản năng, anh nhấn ga. Anh sẽ đi theo đường Entre Deux một quãng, cho đến tận bình nguyên Cafres. Sau đó, có ít nhất là ba lối đi khác nhau để đến đường Núi lửa, con đường chạy ngoằn ngoèo đến tận núi Lò Lửa.

Một con đường cụt. Anh đánh cược vào nó!

Hàng trăm du khách lên đó mỗi ngày, chụp ảnh núi lửa, rồi lại quay xuống bằng chính con đường đó. Nếu có một con đường nào mà cảnh sát không tìm kiếm anh, thì chính là con đường này.

9 giờ 42

Chiếc Nissan Micra đi những đoạn chữ chi đầu tiên trên đường Núi lửa. Những cánh đồng cỏ xanh dày mượt trên sườn dốc uốn lượn mềm mại được cắm mốc bằng cọc gỗ. Đàn bò màu trắng và be vươn cổ qua hàng dây thép gai để nhìn rõ hơn các du khách đi ngang qua. Những ngôi nhà mái nhọn mang dáng dấp nhà nghỉ mát sặc sỡ vùng nông thôn.

Một trong những quang cảnh độc đáo nhất của hòn đảo. Khó mà tưởng tượng được rằng, chỉ cách khoảng vài chục mét bên dưới, ta vừa bỏ lại hàng cây dừa, xương rồng và khí hậu nóng bức.

Martial đưa mắt nhìn gương chiếu hậu. Sofa vẫn nằm lả đi ở đằng sau.

– Con yêu, con thấy đấy, cảnh vật khác quá. Cứ như ở Thụy Sĩ ấy.

Im lặng.

Sofa xụt xịt.

Martial lại đẩy cái xác của Chantal Letellier ra, nó cứ đổ ụp vào anh mỗi lần rẽ phải. Một manơcanh bị tháo khớp và rút hết máu, chỉ còn là một thứ thây ma nhợt nhạt, gần như trong suốt, thịt chuyển dần sang xanh lơ, cùng màu với mái tóc nhuộm. Một thây ma đang thối rữa.

Cứ đến mỗi chỗ ngoặt, cái xác lại hiện ra trước mắt Sofa. Con bé không nói gì nhưng Martial thấy nó cắn môi, hai mắt đảo lộn tròng. Chấn thương tâm thần! Chết tiệt!

Lẽ ra anh nên dừng lại rồi vứt cái xác xuống vệ đường, đó là việc duy nhất nên làm để con gái nhỏ của anh không trở nên hoàn toàn điên loạn. Hoặc ít nhất là dừng lại, mang cái xác giấu vào trong cốp.

Làm thế có lẽ sẽ để lại một chỉ dẫn vô cùng quan trọng cho cảnh sát… hoặc mất đi khoảng thời gian vô cùng quý giá.

Chuốc lấy một nguy cơ lớn. Nguy cơ làm hỏng hết mọi thứ.

Không thể được. Anh phải đi đến tận cùng cơn điên loạn.

9 giờ 45

Bây giờ thì Sofa run lập cập.

Bà Chantal đã ngồi yên được vài phút. Bằng một cú hích vai mạnh hơn, Martial đã đẩy bà sát vào kính cửa phụ. Miệng bà dán vào đó, như thể bà cũng đang ngắm cảnh. Bà chỉ nhểu ra trên kính thứ dớt dãi màu xanh có lẫn những cục máu.

Lại một chỗ ngoặt nữa.

Martial nhớ con đường này, nó vẫn còn dài, ít ra là một giờ nữa, với hàng chục chỗ rẽ khác. Sofa sẽ không chịu nổi. Anh phải nghĩ ra sáng kiến nào đó. Sáng kiến nào cũng được. Cổ họng nghẹn ứ. Anh ho một tràng rồi cắt ngang sự im lặng:

– Sofa, con yêu, lúc trước con có hỏi ba một câu. Con đã hỏi con có giống anh trai con không? Con còn nhớ chứ? Alex. Anh trai con, người… người đã chết trước khi con ra đời.

Nhìn vào gương chiếu hậu. Không nhận thấy phản ứng nào từ phía con gái.

– Ba có thời gian để trả lời con, nếu con muốn. Có, con yêu ạ, con giống anh con. Con rất giống mẹ con, đương nhiên. Nhưng con cũng rất giống Alex.

Sofa đã ngẩng đầu lên. Đôi mắt trống rỗng. Nhìn đi đâu đó.

– Ba sẽ tâm sự với con một chuyện, Sofa ạ, đây là lần thứ hai ba đi trên con đường này. Lần đầu tiên là cách đây hơn mười năm một chút. Và… và Alex khi ấy ngồi đúng chỗ của con. Ở ghế sau. Anh con lúc đó cũng gần bằng tuổi con bây giờ, ít hơn hai tháng. Chỉ có ba và anh con trong xe. Ba muốn cho anh con xem núi lửa…

Sofa lắng nghe. Martial đoán thế. Anh phải tiếp tục nói chuyện để tâm trí không lang thang về phía bờ vực của sự điên rồ.

– Núi lửa lớn trên đảo, núi lửa Lò Lửa, một lần nữa lại phun trào. Khi đó, tất cả báo chí và các kênh truyền hình trên đảo đều giải thích rằng nhất thiết không nên đến gần núi lửa. Thế nhưng, toàn bộ người dân trên đảo đều làm ngược lại, họ đổ xô đến để xem cảnh tượng. Ngọn pháo hoa đẹp nhất mà con người có thể chiêm ngưỡng…

Chiếc Nissan Micra màu vàng bây giờ đang đi qua một căn chòi dã ngoại, cứ hai trăm mét lại có một căn như thế. Căn cuối cùng, ngay dưới chân của đỉnh Mũi Bò, biến mất trong làn mây khói tỏa ra từ các lò than, càng bị nhòe đi hơn bởi nước dãi của Chantal Letellier đang nhỏ giọt trên cửa kính.

– Ba muốn gây ngạc nhiên cho Alex. Ba đã không nói gì với anh con. Cả với mẹ của anh con nữa, đương nhiên. Con không biết cô ấy, nhưng cô ấy nghiêm khắc và khô khan, chắc cô ấy sẽ không bao giờ muốn thế, có thể cô ấy sẽ cho là ba vô tâm, con nghĩ mà xem, đưa một đứa trẻ sáu tuổi đi xem núi lửa phun trào, trong khi tất cả những người biết phải trái trên đảo đều tìm cách cấm chuyện đó… Con… có thể con không đồng ý với ba, Sofa ạ, nhưng có những điều mà các bà mẹ không thể hiểu được.

Không gì hết. Không sợi lông mi nào nhúc nhích.

Martial nói tiếp, mặc dù Sofa đã khép kín, đã khóa cánh cửa riêng tư hai vòng, nghe loại nhạc của riêng con bé qua đôi tai nghe MP3 tưởng tượng. Anh đang kể chuyện cho chính mình thì đúng hơn là kể cho con gái.

– Hồi đó, ba đã đọc cho Alex nghe những chuyến phiêu lưu của Ti Jean. Giống sách của con! Con biết đấy, bà Kalle và Quỷ Lớn bạn của bà ở đâu đó bên dưới lớp dung nham núi lửa, chính vì thế mà Alex hơi sợ khi đi trên đường này. Còn con, con yêu, con không sợ sao?

Martial thầm rủa mình quá ư ngu ngốc. Có cần phải thêm thắt câu chuyện ma quỷ đó vào hay không? Anh vội nói tiếp, không để sự im lặng thắng thế.

– Ba sẽ kể cho con chuyện khác, Sofa ạ. Từ khi còn rất nhỏ, Alex có một đồ chơi yêu thích mà anh con không bao giờ rời, một chiếc xe cứu hỏa nhỏ mà anh nhặt được trên bãi biển. Con biết không, Sofa, một chiếc xe nhỏ bằng kim loại, gần như bỏ lọt trong lòng bàn tay anh con? Không đẹp lắm. Hơi gỉ. Anh con mang nó đi khắp nơi, biến nó thành chiếc xe chạy được trên mọi địa hình. Trên những nếp nhăn của ga trải giường. Trong chậu cát. Trên cỏ. Trên sỏi. Trên ghế cao và mép bàn. Trên ghế xe ôtô… Con hiểu không, con yêu? Alex chỉ mới sáu tuổi nhưng chiếc xe cứu hỏa nhỏ của anh con đã chạy được vài kilômét. Khi ba và anh con đến chân núi Lũng xinh, trên đó, bãi đỗ xe ở chân núi lửa đang nhộn nhạo, không thể đi xa hơn. Đường bị chặn. Con có biết điều gì khiến Alex say mê nhất không?

Trong gương chiếu hậu, gương mặt Sofa vẫn bất động, nhưng bàn tay con bé cựa quậy, như thể khi nghe tả về đồ chơi, con bé cũng tìm một người bạn nào đó, một thứ đồ chơi, một con thú bông… Thứ gì đó để giúp con bé tống khứ lũ quỷ ám mình ra.

– Con sẽ không tin ba đâu, Sofa ạ! Không phải những chùm lửa lạ lùng của núi lửa, những tia lửa nổ tung trên nền trời đen như than là thứ khiến Alex quan tâm! Không! Mà chính là những chiếc xe! Một hàng xe cứu hỏa chắn ngang đường và hàng chục lính cứu hỏa chạy khắp nơi, giống như những cư dân sao Hỏa trong trang phục bằng amiăng! Ba và anh con nhanh chóng ra khỏi xe. Không có gì nguy hiểm cả, chỗ đó cách miệng núi lửa nhiều ki lô mét, mặc dù hơi nóng thì kinh khủng. Không phải chỉ có ba và anh con. Xung quanh đã có hàng trăm người, mang theo máy ảnh, camera, ống nhòm. Gần như không thể lại gần hàng rào để xem cho rõ hơn. Cuối cùng, một bà to béo đã để Alex vượt lên. Đó là một bà Créole đeo cây thánh giá to tướng ở cổ. “Đó là quỷ dữ đang ho đấy, nhóc ạ”, bà nói với Alex. “Cháu phải ghi nhớ cảnh này. Đó là con quỷ đang giận dữ với con người!”. Alex không quan tâm, anh con nhìn dung nham chảy dọc núi lửa giống như rắn lửa dài vô tận. Con có thể tin ba, Sofa ạ, ba chưa bao giờ thấy mắt anh con long lanh đến thế. Nhưng bà già Créole vẫn tiếp tục câu chuyện về Chúa trời. “Nhóc con, cháu có biết làm thế nào để ngăn quỷ dữ khỏi nổi giận không? Ba cháu không nói với cháu sao? Phải cầu nguyện, nhóc con ạ, cầu nguyện tất cả các thánh thần trên đảo. Quỷ dữ sợ họ.”

Martial ngừng lại rồi đưa mắt nhìn về phía đỉnh núi Lò Lửa. Phía trên miệng núi lửa Dolomieu, nền trời xanh biếc, ngoại trừ một chút sương mù do khí nóng gần như không nhìn thấy. Một ý tưởng mơ hồ hình thành trong đầu anh, hình ảnh lờ mờ về một cánh cửa trượt ở cuối đường cụt, hẹp thôi, nhưng có thể đủ để hai cha con lọt qua. Tại sao không? Anh phải suy nghĩ, anh sẽ nghĩ đến chuyện này sau, trước mắt phải tập trung vào câu chuyện, không được bỏ mặc Sofa trên đường.

– Alex không quan tâm đến các thánh thần, con yêu ạ, ít ra thì cũng giống như con không bao giờ vào nhà thờ, nhưng anh con lịch sự, còn bà già vẫn tiếp tục, cứ như thể Chúa trời đang chui ra từ miệng bà. “Bà không nói dối đâu nhóc con, hãy nghe cho kỹ, ngay giữa núi lửa và biển, có một làng nhỏ, làng Sainte Rose, và một nhà thờ nhỏ tên là nhà thờ Đức Bà. Trong lần phun trào năm 1977, núi lửa đã bao trùm tất cả, những cánh đồng mía, những ngôi nhà, những con đường. Toàn bộ dân trong làng đã trốn vào nhà thờ và cầu nguyện các thánh thần trước khi bị chết cháy. Cháu có biết điều gì đã xảy ra không, nhóc con?” Alex lắc đầu. Không, anh con không biết, anh con không quan tâm, anh con vẫn nhìn các lính cứu hỏa đang lại gần miệng núi lửa trong bộ quần áo lạ lùng như của nhà du hành vũ trụ. Bà già vẫn nói không ngừng: “Thế là, nhóc con ạ, thần thánh mạnh hơn quỷ dữ. Quỷ dữ đã phải sợ. Dung nham dừng lại ngay trước cửa nhà thờ. Không ai chết cả! Từ đó, nhà thờ được gọi là nhà thờ Đức Bà Dung Nham! Ta vẫn có thể nhìn thấy dung nham khô trào lên đến những bậc thềm đầu tiên của nhà thờ và dừng ở đó, như thể không dám vào trong. Nếu cháu không tin ta, nhóc con, cháu có thể bảo ba cháu đưa đến đó.” Alex quay lại đúng lúc ấy và hỏi bà già to béo đó: “Các thánh thần có xe tải màu đỏ để chặn dung nham không hả bà?” Con biết đấy, Sofa. Bà già Créole bị bất ngờ, bà cười, hơi ngượng nghịu: “Không, nhóc ạ, đương nhiên là các thánh không có xe.”

“Thế có mũ lấp lánh không?” Alex vẫn hỏi tiếp.

“Không…”

“Thế còn bộ quần áo của nhà du hành vũ trụ? Một khẩu súng lớn phun ra nước?”

“Không, nhóc ạ, cháu tưởng tượng xem, các thánh mà lại mặc đồ du hành vũ trụ và cầm súng cạc bin sao?”… Đằng xa, những người đàn ông mặc đồng phục đang hối hả như thể mỗi giây đều quý giá, trong khi chẳng có gì để làm ngoài việc giám sát dòng dung nham. Alex đã nhún vai rồi quay lưng về phía bà già Créole. “Thế thì làm thánh chả ích gì!” Anh con chăm chú nhìn núi lửa và nắm chặt chiếc xe tải nhỏ màu đỏ trong lòng bàn tay. “Còn cháu, khi nào cháu lớn, cháu muốn làm lính cứu hỏa.”.

Lại nhìn vào gương chiếu hậu.

Sofa không phản ứng gì. Không cười thành tiếng, cũng chẳng cười mỉm.

Chantal Letellier cũng không. Hình như bà đã tìm thấy tư thế ngồi thuận tiện nhất và ngủ thiếp đi. Thậm chí một cú xóc đã làm miệng bà ngậm lại.

Martial vẫn nói tiếp:

– Anh con lẽ ra có thể trở thành lính cứu hỏa, Sofa ạ, con tin ba đi. Lên sáu tuổi, anh con đã rất dũng cảm. Thậm chí còn hơn thế nữa, rất gan dạ. Anh con lẽ ra có thể trở thành cảnh sát cứu hỏa giỏi nhất thế giới…

Bên ngoài, những căn chòi lướt qua, tất cả đều có các gia đình Créole ngồi sẵn, và đã chất đầy những chiếc cà mèn bằng sắt tây, ghế gấp, khăn mặt treo để bảo vệ trẻ nhỏ và người già khỏi ánh mặt trời vào giờ ngủ trưa. Quang cảnh núi lửa mở ra; hồ Scories, đỉnh núi Textor và sườn núi Zézé lần lượt nhòe đi qua kính chắn gió trong một màn hơi ẩm mờ mịt.

Nước dãi của Chantal Letellier không còn là thứ duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Martial không còn kìm nổi nước mắt trào ra trên khóe mi.

Nhân một đoạn đường thẳng ngắn ngủi, anh quay lại phía Sofa. Con bé cũng khóc. Một tay giữ vô lăng, anh vươn bàn tay còn lại ra đằng sau. Cảm thấy những ngón tay nhỏ bé của Sofa nắm lấy tay mình. Năm con côn trùng mỏng mảnh mà anh nắm lấy thật dịu dàng.

– Buồn là anh con mất quá sớm. Anh con có thể sẽ cứu sống được nhiều người, rất nhiều người. Lẽ ra con có thể tự hào về anh con, con yêu ạ.

Năm con côn trùng khẽ lay động trong bàn tay ấm nóng của anh, như thể chúng vừa mọc cánh. Martial những muốn thời khắc này kéo dài mãi mãi.

Trên đầu họ, một chiếc trực thăng đang bay qua.

Chương 29

Imelda trong tủ lạnh

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

9 giờ 50

Đứng trên bãi xe của đội cảnh sát Saint Gilles, Quentin Patché đang nhìn xuống những ngón chân của mình giống như một học sinh bị bắt quả tang hút thuốc trong nhà vệ sinh. Tuy nhiên, anh cao một mét tám mươi, đã có đến đai nâu môn aikido và không có điều gì phải chê trách về ý thức trong suốt hai mươi mốt năm làm việc trong ngành cảnh sát của đảo. Cô gái trước mặt kém anh mười tuổi, hai mươi xăngtimét và ít nhất là ba mươi kilôgram.

Ấy thế nhưng anh không đáng kể gì.

– Chỉ có độc một gã, mẹ kiếp! – Aja hét lên. – Với một đứa bé sáu tuổi ở đằng sau. Không giấy tờ! Và anh để cho hắn đi qua!

Quentin Patché sắp lúng búng nói lời xin lỗi. Aja không cho anh có thời gian. Cô biết rõ điệp khúc đó, cái xác bà già trên ghế phụ lái, Sofa cải trang thành con trai, gã lái xe bộ dạng ngớ ngẩn không giống lắm với ảnh chụp Bellion… Thông báo qua bộ đàm tới tất cả các đội lục soát đã đến muộn mất vài phút, đa số cảnh sát có lẽ đều sẽ bị lừa, cả gã ngốc Patché này cũng như người khác. Nhưng điều đó không ngăn cản nữ đại úy tiếp tục gào thét với anh:

– Chúng ta đang nắm giữ hắn, trung úy ạ. Chỉ cần mở mắt ra…

Patché là một cảnh sát đã được rèn luyện tốt. Ở đội cảnh sát cũng như ở câu lạc bộ aikido, anh đã học được cách bình tĩnh chịu đựng. Aja còn tuôn hàng tràng trách móc trong nhiều giây nữa.

Cô cần được giải tỏa. Nhất là cần gây ấn tượng với đại tá Laroche.

Anh ta đứng cạnh họ, dưới bóng cây phi lao. Anh ta đến trước đó mười phút, trong một chiếc Ecureuil AS350 mới coóng đã gây ra một trận bão cát khi đậu xuống bãi biển được cảnh sát giải phóng vài phút trước.

Christos im lặng tham dự cảnh tượng ngay từ đầu. Cuối cùng, ông cũng quyết định can thiệp, theo cách tế nhị. Ông nghiêng đầu thì thầm vào tai viên đại úy:

– Được rồi, Aja. Chú nghĩ cháu làm thế là đủ rồi đấy. Quentin đã ở mặt trận từ gần mười ba giờ qua. Anh ta cũng chỉ có giới hạn thôi, đúng không?

Aja gật đầu.

Cô liền quay sang Laroche trong khi Quentin Patché đi xa dần. So với hình ảnh mà Aja mường tượng ra khi nghe điện thoại, viên đại tá có vẻ cao hơn. Và cũng hấp dẫn hơn. Vóc dáng của một anh chàng điển trai tuổi bốn mươi, nhẵn nhụi và sạch sẽ, với chút hài hước cần thiết trong đáy mắt khiến ta đoán chừng anh ta là một nhà ngoại giao khôn khéo cố giấu mình sau cái nếp quan liêu lạnh lùng. Một gã làm quản lý cho tổ chức phi chính phủ, chủ ngân hàng trong lĩnh vực tài chính vi mô, hoặc tư vấn xã hội chủ nghĩa. Thông minh. Nghị lực. Khiến người khác tin tưởng. Và khiến người khác căng thẳng.

Laroche chờ Patché vào trong văn phòng đội cảnh sát rồi mới lên tiếng:

– Chúng ta không sửa lại lịch sử được, đại úy Purvi ạ. Patché chỉ làm mất của chúng ta vài phút. Thông tin tìm kiếm đã được đưa ra: một chiếc Nissan Micra màu vàng mà thực tế là Bellion không có thời gian để thay biển số. Hắn sẽ không thể đi xa, chúng ta đã huy động toàn bộ trực thăng của ComGend, mười một chiếc EC145 đang quần thảo trên vùng trời của đảo. Cô đã làm tốt, Purvi ạ, tôi nói rất chân thành. Trước hết là bao vây hắn, sau đó buộc hắn phải ra khỏi hang. Hắn nhanh hơn ta chưa đầy ba mươi phút. Nhưng hắn không có cơ hội nào đâu.

Vừa nói, Laroche vừa di gót giày thành những vòng tròn nhỏ trên lớp sỏi rải ở nền nhựa đường của bãi đỗ xe. Mặc dù bề ngoài anh ta có vẻ tự tin, Aja vẫn nhận thấy vẻ căng thẳng kín đáo. Trước khi leo lên trực thăng, viên đại tá mặc chiếc quần bằng vải gai thô, áo gilê chống đạn và đi giày bảo hộ. Đủ bộ của một lính đặc công ra trận. Ngay lúc đầu, hẳn là viên đại tá cảm thấy bỡ ngỡ khi phải tháo bỏ cà vạt và quân hàm để bay bằng chiếc Ecureuil lần đầu và đến thăm những người Créole. Nhưng trong thâm tâm, chắc chắn anh ta không mong chờ gì kế hoạch Papangue như món quà chào mừng đến đảo.

Aja nhíu đôi lông mày cho đến khi chúng giáp nhau, để cho thấy rõ là cô không để mình bị vài lời khen lấy lệ dỗ dành.

– Thế trong lúc này thì sao, đại tá? Trong lúc chờ trực thăng quay lại. Chúng ta khỏa lấp sự im lặng bằng cách lôi nhạc cụ ra và chơi bài “Đoàn kỵ binh của Walkyries?”

Laroche khiến nữ đại úy ngưỡng mộ vì hàm răng hoàn hảo của mình. Một nụ cười có thể xem là thẳng thắn và chia sẻ.

– Chúng ta im lặng và cầu nguyện thánh Expédit[39], đại úy Purvi ạ. Ở đây người ta nói thế đúng không?

9 giờ 57

– Aja, chú nói chuyện với cháu được không? Nói riêng thôi.

Christos kéo tay áo Aja, dẫn cô đi cách xa những người khác một chút.

– Có quan trọng không chú?

– Có.

Christos quan sát Laroche đứng cách đó ba mét, anh ta đang bận tìm nơi tốt nhất trên bãi đỗ xe để bắt sóng cho chiếc iPhone.

– Nói riêng thôi, – Christos nhấn mạnh. – Không phải trước mặt Laroche. Cháu thì có thể hiểu được. Còn anh ta thì không… Ta vào tủ lạnh được không?

Tủ lạnh là một căn phòng nhỏ mười mét vuông không có cửa sổ, nơi tài liệu lưu trữ trong suốt ba mươi năm của đội cảnh sát được xếp xung quanh hai chiếc ghế sắt và một chiếc bàn bằng kim loại. Cảnh sát Saint Gilles đặt tên phòng này như thế bởi vì đây là phòng mát nhất của tòa nhà, nhưng chủ yếu là vì phòng không có cửa sổ nên có thể tận dụng để làm nguội vài kẻ bị tạm giữ không chịu mở miệng.

Christos đóng cửa lại. Ấn công tắc. Một cái tủ lạnh hiện đại sáng lên khi có người vào bên trong.

Một phụ nữ đã ngồi chờ sẵn trong căn phòng mát mẻ. Một người Cafre. To lớn. Khỏe mạnh. Trang điểm theo kiểu Créole có phong cách, môi son đỏ và lông mày màu chàm.

Christos đảm nhận việc giới thiệu.

– Aja, đây là Imelda. Một người bạn. Chú đã nói với cháu sáng nay. Cháu đã trả lời là cô ấy có thể đến, cháu nhớ không? Cháu nên nghe cô ấy nói, cô ấy đã suy nghĩ rất nhiều về vụ này. Với độ lùi lớn hơn chúng ta, nếu cháu hiểu ý chú… Cô ấy không…

– Cháu nhớ, – Aja cắt ngang rồi nói thẳng với Imelda. – Vậy ra chị là người phụ nữ duy nhất trên thế giới bắt được nhà tiên tri tự do Christos Konstantinov phải làm thêm giờ. Và nếu tôi nhớ không nhầm, chị là một người nghiệp dư rất giỏi trong việc suy đoán tội phạm. Kiểu Harlan Coben đúng không? Xin thứ lỗi cho tôi, thưa chị, và nhất là hãy thứ lỗi cho chú Christos, lẽ ra chú ấy phải hỏi tôi trước, hẳn tôi sẽ khẳng định với chị rằng chị không cần phải đến đây. Ít ra thì cũng không phải ngay lập tức. Martial Bellion hiện đang bị hơn chục chiếc trực thăng theo sát. Mọi chuyện có thể xảy ra chỉ trong vài giây sắp tới…

Christos nài thêm:

– Cháu thực sự nên nghe cô ấy…

– Chú làm phiền cháu quá, chú Christos.

Aja di chuyển trong phòng, máy móc xếp lại tấm bìa bị xộc xệch trên một hộp tư liệu. Cô đưa ánh mắt thương hại nhìn người phụ nữ Cafre.

– Tôi rất tiếc, Imelda, tôi không giận chị. Nhưng…

– Không có gì đâu, – Imelda mỉm cười. – Cô đừng bận lòng. Tôi hiểu, tôi đã qua tuổi bị mếch lòng rồi.

Cô đứng dậy và quay sang Christos.

– Sếp anh nói đúng, em đi thôi. Em đã nói với anh là em không có việc gì ở đây cả. Lũ trẻ đang chờ em ở nhà, em còn những ba tấn quần áo phải giặt, rồi lại còn ra Saint Paul mua rau nấu cà ri, và…

Christos ngước mắt nhìn lên trần nhà lốm đốm nốt rộp, đột nhiên ông đấm tay xuống mặt bàn. Một làn mây bụi bốc lên trong phòng.

– Rốt cuộc, khỉ thật, Aja, cô mất gì mà không nghe cô ấy năm phút chứ? Imelda là một nhân chứng, chỉ là một nhân chứng chết tiệt. Cô ấy quan sát và ghi vào trí nhớ từng tin vặt nhỏ nhất trên đảo từ lâu rồi, trước khi người ta sáng tạo ra đĩa cứng và các phần mềm tìm kiếm…

Aja thở dài, nhìn đồng hồ.

– OK, năm phút, không hơn.

Christos kéo một chiếc ghế, lấy tay lau. Bụi lại bốc lên thành một đám mây trong chốc lát, gần như vô hình vì không có ánh mặt trời. Aja bật ho. Christos hắng giọng. Trong tủ lạnh có mọi thứ trừ bia và đá lạnh.

– Nói đi, Imelda…

Imelda bước lên. Đứng dưới chiếc bóng đèn duy nhất, vóc dáng đồ sộ của cô khiến Aja chìm trong bóng tối.

– Từ đầu vụ này, tôi đã thấy thái độ của Martial Bellion không lô gích.

Theo sự di chuyển của Imelda, khuôn mặt Aja hết chìm trong bóng tối lại nhô ra ánh sáng, như thể chính cô mới đang bị hỏi cung.

– Nói rõ hơn đi, Imelda.

– À thì, ta có cảm giác như, nói thế nào nhỉ, như đang làm việc với hai người khác nhau. Theo những gì báo chí nói. Và theo những gì Christos nói với tôi.

Aja nhăn trán, đôi lông mày kéo thành một đường thẳng, giống như vạch chỉ dẫn đường cấm màu đen gạch ngang mắt, nhưng cô không ngắt lời Imelda.

– Trước hết, tất cả đều khiến ta nghĩ đây là một vụ vớ vẩn. Một trận cãi nhau. Một tai nạn. Martial Bellion hoảng hốt, gọi cảnh sát, thú nhận…

– OK, – Aja sốt ruột. – OK.

– Sau đó, quay ngoắt 180 độ. Bellion bỏ trốn. Hắn thoát khỏi tay cảnh sát. Biến thành một kẻ giết người không thể bắt giữ, có tổ chức, như thể đang theo một kế hoạch đã được lập chi tiết từ trước, hoặc ít ra, là một mục đích nhất định…

– OK, Imelda, xin lỗi tôi nói thẳng, nhưng chúng tôi đã nghĩ đến tất cả những chuyện đó.

Christos tựa người vào đống tư liệu ố vàng. Mắt ông nhìn hết người này sang người khác.

– Tôi cũng nghĩ thế, – Imelda vội xin lỗi. – Tôi cũng nghĩ thế, thưa cô. Thế nên tôi sẽ đi thẳng vào vấn dề, tóm tắt toàn bộ trong chỉ một câu hỏi: có chuyện gì xảy ra từ 16 giờ thứ Sáu ngày 29 tháng Ba đến Chủ nhật ngày 31 tháng Ba, chính xác là bốn mươi tám tiếng sau?

Sau một khoảng ngạc nhiên, Aja trả lời, giọng vỡ ra:

– Không! Không có gì cả! Sau đó mọi thứ mới ồ ạt diễn ra, khi chúng tôi muốn bắt Bellion.

Imelda không phật ý. Cô vẫn tiếp tục thể hiện, càng lúc càng hào hứng.

– Tôi sẽ giải thích với cô lập luận của tôi. Thứ Sáu, bắt đầu từ 16 giờ, ngay sau khi vợ mất tích, Martial Bellion hợp tác với cảnh sát, đề nghị cảnh sát tìm kiếm vợ hắn, thậm chí xin được bảo vệ bản thân hắn. Ngày hôm sau, mọi chuyện thay đổi…

Aja đưa mắt ngán ngẩm nhìn đồng hồ đeo tay.

– Giữa hai khoảng thời gian đó, Imelda ạ, cô cũng biết đấy, bởi vì Christos hình như không phân biệt được giữa bí mật nghề nghiệp và tâm sự trong chăn, chúng tôi đã thu thập các chứng cứ. Máu. DNA. Cái chết của Amaury Hoarau. Vũ khí gây án… Bellion bị dồn vào chân tường…

– Hắn đã bị như thế từ trước, thưa cô. Dồn sát chân tường! Bellion không ngốc, hắn đã biết trước kết quả xét nghiệm máu, DNA và dấu vân tay chắc chắn sẽ được tìm thấy trên cán dao. Tôi bảo đảm những gì tôi nói, đại úy Purvi ạ, Bellion đã thay đổi chiến thuật, một cách toàn diện, và chúng ta không biết lý do của việc đổi hướng đó. Xin nói rất thật, câu chuyện này khiến tôi nhớ đến câu chuyện của con tôi, thằng lớn nhất, Nazir, cách đây ba năm, khi trường Jean Lafosse gọi cho tôi vì nó đã lấy cắp một chiếc MP3 của bạn.

Aja căng thẳng nhìn đồng hồ nhưng Christos ra hiệu cho cô hãy kiên nhẫn.

– Lúc đầu, Nazir ngoan như một con cừu trước các giám thị của trường, thậm chí nó còn nhận đã lấy cắp. Cho đến khi một đứa bạn để lộ bí mật: Nazir đã lấy cắp không chỉ chiếc MP3. Nó còn tổ chức một đường dây buôn bán thực sự trong trường. MP3, MP4, điện thoại di động, đồ chơi điện tử, cần sa… Ngay khi biết một thằng đồng phạm đã mách lẻo, con trai tôi đã trốn đến vùng bình nguyên Makes. Lúc ấy nó mới chỉ mười hai tuổi. Cảnh sát đã mất ba ngày mới tìm thấy nó…

Aja đứng dậy, cuối cùng cô đã thấy quan tâm. Cô cố gắng tìm mối liên hệ giữa cách lập luận đó với những vùng tối trong vụ án. Đề nghị của Liane Bellion ở đội cảnh sát Saint Philippe, chuyến đi của Bellion đến sân bay và vụ đổi ngày về không thành. Cả quá khứ của Bellion nữa, gái đẹp, rượu, cần sa…

– Chị muốn nói gì, Imelda? Rằng Maltial Bellion còn giấu chúng ta điều gì khác nữa sao? Tệ hơn điều hắn đang bị kết tội? Hắn đã bỏ trốn để không bị phát hiện ư?

Christos mỉm cười, tự hào vì Aja đã bị cách lập luận thu hút, ông huýt sáo qua kẽ răng. Tệ hơn ba vụ giết người… Hay đấy, đúng không? Cũng đáng để tìm hiểu sâu hơn về quá khứ của Bellion.

Imelda giơ tay lên trời như một cử chỉ diễn kịch. Nhưng cô không có cơ hội nói thêm lời nào nữa, cánh cửa tủ lạnh đột nhiên bật mở.

Laroche hiện ra, tóc gần như rối tung. Áo gilê chống đạn cài khuy đến tận cổ.

– Ta định vị được họ rồi, Purvi!

– Sao cơ?

– Sau bình nguyên Cafres, trên đường lên núi Lò Lửa.

– Đó là đường cụt! Ta tóm được họ rồi. Tôi đến ngay.

Một chiếc ghế sắt lại đổ xuống trong đám mây bụi. Laroche để cho tiếng vang va vào bốn bức tường kéo dài mãi.

Rõ ràng là anh ta đang khó xử.

– Tất cả trục thăng đều được trưng dụng rồi, đại úy Purvi ạ. Không… không còn chỗ nào dành cho cô cả! Những người sắp đổ xuống đó đều là những người chuyên nghiệp, đơn vị hỗ trợ trên không và trung đội tác chiến vùng cao. Đội của cô phải tiếp tục công việc điều tra ở Saint Gilles. Đó là việc mấu chốt, còn không ít điểm tối trong vụ án này. Cái chết của Chantal Letellier, và còn cả…

Aja nổ tung:

– Anh không thèm đếm xỉa gì đến tôi sao?

Đằng sau Laroche, hai cảnh sát mặc quân phục, đứng chật cả cửa, ngọ nguậy như thể đang buồn tiểu.

– Đại úy Purvi, một tá trực thăng sẽ sà xuống chiếc Nissan của Bellion. Ba mươi người. Đa số là các thiện xạ bắn tỉa. Mỗi người trong số họ chỉ là một thành viên trong kế hoạch Papangue, đã được rèn luyện hoàn hảo và không hề có cái tôi. Không hề có cái tôi, cô hiểu điều đó không, Purvi? Bây giờ tôi phải đi đến đó…

Những tiếng gót giày vang lên, rồi đi xa, để lại cánh cửa tủ lạnh mở ra trống rỗng và im lặng. Christos cắn môi, Imelda lùi sát vào một hàng giá, áp lưng vào những hộp tài liệu lưu trữ. Cả hai đều chung một cảm giác buồn tiếc.

Chiếc bàn sắt trong tủ lạnh bỗng bay vụt, nảy lên, gây ra thứ âm thanh ầm ĩ khi va vào các chân kim loại của mấy chiếc giá.

– Lũ khốn kiếp!

Aja lao ra ngoài, xông vào trong phòng chính của trụ sở đội cảnh sát. Morez né người trước cấp trên, với vẻ thanh lịch của một hậu vệ không muốn phá rối. Aja không nhìn thấy sợi dây điện chạy ngang phòng, hoặc không kịp tránh nên vẫn bước tới. Ngay sau đó, chiếc máy chiếu nối vào đường dây mắc tạm thời vỡ tung trên sàn. Hàng trăm ngôi nhà màu vàng và cam của Saint Gilles biến mất vào hư không.

Tám trăm sáu mươi euro. Một phần tư ngân sách hoạt động hằng năm của đội cảnh sát.

– Thật là một lũ khốn kiếp! – Aja bình luận. Cô chạy đến tận bãi đỗ xe của đội cảnh sát.

Bão cát và sỏi.

Chiếc Ecureuil AS350 B của Laroche đậu trên bãi biển cao hơn đầu cô chưa đầy ba mươi mét, đang khuấy động những tán lá phi lao trong một trận cuồng phong kéo dài mười lăm giây.

– Lũ khốn kiếp!

Aja đưa mắt nhìn theo đường chạy của chiếc Ecureuil, hết sức căng thẳng.

10 giờ 14

Chiếc trực thăng của Laroche chỉ còn là một con ruồi ở phía chân trời. Aja đi vòng vòng, làm di chuyển số lượng sỏi tương đương với gót giày của cả một đoàn quân bị nhốt trong trường luyện ngựa. Không cảnh sát nào trong đội dám lên tiếng. Christos dựa vào cây phi lao và châm một điếu chuốc, chờ lúc thuận lợi để có chiến thuật phá vỡ sự im lặng.

Để cho cơn bão qua đi.

Được một lúc rồi, viên đại úy tiếp tục nhìn chăm chăm vào khoảng trời trống không, tuyệt vọng giống như con chim nhỏ bị đóng đinh vào tổ. Đột nhiên, Aja đưa điện thoại di động lên miệng. Cô hét lên, không chút kín đáo:

– Jipé đấy à? Ừ, Aja đây. Khẩn cấp tuyệt đối! Cậu có còn chiếc trực thăng nào dùng được bây giờ không?

Im lặng chỉ trong vài giây, rồi Aja lại hét lên:

– Cậu có một cái à! Tuyệt, cậu đúng là đáng yêu! Là… là một chuyến dã ngoại hơi đặc biệt. Đừng đi đâu, hai phút nữa tớ sẽ gọi lại.

Aja gác máy.

Christos nhìn cô, kinh ngạc.

– Anh chàng Jipé đó là ai? Người yêu cũ ư?

– Gần như thế. Người mà cháu đã bay cùng nhiều nhất trong suốt cuộc đời.

– Người tình của cháu sao?

– Không. Người hướng dẫn bay của cháu…

Chương 30

Nấm mồ lộ thiên

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

10 giờ 17

Một bó hoa đủ màu sắc, ba đã nói thế. Càng to càng tốt! Dành cho bà già tóc xanh lơ đã chết. Giống như ở nghĩa trang. Người chết rất thích hoa.

Ba đã nói tôi hái hoa dưới gốc cây, không đi quá xa nhưng cũng không ở quá gần cái hố. Còn hơn cả một cái hố nữa, đó là một thứ giếng khổng lồ như thể sâu xuống tận trung tâm trái đất. Vô cùng nguy hiểm! Hàng rào bằng gỗ phía trước đã bị gãy hỏng. Có cả những dải băng nhựa màu cam và những tam giác to tướng màu vàng.

Tôi quay lại để không bị lạc giữa những bụi cây. Ba đứng gần chiếc xe màu vàng, cách tôi ba mươi mét.

Tôi đã hiểu.

Ba đã rời khỏi con đường ngay khi nhìn thấy chiếc trực thăng. Ba đã lập tức quay xe rồi đi tiếp trên một con đường đất, vừa chú ý để luôn chui dưới tán cây. Chiếc trực thăng không thể bay theo chúng tôi, hoặc có thể nó đã phải hạ cánh, nhưng chúng tôi đã đi xa. Sau đó, ba đã dừng xe cạnh cái hố này. Ngay trước tấm biển treo trên hàng rào mục nát. Tôi nhận ra mấy chữ: Miệng núi lửa Commerson.

Chỉ có mình chúng tôi.

Chúng tôi ra khỏi xe, thực ra là ba và tôi, không phải bà già, chắc chắn rồi.

Tôi đã ngay lập tức muốn lại gần miệng hố, nhưng ba không đồng ý.

– Đây là một cái vực sâu gần ba trăm mét, – ba giải thích. – Nếu ta thả tháp Eiffel xuống đây, nó sẽ gần như không nhô ra chút nào, có lẽ chỉ trừ chóp đỉnh.

Tôi thấy khó tin, nhưng nếu không cúi xuống, thì không thể nhìn thấy gì khác ngoài miệng giếng và những vách đá đen đầy hố giống như những miếng giẻ lau bị khô kiệt.

Rồi ba bảo tôi đi hái hoa…

Bây giờ, tôi đã hái được khá nhiều, thậm chí tôi phải khó khăn lắm mới cầm hết được từng ấy cành hoa trong hai bàn tay. Tôi đi về phía chiếc xe màu vàng, vẫn chú ý luôn ở dưới bóng cây. Ba đang cởi trần. Đúng là mặc dù chúng tôi đang đi lên núi, nhưng trời vẫn rất nóng, còn nóng hơn cả ở bờ phá, vì gần như không có gió. Ba đã lôi tất cả đồ đạc ra khỏi xe. Túi, nước, bản đồ.

Thật kỳ cục.

Hình như chiếc xe đang chuyển động.

Tôi bước về phía ba, tay cầm hoa.

– Đừng đi nữa, Sofa!

– Ba làm gì thế?

Người ba đẫm mồ hôi. Hai bàn tay đang đặt trên xe.

– Ba làm gì thế, ba?

Ba ngồi xuống ngang tầm mắt tôi trước khi trả lời. Tôi rất thích ba làm thế.

– Con đã nhìn thấy những ngôi mộ trong nghĩa trang chưa, Sofa? Người ta đào hố để người chết có thể ngủ yên, không bị quấy rầy bởi tiếng động, mưa, nắng… Ngủ mãi mãi, con hiểu chứ?

Tôi lúc lắc đầu. Tôi hiểu. Chết không phải là ngủ, mà là không bao giờ tỉnh dậy nữa.

– Con yêu ạ, trên hòn đảo này, không cần phải đào đất, đã có sẵn những cái hố lớn, những cái miệng do núi lửa tạo thành. Những ngôi mộ hạng năm sao, giống như ở khách sạn, con hiểu không?

Tôi gật đầu thay cho câu vâng.

– Con lùi lại đi, Sofa…

Ba xê dịch những tam giác màu vàng, rồi lại tiếp tục đẩy chiếc xe. Ba không đẩy nó về phía rào chắn gỗ, mà thấp hơn một chút, thẳng về phía cái hố, qua những bụi cây. Bằng tất cả sức lực. Chiếc xe khẽ trượt đi…

Bà già đang ở trong xe, tôi thoáng nhìn thấy mái tóc xanh lơ của bà lướt qua.

Một tay ba giật đứt dải băng nhựa màu cam. Nỗ lực cuối cùng. Chiếc xe lật nhào.

Thật buồn cười, lúc đầu không có tiếng động nào, như thể đúng là cái hố không đáy, giống như khi Alice rơi vào trong hang thỏ, suốt nhiều giờ liền.

Và rồi đột nhiên, tất cả nổ tung. Cũng mạnh như tiếng sấm khi nó nổ sát bên tai, một lúc sau khi chớp lóe, đúng lúc ta không ngờ tới nhất. Tôi có cảm giác dường như các vách đá sẽ tách ra và cái hố tự bít lại do đất rung.

Tôi lùi ra sau hai bước. Tôi kém dũng cảm hơn Alice nhiều.

10 giò 22

Martial kéo Sofa lùi tiếp đến tận dưới rặng cây thấp và ngước mắt nhìn lên trời. Bây giờ, anh nhìn thấy rõ ba chiếc trực thăng, ở khá xa; hai chiếc bay phía trên đỉnh Lò Lửa, còn một chiếc, ngược lại, hướng về phía đỉnh núi Tuyết. Anh tưởng tượng cảnh sát đang cúi xuống khoảng không, mắt dán vào ống nhòm, tìm kiếm bất cứ dấu vết nhỏ nào để định vị hai cha con anh trong rặng cây hoặc khu rừng Tamarins. Một chiếc xe, hai kẻ chạy trốn, đâu đó giữa sườn núi lửa và sông Remparts: vòng tìm kiếm của cảnh sát đã thu hẹp lại đáng kể.

Đó chính là kế hoạch của anh!

Thu hút đám trực thăng giống như lũ ruồi khi cùng chiếc Nissan đi lộ liễu ngược lên đường Núi lửa. Vung vẩy một mảnh vải đỏ để khiến họ phấn khích. Rồi, giống như ở Saint Gilles, đột ngột làm chiếc xe biến mất, làm rối các hướng điều tra, tiếp tục đi bộ… Chạy sang bên kia núi lửa, nhằm hướng đỉnh Sainte Rose, đại dương, vịnh Thác.

Martial mỉm cười với Sofa rồi nhét đồ đạc vào trong túi, vừa cố nhớ từng chi tiết trên tấm bản đồ của IGN, những đoạn dốc, khoảng rừng, khe nước, buộc bản thân phải hình dung ra mô hình 3D từ những đường bình đồ.

Ngay khi rời khỏi rừng cây bụi trên miệng núi lửa Commerson, họ sẽ vấp phải hai vấn đề lớn. Trước hết là phải đi qua bình nguyên Cát, hai kilômét đường tro đen, dưới ánh mặt trời, không một bóng râm, một công suất phản chiếu kỷ lục, hấp thụ gần như toàn bộ tia nắng mặt trời mà không phản chiếu lại. Một cái lò than có kích thước bằng năm trăm sân bóng, đủ rộng để nướng xúc xích cho tất cả dân trên đảo trong một thế kỷ. Hai cha con sẽ phải đi lộ liễu trên bình nguyên Cát, có thể bị định vị dễ dàng như lũ kiến trên một tấm vải trắng.

Nếu nhờ phép mầu mà họ qua được, hai cha con sẽ phải dấn thân vào sườn núi lửa cho đến khi xuống tới biển.

Mười lăm cây số. Một nghìn bảy trăm mét đường dốc… Sofa sẽ không bao giờ theo kịp anh…

10 giờ 25

– Giờ thì lại gần đây nào, con gái. Bó hoa của con đẹp quá.

Tôi ngần ngại. Tôi ôm sát những cuống hoa vào ngực. Tôi có cảm giác cái hố vẫn còn rung rinh.

– Lại gần đây, con yêu, con không bị chóng mặt chứ?

– Không…

– Đưa tay cho ba. Con sẽ ném hoa xuống đáy hố để bà già tóc xanh lên thiên đường.

Tôi muốn nói với ba rằng nếu ba không giết bà già, chúng tôi đã không phải làm tất cả những trò này, nào thiên đường, nào hoa, nào đẩy xe, nhưng tôi không muốn ba lại nổi cáu.

Tôi bước đến. Chân tôi cách cái hố mười xăngtimét. Bàn tay ba ẩm ướt.

Cái hố giống như một cái miệng lớn. Một cái miệng đói khát muốn nghiến ngấu không chỉ bó hoa của tôi, mà cả tôi nữa, giống như những chiếc răng ngựa to tướng nhe ra khi người ta đưa cỏ qua hàng rào cho chúng.

Chúng muốn cả các ngón tay. Bàn tay. Cánh tay.

Tôi dựa vào vách đá sát miệng hố, tôi muốn hoa của tôi rơi tận xuống đáy.

– Ba giữ con chắc nhé, ba!

Nếu mẹ mà ở đây thì mẹ không bao giờ để tôi làm như thế này.

Tôi cúi xuống, gần như ngay trên miệng hố. Ba giữ tay trái của tôi, trong khi tay phải tôi vẽ thành một vòng tròn, rồi đột ngột tôi ném bó hoa xuống.

Hoa tan tác như mưa.

Chúng rơi xuống, không tiếng động. Tôi cúi đầu, muốn nhìn theo càng xa càng tốt, cho đến tận trung tâm trái đất.

Tôi chỉ nghe tiếng gió thổi trong lá, và tiếng đám côn trùng kêu vo vo, cao tít trên trời; hoặc có thể đó là những chiếc trực thăng.

– Ba ơi, đừng buông tay con, nhé!

Tin liên quan