***
Đến tiệm may Hương Loan, bác xích lô ghé mũi xe lên lề đường để hai người đàn bà bước xuống. Đảo mắt tìm tiệm, mẹ Hoan bảo mẹ Hằng:
“Chà, tiệm coi đẹp thật.”
Hai người bước vào tiệm, đưa biên lai xin nhận áo quần. Một cô thợ đon đả kéo ghế mời ngồi, rót hai tách trà, rồi nói:
“Mời hai bà dùng trà chờ chị Loan con một chút. Chị con lên Gia Long mua vải, có dặn mời ngồi chờ một lát nếu hôm nay có ai đến lấy hàng.”
Uống chưa cạn tách trà, hai bà nghe tiếng đon đả chào:
“Con chào hai bác. Xin lỗi đã để hai bác chờ.”
Hai người đàn bà đưa mắt nhìn lên. Mẹ Hằng đứng lên, nhìn Hương Loan không chớp mắt rồi bật chạy đến gần run run hỏi:
“Con… cô có phải …?”
Hương Loan lao lao tới ôm chầm:
“Mạ! Mạ! Trời ơi, Mạ! Răng Mạ biết con ở đây mà tới? Con Hằng đây Mạ. Cả Mạ nữa.”
Mẹ Hoan cũng ôm chầm lấy Hằng. Ba người xúc động đầm đìa nước mắt. Không một lời nói nào đủ để diễn tả cảm xúc đang dâng trào trong giây phút này. Cả thợ cả khách trong tiệm đều ngưng mọi công việc chăm chú nhìn ba người, bối rối không hiểu chuyện gì đang xẩy ra. Hương Loan—Hằng—buông hai mẹ ra:
“Hai mạ theo con vô phòng trong.”
Ngồi trên giường giữa hai người mẹ, Hằng hỏi:
“Ba con đâu Mạ?”
Hằng đặt chỉ một câu hỏi nhưng mắt đảo rất nhanh từ mẹ nàng qua mẹ Hoan biểu lộ ý muốn hỏi đến ba của Hằng và cả ba của Hoan. Mẹ Hằng nói:
“Hai ba đang ở khách sạn.”
“Còn anh Hoan con?”
Nghe Hằng gọi anh Hoan con, hai người mẹ rơm rớm nước mắt. Mẹ Hoan nói:
“Hoan đi sĩ quan, lên đại úy, đang ở Sài Gòn.”
“Sao anh ấy không học tiếp mà đi lính?”
“Hoan vào trường Võ bị, ra trường nhập ngành Nhảy dù.”
Hằng nhìn mẹ Hoan không giấu vẻ kinh ngạc:
“Sao lại Nhảy dù?”
Mẹ Hoan nhìn Hằng:
“Vì Hoan hy vọng có ngày nhảy xuống chiến khu cứu con.”
Hằng bật khóc:
“Lạy Chúa con! Anh Hoan ơi!”
Để yên cho Hằng khóc cho vơi nỗi đau đớn. Lát sau, Hằng nín khóc, sụt sịt hỏi:
“Sao hai mạ biết con đây mà tìm?”
Hai bà mẹ đưa mắt nhìn nhau, không biết phải nói ra sự thực bằng cách nào. Cuối cùng, mẹ Hoan hỏi Hằng:
“Sao con ở đây mà không tìm Ba Mạ.”
Hằng tóm lược thời gian ở chiến khu, việc được đưa về làng ngăn cản dân di cư vào Nam, việc nhờ Cậy lo cho vượt sông Bến Hải, việc vào được trại tạm cư Quảng Trị. Mẹ Hằng nói:
“Nhưng con vào Huế, học may lúc nào mà giờ mở tiệm?”
“Chuyện này con phải tạ ơn Chúa và cám ơn Cậy.”
Mẹ Hoan hỏi:
“Có phải cô Cậy đã chủ động đứng ra lo cho Ba con về không?”
“Dạ, hắn đó.”
“Vậy cô ấy có ở đây không?”
“Dạ không. Con có rủ Cậy nhưng Cậy còn cha mẹ già không ai lo nên không theo con được.”
Hằng thuật lại chuyện Cậy viết hai thư giới thiệu, một gửi nhờ cậu của Cậy ở Quảng Trị, một gửi nhờ chú cũng của Cậy ở Huế. Để tránh Việt Minh truy ra tung tích Hằng cũng như tránh Quốc gia biết được Hằng đã từng là cán bộ Việt Minh, cậu của Cậy khuyên Hằng thay tên đổi họ, đổi cả tên cha mẹ và quê quán, lấy theo dòng họ quê quán của cậu. Cậu tìm cách xin cho Hằng giấy Thế vì Khai sinh và Căn cước là các giấy tờ hành chánh được cấp tương đối dễ dàng lúc đó nhằm hợp pháp số người di cư đông đảo chưa từng có hoặc đã mất hết giấy tờ lúc chạy loạn. Hằng mang họ Nguyễn theo họ của cậu Cậy, mang tên mới Hương Loan. Cậu giải thích Hương là sông Hương ở Huế, Loan là một phần của Di Loan, một làng tương đối tiếng tăm giữa quê hương Hằng và quê hương cậu. Hằng chấp nhận ngay tên cậu đặt cho vì nhận ra do tình cờ sắp đặt nếu đọc lái Hương Loan thành Hoan Lương, tên mới của Hằng sẽ gồm tên Hoan và tên tổng Hiền Lương cũng là tổng của quê hương Hằng. Mẹ Hằng xúc động ôm con:
“Vậy sao con không ở Quảng Trị với cậu của Cậy mà vào Huế? Con học may ở đâu?”
“Dạ, cậu của Cậy giúp cho con vào Huế gặp chú của Cậy. Cậu nói vào Huế có nhiều cơ may hơn ở Quảng Trị và cũng khó có thể gặp người quen hơn ở Quảng Trị.”
“Rồi con xoay xở làm sao?”
“Dạ, con ở với cậu cho đến khi xong giấy tờ rồi vào Huế gặp chú. Chú gửi con cho một người họ hàng của chú có tiệm để học may. Sau ba bốn năm học rành nghề, làm công, và giành giụm, con xin ra mở tiệm riêng.”
Mẹ Hoan hỏi:
“Tiệm này?”
Hằng cười:
“Dạ, đâu có. Thoạt đầu, con mở một tiệm nhỏ gần chợ An Cựu để thử sức. Con may ở đó chừng hơn năm, thấy có khách nên tìm chỗ mở tiệm lớn hơn.”
“Rứa răng con chọn chỗ Gia Hội ni?”
“Dạ lý do chính là giá tiền thuê nhà vừa sức con, hai là Gia Hội nhiều người qua lại, ba là gần nhà thờ thuận tiện cho con đi Lễ.”
Mẹ Hằng hỏi:
“Giờ tiệm này con vẫn còn thuê?”
Hằng lắc đầu:
“Dạ không, con mua lại rồi. Chủ nhà vào Sài Gòn nên bán rẻ cho con, trả góp thành mấy kỳ.”
“Mạ không ngờ con gái Mạ giỏi xoay xở. Vậy sao con không tìm Ba Mạ?”
Hằng không trả lời mà hỏi ngược lại mẹ:
“Thế sao Ba Mạ không tìm con?”
Mẹ Hằng rơm rớm nước mắt:
“Mạ đã nhiều lần bàn với Ba đăng báo tìm con nhưng Ba nghĩ không nên.”
“Sao vậy Mạ?”
“Ba nói một là có thể có hại cho con nếu con còn ở chiến khu.”
“Sao lại có hại?”
“Tai mắt của Việt Minh nếu bắt được tin đăng báo sẽ biết chỗ ở của Ba Mạ, và sẽ gây khó cho con vì nghi ngờ con không trung thành.”
“Ba có lý.”
“Trường hợp con trốn thoát, chúng nó sẽ biết con ở chỗ nào để trà thù vì sợ con tiết lộ bí mật.”
“Ba hiểu Việt Minh.”
“Thêm nữa, còn có thể sinh hại cho chính con nếu con trốn thoát về thành vì Quốc gia có thể gây khó khăn cho con một khi biết con đã là cán bộ Việt Minh.”
“Đúng Ba chu đáo.”
“Ngoài ra, Ba nói còn có thể có hại cho cả Ba.”
“Sao hại cho Ba?”
“Nếu Quốc gia biết Ba có con là cán bộ cộng sản dù đang ở chiến khu hay đã trốn về đều có thể không cho Ba tiếp tục làm việc. Giai đoạn chính phủ mới thành lập này, người ta gạn lọc kỹ lắm.”
“Vậy sao Mạ?”
“Nếu có thân nhân tập kết hoặc đã là cán bộ Việt Minh cộng sản, không ai được nhận vào học các trường sĩ quan, hạ sĩ quan, không được tuyển làm nhân viên công an, cảnh sát, hoặc hành chánh, càng tuyệt đối không được giữ các chức vụ quan trọng.”
Hằng nhìn mẹ:
“Ba con nghĩ chu đáo. Cũng vì vậy nên cậu của Cậy mới đổi tên họ cho con.”
Mẹ Hoan hỏi Hằng:
“Phần con trốn về được sao không tìm Ba Mạ?”
Hằng rướm nước mắt:
“Con biết chỗ nào mà tìm. Con chỉ biết duy nhất một việc là anh Hoan con học trường Providence nên một vài lần đã đến hỏi thử cầu may dù biết chắc sẽ không có tin tức vì anh con ra trường đã lâu.”
Mẹ Hoan gật đầu:
“Đúng rồi, con tìm sao ra chỗ ở của Hoan vì Hoan vào Nha Trang rồi lên học Đà Lạt sau khi ba Hoan được thả về.”
Hằng nói tiếp:
“Phần khác, nếu con còn mang tên Hằng, may ra có người tình cờ gặp Ba Mạ và cho Ba Mạ biết tin con. Khổ nỗi, con đã đổi tên đổi họ, đổi cả tên Ba Mạ cả quê quán rồi.”
Ba người im lặng. Lát sau mẹ Hằng hỏi:
“Vậy bây giờ cậu và chú của Cậy ở đâu?”
“Cậu vẫn ở Quảng Trị, mỗi dịp vào Huế đều ghé thăm con.”
“Con có ra thăm cậu mợ không?”
“Dạ có, năm nào con cũng về thăm ít là một lần. Tết nhất con đều gửi quà cho cậu mợ và các em.”
“Còn chú?”
“Chú bây giờ đổi vô Đà Nẵng, con cũng thăm chú và gửi quà như vậy.”
“Vậy con coi đưa Ba Mạ thăm cậu thăm chú.”
“Dạ, tháng ni con hơi bận, bận cho đến Tết. Hay Mạ ở lại đây chơi với con, sau Tết con đưa Mạ đi?”
Mẹ Hằng suy nghĩ rồi nói:
“Để Mạ bàn lại với Ba, xong công chuyện Ba về trước, Mạ đổi vé lại với con một thời gian.”
Mẹ Hoan nói:
“Đúng đó, ra Hãng đổi vé lại, trả thêm tiền cho họ.”
Hằng cười:
“Không sao đâu, con quen mấy cô bán vé ở Hãng, đổi không khó đâu. Nhưng Ba Mạ ra đây có công chuyện là công chuyện gì? Mà sao lại ghé con lấy áo cưới, lấy cho ai vậy?”
Hai người mẹ nhìn nhau, chẳng biết phải cho Hằng biết tin đau đớn này bằng cách nào. Hôn nhân của Hoan và Đoan Trang không còn cách nào tháo gỡ mà không gây nhiều phiền phức và nhất là gây tổn thất tinh thần. Họ nhà gái không thể nào chấp nhận việc hồi hôn như vậy vì đó là một sỉ nhục lớn cho đại gia đình nhà gái theo phong tục người Việt nhất là người Huế. Ông Trời thật oái oăm, sao không cho gặp lại Hằng vài năm về trước? Nhận thấy hai mẹ nhìn nhau bối rối, Hằng ngạc nhiên hỏi lại:
“Có chuyện gì vậy hai mạ?”
Cuối cùng, mẹ Hoan đến cạnh Hằng:
“Con ngồi xuống cạnh Mạ đây, Mạ nói cho con chuyện này.”
Hằng ngoan ngoãn ngồi xuống, tim đập mạnh vì đoán chắc là một chuyện không vui. Mẹ Hoan vuốt tóc Hằng:
“Mạ đến lấy áo cưới cho Đoan Trang.”
Hằng ngạc nhiên:”
“Đoan Trang? Sao Mạ lấy cho Đoan Trang? Đoan Trang nhờ Mạ sao?”
“Đúng, Đoan Trang nhờ Mạ.”
Hằng trố mắt nhìn mạ Hoan:
“Con không hiểu, Đoan Trang vì lý do gì lại nhờ Mạ?”
Mẹ Hoan nín lặng một chút, bối rối tìm lời rồi bật ra nói:
“Vì Đoan Trang là con dâu Mạ.”
Hằng thét lên một tiếng rồi ngã vật xuống. Hai người mẹ hốt hoảng bế Hằng đặt lên một chiếc giường trong khi các cô thợ và cả một vài khách hàng đang có mặt trong tiệm chạy ùa vào hỏi chuyện gì xẩy ra. Mẹ Hằng hỏi một cô thợ xin dầu rồi xoa lên trán, lên thái dương, rồi vừa giật nhẹ tóc vừa tíu tít gọi tên Hằng trong khi mẹ Hoan trấn an mọi người:
“Xin lùi lại cho thoáng, chẳng có gì đâu, cháu nó đi về say nắng, lát tỉnh lại thôi.”
Mọi người lui ra cho dẫu vẫn chưa hết thắc mắc nhất là các cô thợ vì vừa nghe Hương Loan gọi cả hai người đàn bà là mẹ. Một hồi sau, Hằng mở mắt, thở ra một hơi thật dài rồi bật khóc. Mẹ Hằng từ từ đỡ Hằng gối lên đùi. Hằng vùi đầu vào lòng mẹ khóc nức nở. Mẹ Hằng vuốt tóc con gái, vừa đưa tay lau nước mắt cho con vừa luôn miệng bảo Hằng:
“Thôi con, nín đi con, nín đi con.”
Mẹ Hoan ngồi một bên nắm bàn tay Hằng, chẳng biết phải nói gì để an ủi. Chừng hơn một giờ sau, Hằng nín khóc ngồi thẳng người lên, nhìn hai bà mẹ với đôi mắt thất thần. Mẹ Hằng nói:
“Thôi con, con bình tĩnh lại để Mạ nói mọi việc cho con hiểu.”
Hằng lấy lại bình tĩnh, uống tách nước mẹ đưa cho rồi hỏi với đôi mắt ráo hoảnh:
“Con bình tĩnh rồi, hai mạ nói cho con biết chuyện gì đang xẩy ra.”
Mẹ Hằng vòng tay ôm con, chậm rãi thuật lại chuyện cả hai gia đình thúc bách Hoan phải lập gia đình, chuyện Hoan nhất quyết chờ đợi Hằng, và cuối cùng phải miễn cưỡng vâng lời ba mẹ hai bên sau thời hạn năm năm Hằng muốn Hoan chờ đợi. Thấy Hằng đã nhiều phần bình tĩnh, mẹ Hoan nói thêm:
“Con biết Hoan vẫn một lòng thương yêu và chờ đợi con, chỉ lập gia đình vì ba mạ hai bên bắt buộc.”
Mẹ Hằng nói thêm:
“Đoan Trang và Hoan quen biết nhau đã nhiều năm từ ngày Hoan còn học ở Huế nhưng Hoan vẫn nhất quyết không tiến thêm. Giờ đây, khi vâng lời thuận cưới Đoan Trang, Hoan đã không ngần ngại cho Đoan Trang biết chuyện của Hoan và con.”
Hằng nói trong nước mắt:
“Rồi Đoan Trang nói sao, Hoan có nói cho hai mạ biết không?”
Mẹ Hoan nói:
“Có, Đoan Trang nói nếu Hoan gặp lại con, Đoan Trang sẽ vui lòng rút lui.”
Câu nói làm nét mặt Hằng thoáng tươi lên một chút rồi trở lại âm u. Hằng nhìn hai mẹ:
“Vậy bây giờ con phải làm sao đây?”
Mẹ Hoan nhìn mẹ Hằng rất nhanh rồi nhìn Hằng:
“Con tha lỗi cho Mạ. Chuyện bây giờ rất khó xử. Mạ chắc chắn khi nghe tin gặp lại con, Hoan sẽ từ chối Đoan Trang để ngay tức khắc quay lại với con.”
Hằng gục đầu lên vai mẹ che giấu suy nghĩ đang đối chọi nhau trong tâm trí. Hai người mẹ im lặng nhìn nhau, chẳng biết phải nói gì làm gì vào lúc này. Im lặng nặng nề bao trùm căn phòng nhỏ đến độ có thể nghe rõ tiếng thở dù cố kiềm hãm thật nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng Hằng ngồi thẳng người nhìn lên trần nhà rồi nhìn hai mẹ với đôi mắt vô hồn. Không biết đến bao lâu sau, Hằng đột nhiên rời vai mẹ bước đến ghế ngồi, rót nước uống, rồi nói với giọng cương quyết:
“Con nghĩ ra rồi, hai Mạ đừng cho anh Hoan con biết đã gặp lại con.”
Hai người mẹ nhìn nhau, chẳng biết nên khen ngợi tán thưởng vì Hằng đã giải quyết một việc khó giải quyết hay nên khuyên Hằng phải làm thế nào khác. Mẹ Hoan e dè nói:
“Ý con là sao?”
Hằng nhấp thêm ngụm nước rồi nói, giọng chắc nịch:
“Con nghĩ kỹ rồi, con không muốn làm tan vỡ hạnh phúc của anh Hoan con và nhất là của Đoan Trang. Không ai có lỗi gì trong chuyện này.”
Mẹ Hoan nói:
“Con tha lỗi cho Mạ. Mạ thật không biết phải nói thế nào vì chẳng biết tại sao ý Chúa lại để xẩy ra như vậy. Phải chi Chúa cho hai con gặp lại nhau một năm về trước, vẫn khó xử nhưng không phải không có lối thoát.”
Hằng cắn môi, nhìn hai mẹ:
“Vậy là đã quyết. Xin hai gia đình tuyệt đối không lộ ra cho anh Hoan con biết đã gặp lại con.”
Mẹ Hoan nói:
“Mẹ cám ơn con đã hy sinh để khỏi phải gây phiền toái nếu Ba Mạ phải từ hôn Đoan Trang. Con biết chuyện cưới xin hệ trọng với đời một người con gái, cách riêng con gái Huế.”
Hằng nói:
“Con quyết định rồi, hai mạ yên tâm.”
Hằng im lặng nhìn hai mẹ rồi nhẹ nhàng hỏi:
“Ngày nào cưới vậy hai mạ?”
“Ngày mai, lúc 11 giờ tại nhà thờ Gia Hội vì gia đình Đoan Trang ở gần đây cạnh chùa Diệu Đế.”
Hằng ngước mắt nhìn hai người mẹ:
“Đây là chuyện trời xui đất khiến, số phận con như vậy con đành chịu vậy không thể cãi lại mệnh trời.”
Hằng suy nghĩ rồi nói tiếp:
“Hai mạ nghĩ có nên cho hai ba biết đã gặp con không hay để sau đám?”
Hai người mẹ nhìn nhau chẳng biết phải làm thế nào. Không cho biết thì ấm ức trong lòng dù chỉ một ngày phải giấu kín. Cho biết thì hai người đàn ông có thể không giữ bình tĩnh được để lộ ra ngoài. Thấy hai mẹ không trả lời, Hằng quả quyết:
“Con nghĩ hai mạ giấu luôn cho hết ngày mai để hai ba khỏi lo lắng mất bình tĩnh. Riêng anh Hoan con thì tuyệt đối không cho biết gì cho đến chết để anh con sống được hạnh phúc. Anh con mà biết tin đã gặp con thì nhất quyết không thể ở yên, và suốt đời không thể có hạnh phúc.”
Mẹ Hằng nhìn con chua xót:
“Mạ nghĩ con đúng, đã hi sinh thì hi sinh cho trót. Tối mai xong mọi chuyện hai mạ mới cho hai ba biết.”
Suy nghĩ một lát, mẹ Hằng nói tiếp:
“Mạ nghĩ mãi vẫn không biết làm sao giấu được Hoan nếu Mạ ở lại với con ngay sau đám cưới.”
Hằng nói ngay như đã tính toán sẵn:
“Ba mạ cứ về, con mua vé máy bay gửi vào ba mạ ra với con sau, như vậy anh Hoan con chẳng biết gì.”
Sau khi lấy hết bình tĩnh để giải quyết chuyện cần thiết, Hằng lại khóc:
“Đời sao quá éo le, ngày ở xa mà hai con lại gần nhau, giờ bên nhau mà chẳng được gần nhau, cũng chẳng bao giờ lại được gặp nhau.”
Mẹ Hằng vuốt tóc Hằng, an ủi:
“Thôi con đừng buồn nữa, cũng là phận số thôi con.”
Hằng bực bội nhìn hai bà mẹ:
“Phận số? Hai mạ nghĩ coi phận số gì lạ lùng đến độ con may áo cưới cho người sắp là vợ của người yêu con và của cả người con yêu?”
Hai người mẹ òa khóc trong khi Hằng ngồi yên như một pho tượng nhìn lên trần nhà với đôi mắt rảo hoảnh và vô hồn.
* * *
Người giữ nhà thờ Gia Hội quen gọi là ông Từ ngạc nhiên thấy một người con gái vóc dáng thon thả mặc trang phục đen, đầu trùm một chiếc khăn cũng đen đến dự Thánh Lễ hôn phối của đôi bạn sáng thứ bảy. Ông đã chứng kiến biết bao nhiêu Thánh Lễ hôn phối với biết bao nhiêu phụ nữ tham dự trong trang phục đủ kiểu đủ màu nhưng chưa từng thấy một ai trong trang phục màu đen. Cô gái không đến nhà thờ sớm như mọi người để gặp nhau trò chuyện mà chỉ đến khi cô dâu chú rể đã tiến lên bàn thờ trong tiếng đàn tiếng hát bắt đầu Thánh Lễ. Càng ngạc nhiên hơn, ông nhận thấy cô gái không ngồi vào ghế khách tham dự mà đứng nép mình sau chiếc cột cánh trái cuối nhà thờ. Trong khi Thánh Lễ diễn ra, ông chú ý quan sát thấy người con gái thỉnh thoảng lấy khăn lau nước mắt. Ông tự hỏi:
“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng? Dự Lễ hôn phối răng lại khóc?”
Ông chú ý là vì ông biết gia đình Đoan Trang, cô dâu trong Thánh Lễ hôm nay. Gia đình cô dâu ở gần đây; mẹ cô dâu là một trong những người thỉnh thoảng giúp đỡ ông về tài chánh vì đồng lương ông nhận được từ nhà thờ không là bao nhiêu. Thánh Lễ hôn phối diễn tiến như mọi Thánh Lễ khác với các bài đọc Lời Chúa và bài giảng của linh mục chủ tế rồi đến phần chính, phần cô dâu chú rể tuyên bố lời thề hôn nhân và trao nhau nhẫn cưới. Sau lời thề của chú rể Nguyễn Hân Hoan, cô dâu Phan Đoan Trang nói:
“Em, Têrêxa Phan Đoan Trang, nhận anh Phaolô Nguyễn Hân Hoan làm chồng và hứa giữ lòng chung thủy với anh khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày trong suốt đời em cho đến khi sự chết chia lìa chúng ta.”
Sau lời hứa là nghi thức trao nhẫn cưới, Hoan vừa đeo nhẫn vào ngón áp út của Đoan Trang vừa nói:
“Em, Têrêxa Phan Đoan Trang, xin nhận chiếc nhẫn này làm bằng chứng tình yêu của anh. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”
Ông Từ mở tròn mắt khi thấy cô gái trong trang phục toàn đen hình như cũng mấp máy môi đọc lời hứa chung thủy như Đoan Trang đang đọc, và khi Hoan trao nhẫn cho Đoan Trang, hình như cô gái cũng móc từ túi mình ra một chiếc nhẫn, tự đeo vào ngón áp út của bàn tay trái mình, miệng lẩm nhẩm gì đó ông không thể nhận ra được. Ông Từ lau lại đôi kính lão trễ trên sống mũi vì nghĩ ông nhìn lầm do kính ố mờ. Đeo kính lên mắt, ông lẩm bẩm:
“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”
Ông Từ không thể không kín đáo quan sát người con gái kỳ lạ, định bụng sẽ hỏi cho biết khi tan Lễ. Quay xuống từ bàn rước Thánh Thể, ông đi thẳng đến cuối nhà thờ, dáo dác tìm nhưng chẳng thấy cô gái đâu nữa. Không nén được tò mò, Lễ vừa xong, ông đi vội ra cổng hỏi mấy bà bán hàng rong xem có người nào thấy một cô gái như vậy không. Bà ngồi sát cổng nói ngay:
“Có, cô ấy đi về rồi, ra khỏi cổng cô ấy rẽ trái theo đường Chi Lăng, vừa đi vừa khóc thút thít.”
Ông Từ hỏi lại:
“Rứa nghĩa là răng? Bà nói chắc không? Cô nớ răng mà khóc?”
Bà khác nói thêm:
“Tui rõ ràng thấy cô nớ khóc, mà còn nhận ra cô nớ là ai nữa đó.”
Các bà chung quanh nhao nhao hỏi:
“Ai rứa? Đi đám cưới răng mà khóc?”
Người đàn bà ra bộ khoan khoái vì khám phá được một chuyện bí mật:
“Tôi thấy hình như đó là cô chủ tiệm may Hương Loan.”
Nhiều tiếng ồ rộn lên rồi một bà nói:
“Rứa nghĩa là răng? Cô nớ che khăn đen kín mặt răng bà nhận ra chắc được?”
Ông Từ trở lại cổng đi vào Nhà Thờ, vừa đi vừa lẩm bẩm:
“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”
* * *
Thánh Lễ đã xong. Chụp hình đã xong. Cô dâu chú rể đang tươi cười hớn hở đứng trên bục trước cửa nhà thờ nhận lời chúc mừng của mọi người trong tiếng pháo nổ vang rền. Xác pháo tung tóe nhuộm đỏ sân nhà thờ. Khách dự đám cưới vui vẻ chào hỏi trò chuyện, không ai để ý đến ông Từ lủi thủi đi vào Nhà Thờ, miệng không ngớt lẩm bẩm:
“Rứa nghĩa là răng? Rứa nghĩa là răng?”
Trần Hữu Thuần
(Grand Rapids Michigan.
Khởi sự viết vào 1 tháng 2, 2016)