Con Chim Biển

Bùi Đức Tính

  1. Tung Cánh Chim

Quác!

Quác!

Chíp… Chíp… Chíp!

Tiếng mấy con hải âu trưởng thành nghe oang oang quác quác, đủ âm hưởng từ thấp, lên cao ngất ngất, chẳng nhịp nhàng chi cả; cứ thế, thi nhau quác quác liên tục. Đám chim con cũng bắt chước, cố nhóng cổ để đối đáp; tiếng chíp chíp non nớt, không lớn bằng, nhưng vào lúc sáng sớm, ít xe qua lại, cũng quá lớn vang qua tận bên kia đường. Hàng xóm thật ồn ào. Xóm hải âu trên này chiếm trọn nóc của một khu phố, gồm năm cửa tiệm. Gia đình chim biển chia nhau làm tổ trong các góc có tường vách như khu cầu thang, các ống thông hơi, các máy sưởi, máy điều hoà không khí,… để che bớt mưa gió và có bóng mát cho mấy con chim non.

“Chỉ có cái ăn sáng thôi mà hôm nào cũng ồn ào cả xóm.” Con chim con ngầy ngà ngẫm nghĩ. “Nhất là cái tổ ở góc đối diện, hai ông bà hải âu già nhất và lớn tiếng nhất xóm; cả tràng dài quác quác đến cạn hơi mới chịu ngừng để lấy hơi, rồi lại cứ thế mà quác quác tiếp. Đáp xuống, la quác quác; bay lên cũng kêu quác quác; lượn trên không cũng nghe tiếng quác quác…. Thực ra, ông bà ấy chỉ có cái lớn tiếng, chứ tốt bụng chăm lo cho đám chim non lắm. Như cái hôm bọn trẻ chúng nó đang tung tăng chạy nhảy và tập bay vui vẻ, bổng nghe quác quác inh ỏi, rồi thì vụt một cái, từ trên cao bà ấy sà xuống, đứng chận nơi mép mái nhà, đập cánh phành phạch xua đuổi, làm chúng nó kinh hoảng mà chạy ù vào phía trong tổ. Bà lo cho bọn trẻ con ra ngoài cheo leo, lỡ trợt chân, sẽ bị rớt xuống đường phố bên dưới. Đám trẻ con hải âu chưa biết rằng chân chúng nó có màng để bơi, không móc bám được chặt như các loài chim khác. Lại thêm, cũng nhờ cái tiếng quang quác chói tai của ông bà ấy, nên cái đám chim quạ không dám bén mảng tới gần, để tranh giành miếng ăn, hay làm hại bọn trẻ con trong xóm hải âu trên đây.”

 

Chim con hé mắt thấy trời còn tối, nó lười biếng lim dim ngủ tiếp. Lớp lông tơ của con hải âu mới hơn bốn tuần như lớp áo khoát thưa mỏng, làm nó cảm thấy se sẻ lạnh; theo thói quen nó làm nũng gọi mẹ:

– Chíp!

Không nghe tiếng cha mẹ đáp lời, nó thử gọi nho nhỏ thêm một lần:

– Chíp!

Lắng nghe, cũng chỉ nghe tiếng quang quác của hàng xóm chung quanh mà thôi. Vậy là mẹ đã cùng cha bay tìm mồi chưa về. Thiếu hơi ấm của mẹ, nó khẽ nhúc nhích bàn chân, để đưa thân người nó rút sát vào cạnh tường, cho bớt lạnh. Bây giờ, nó không còn là con chim lon con, hay chui rúc trong cánh mẹ nó, như lúc mới rời vỏ trứng. Bốn tuần qua nhanh. Nó lớn cũng nhanh; như người ta nói: nhanh như thổi. Hôm qua, lúc đứng gần mẹ, nó ngoái cổ nhìn, thấy mình cao gần bằng mẹ rồi. Đang sức lớn, nó cứ chim chíp kêu đói, làm cả chim cha và mẹ phải vất vả cùng bay tìm thức ăn cho nó no bụng hơn.

Hít!

Hít!

Khứu giác bén nhạy của con chim biển, có khả năng phân biệt mùi thức ăn từ ngoài xa, xa đến cả chục cây số; cho nó biết ngay là có cá trích quanh đây, chắc chắn là thật gần. Nó ngẫm nghĩ:

– Sướng nhỉ! bên ấy, sáng sớm đã được cha mẹ cho tiệc cá trích rồi!

Dù chỉ được ăn qua có một lần thôi, là nhớ mãi. Mùi vị cá trích thật độc đáo, từ khứu giác đánh động vị giác thật nhanh, làm nó thèm thuồng món cá thơm ngon và béo ngậy ấy quá và đôi mỏ tự dưng há mở. Trong cái lim dim buồn ngủ, nó chợt nhận ra cái mát lạnh trơn láng của lớp da cá trích.

Chả lẻ, một con cá từ hàng xóm phóng vào miệng nó?

Không cần biết!

Bài học phản ứng để sinh tồn của một hải âu dạy nó nhanh chóng kẹp đôi mỏ, gắp giữ miếng mồi ngay tức khắc.

– A! cá trích thật ư?!

Nó ngạc nhiên mở choàng mắt ra và thấy chính mẹ nó đang gắp con cá mớm vào miệng nó.

Chíp!

Chíp!

Tiếng chim chíp vồn vã đầy thích thú của nó, xen lẫn giữa những miếng cá thơm ngon, nuốt vội vàng. Giờ thì, tiếng nó kêu có nhỏ hơn tiếng bọn trẻ hàng xóm đâu!

Nó nghe người lớn than với nhau, dạo này khó kiếm thức ăn. Vùng biển gần đây, số lượng cá trích bị hao hụt trầm trọng; ba năm nay, người ta không được phép đi đánh lưới cá trích. Tàu đánh cá chỉ mang về bến các giống cá lớn và tôm mà thôi. Đàn hải âu trong xóm, bay ra bến tàu ở Steveston chỉ tranh nhau vớt vát mấy con tôm vụn, mấy con cá cỏn con bị rơi rớt, hay người ta quăng bỏ đi. Hiếm khi mới gắp được con cá trích…

 

Thoáng cái, phần ăn sáng mẹ mang về đã hết sạch.

Chăm lo món ăn cho con xong, hải âu mẹ vươn nhẹ cặp cánh rồi xếp gọn vào bên thân mình. Mẹ nó khoan thai bước lên trên chóp cao, nơi hai mái che gặp nhau. Đứng tần ngần một lúc, nó ngước lên đáp lại tiếng gọi đàn trên cao.

Quác! Quác! Quác!…

Ngoái cổ nhìn con còn đang đủng đỉnh bám theo sau, bà vươn đôi cánh dài, đập nhẹ vài cái đã thấy bà bay sang đứng gọn gàng trên đỉnh của cột cờ gần bên.

Hình ảnh con chim trắng lẳng lặng đứng chơi vơi trên cao, trông yên bình, thanh thoát; nó ngước nhìn mẹ nó: thần tượng!

Rồi, thoáng cái, cặp cánh sải dài, thật đẹp, khoan thai đưa mẹ nó bay lên cùng đàn hải âu đang bay lượn trên nền trời. Thanh thoát quá!

Nó mong chờ một ngày, lớp áo khoát màu tro trộn bùn đen của những con chim mới lớn, sẽ được thay bằng lớp lông vũ màu trắng cùng cặp cánh dài màu xám nhạt, như cha mẹ cùng đàn chim biển trên cao ấy.

Anh chàng hàng xóm, lớn hơn nó hai tuần, bảo rằng, nếu tụi nó bay lên trên cao như thế, sẽ thấy được cảnh bến tàu nhộn nhịp, nhất là khi ghe tàu đánh cá về bến và biển ngoài khơi xanh tươi, thật đẹp.

Nó tin anh ta!

Nó mơ được thấy bến tàu, nơi có nhiều món cá tôm, có đủ các thứ thức ăn mà nó chưa từng được nếm qua. Nó mơ được thấy màu xanh của biển nước, nơi có những đàn cá ngon béo. Mùi biển mặn nồng, đầy mê hoặc, thật gần, rất thực, không phải trong mơ, không phải là huyền thoại. Nó hít những hơi dài, sảng khoái, tưởng tượng như mình đang bay trên biển. Hải âu con mơ một ngày, nó sẽ tung đôi cánh bay lên trên cao ấy để nhìn xuống quả địa cầu và Tây Bắc Thái Bình Dương không xa, chưa đầy mươi cây số từ tổ ấm này.

Là một con chim biển, nó biết: nó phải tập bay, phải biết bay!

Chỉ có những hải âu biết bay và bay trở về tổ ấm được mới thật sự là loài chim biển!

Cho dù thế giới quanh mình, có nhiều nguy hiểm rình rập hay đe doạ; hải âu chúng nó, phải can đảm bay lên, phải vượt qua những nỗi lo âu: sợ thất bại. Trong cuộc đời, sẽ có rất nhiều lý do để hạnh phúc, đó là can đảm khám phá và đối đầu với thử thách, để cuối cùng đạt lấy được một điều vô cùng quý giá: Chỉ những kẻ thực sự dám thì mới có thể bay!

Tiếng hải âu gọi đàn trên cao thúc dục nó đập cánh, bay lên làm con chim biển.

Nó rướn cao cổ để phát ra những âm thanh non nớt:

– Chíp! Chíp!

Chỉ những kẻ thực sự dám thì mới có thể bay! Châm ngôn của hải âu.

Mấy ngày nay, mỗi khi có cơn gió lùa đến, nó tập phóng người bay lên; hai ba chập cánh, năm bảy chập cánh rồi rớt xuống. Nó không nản lòng mà hứng thích lắm. Bước đến khu cầu thang, nhìn mái che nghiêng nghiêng bên trên, nó nhún nhún đôi chân nhỏ và mơ ước. Đứng trên ấy chắc chắn chưa thấy bến tàu ở Steveston, chưa thấy biển khơi, nhưng nhìn xuống thành phố có lẽ cũng rất lý thú. Nó sải đôi cánh, đứng ngước lên ngắm những đôi cánh trắng trên nền trời xanh đầy tự tin.

Gió từ bến tàu lùa vào, mang theo vị mặn của biển.

Chíp! Chíp! Chíp! Chíp!….

Mỗi tiếng kêu khuyến khích lấy mình là một đập cánh. Nó phóng chân; vừa chạy, vừa nhảy phóng lên lấy trớn, vừa đập mạnh đôi cánh.

Nóc nhà tụt thấp xuống bên dưới, con chim non bay cao lên.

Chíp!

Bay lên!

Chíp!

Bay lên!

Nó không biết mình đã đập cánh được bao nhiêu lần. Nó chỉ biết, thân nó càng lúc càng nặng hơn. Lúc này, nó thấy được mái che cầu thang đang ngang ngang tầm mắt. Người ta mới thay mái kim loại vài tuần trước; mái che nằm nghiêng đón ánh mặt trời, sáng loé lên mỗi khi nó vỗ cánh bay lên. Con chim con hết sức lực để chíp chíp. Đôi cánh không còn khả năng để đập mạnh, để đừng bị rớt xuống. Nó cảm thấy đuối sức. Nhìn xuống xem mình bay lên được bao cao, nó thấy đôi chân buông thõng mỏi mệt của mình vừa vượt lên bên trên mái che.

– Chíp!

Nó khẻ kêu lên vui mừng và cố gắng đập cánh để bay ngang vào phía trong. Ráng thêm vài chập cánh; nó cảm thấy, chừng như mình có bay vào được chút ít. Nó vươn cánh lần nữa; nhưng đôi cánh bây giờ bỗng dưng như bị co rút lại, không sao xoạc rộng ra được. Nó ráng đập cánh xuống và rướn dài cổ ra để bay xa thêm vào. Mặc tình cho nó đập cánh; đôi cánh không còn sức để nâng cái thân bổng nhiên nặng trĩu, nặng kinh khiếp.

Đành chịu. Nó buông xuôi…

Nó không đáp. Nó bị rớt xuống.

Bang!

Thân mình nó đập mạnh lên mái che, rồi theo độ dốc của mái che mà tuột xuống. Nó cố bám bàn chân lên mặt kim loại trơn trợt, hối hả đập cánh, đập cánh trườn lên.

Vụt! Vụt!

Khối xương thịt theo độ dốc của mái che mà trượt dài xuống, bay vụt qua khỏi nóc toà nhà, và rồi đập mạnh lên mặt sân tráng nhựa của bãi đậu xe bên dưới.

Phịch!

Nằm yên một lúc, con chim con mới tỉnh lại. Cảm giác đau đớn cho nó biết mình còn sống, nhưng chưa là con chim biển như nó mơ ước. Nó khẻ kêu lên:

Chíp!… Chíp!… Chíp!

Tiếng kêu rời rạc, yếu đuối.

Nó lắng nghe; mong sao nghe được tiếng kêu quen thuộc của ba mẹ nó. Bầu trời vắng lặng. Cao bên trên, không còn tiếng quang quác của những con hải âu trong xóm. Ba và mẹ nó chắc đang cùng đàn chim biển bay trở lại bến tàu tìm thức ăn.

Chợt nghe tiếng chân bước rầm rập và tiếng con người oang oang, nó hé mở mắt. Nhìn đám đông con người đứng thật gần, trông bọn họ to lớn kinh khiếp quá. Thế nhưng, họ có vẻ tò mò, muốn giúp nó; không ai có ý định làm hại nó. Tiếng họ nghe quen thuộc lắm; chắc những người này là nhóm công nhân hay ngồi nghỉ giờ cà phê và ăn trưa. Họ thường tụ họp, chuyện trò ồn ào ngay bên dưới xóm nó. Người ta đang lom khom nhìn nó, bàn tán lắm điều về con chim con đang nằm trên mặt nhựa đường.

– A! Nó còn sống!

– Khiếp! mình mà rớt từ trên ấy xuống chắc chết mất!

– Còn sống cũng tàn tật…

– Chim mà!

– Chim mà sao không biết bay?

– Nó cũng phải tập bay chứ…. Chẳng lẻ cứ đập cánh là bay ngay à!

– Nó bay thế nào mà lại nằm đây nhỉ?

– Hay là, ai đó… bắn nó!

– Không đâu! có thấy vết máu nào đâu, James.

Anh chàng trẻ tuổi tên James gật gù:

– Ừ!…

Người đàn ông to con, râu tóc bạc xám và bù xù trông dữ dằn nhất trong đám, nãy giờ chỉ đứng hút thuốc nhìn nó, giờ mới ồm ồm lên tiếng:

– Hải âu con tập bay đấy mà! Mùa này tụi nó bị rớt từ tổ xuống là thường.

Lão già hất mặt lên nóc khu phố cao tầng:

– Tổ nó chắc nằm trên đấy…

Rồi ông ta ngập ngừng, như không muốn lập lại cho nó nghe một quy luật rất là khắc nghiệt của hải âu:

– Nó phải… bay,… để… trở về tổ!

 

Lão ấy nói rất đúng…. “Nó phải bay, để trở về tổ!” Nó nghe tủi thân lắm.

Con chim biển nhỏ chợt nhớ ra mình vẫn còn đang nằm co ro. Trước khi bay về đàn, nó phải đứng vững trên đôi chân mình. Nó cựa mình đứng dậy.

Chíp!

Đau! Chân phải đau buốt, cứ co rút lên, không sao duỗi ra được. Nó gượng gạo đứng, cổ rụt lại đau đớn.

– Chúa ơi! Trông như chân nó bị… gãy!

James, kêu lên lo lắng.

Nó cũng lo lắng. Nó mong cho cái chân ấy chưa gãy, như anh ta nghĩ.

Đứng yên một lúc, cảm thấy cái chân đau có chút ít dễ chịu, nó ráng chịu đau, duỗi duỗi cái chân ấy cho thẳng ra thêm. Bàn chân vừa chạm lên mặt đường, nó đứng yên đấy; như để làm quen với cách giữ thăng bằng trên một chân…

– Ôi, tội nó quá!

Có ai đó kêu lên, xót xa cho nó.

Bước khấp khễnh, đôi ba bước thì phải dừng và co rút chân phải lên. Nó đứng ngả nghiêng, nhóng cổ, ngước nhìn lên nóc căn phố. Tổ ấm của nó nằm ngất ngất trên cao. Nó chạnh lòng lo âu: đường về tổ ấm không xa, nhưng… cao quá!

– Chíp!… Chíp!…

Tiếng chim chíp của con chim biển non nớt, rời rạc; nghe như tiếng kêu than đau đớn.

Nó nằm phịch xuống trên mặt đường, rục cổ sát vào thân mình. Hải âu con trông như như một khối thịt bọc lớp lông xám, gần như bất động; thỉnh thoảng những nhịp thở yếu ớt làm thân hình nhấp nhô khe khẻ, báo cho những người chung quanh biết: nó là một sinh vật còn thở, còn sống…

  1. Tìm Về Tổ Ấm

Hết giờ nghỉ, đám đông con người tản mát, họ trở về với công việc của mình. Chốc sau, một mình James quay trở lại bên con chim biển. Anh ta e dè đưa cái thùng giấy chậm chậm đến gần nó:

– Chim con!… đừng sợ… đừng sợ…

Anh ta nói gì thì nói, nó sợ!

Nó sợ hãi, căng mắt nhìn chầm chầm cái thùng của anh ta. Nhìn cái không gian u tối giữa năm vách thùng giống như ngục tù giam giữ, nó sợ lắm. Nó muốn chạy đi, tung cánh bay lên, nhưng bất lực. Nó không đứng dậy được, thì làm gì mà bay lên như nó muốn.

– Ngoan này!… Để tao giúp… đưa mày vào chỗ an toàn….

Vừa nói, hai bàn tay James vừa nâng thân nó lên và đưa vào nằm trong thùng.

Chíp!… Chíp!… Chíp!… Chíp!

Nó chỉ có thể kêu lên kháng cự, thân thể buông xuôi cho bàn tay con người đưa mình vào nằm gọn trong thùng.

James đem cái thùng chứa nó vào trong căn trại dành gần đấy; căn dặn:

– Đừng đi đâu hết!

Nó muốn đi cũng không đi được. Chợt nghe có tiếng quang quác quen thuộc trong xóm nó, ngay bên trên; nó đoán rằng, đây là nơi nó nghe người  ta ồn ào cười nói trong những phút nghỉ giải lao, trong những ngày không mưa to gió lớn.

Nó kêu tìm mẹ; nhưng mẹ và cha nó đang nơi nào đó xa xôi, không nghe tiếng con mình. Nằm rúc vào mớ vải vụn trong thùng, nó nghe đau đớn trong thân thể, đau đớn trong lòng; lắng nghe tiếng quang quác trong xóm, thật gần bên trên mà đường bay tìm về tổ ấm thì mịt mờ, u ám, như bên trong khung thùng giấy này….

Tiếng con người ồn ào đánh thức nó. Người ta ra đây, chuyện trò giờ ăn trưa. Có mùi cá thật gần. Bàn tay to thô kệch của lão già râu bù xù đưa vào cho nó lon cá hộp. Nó gắp ngay một miếng. Người ta ăn cá nấu chín. Mùi vị cá chín không tệ, nhưng không bằng con cá trích sống của mẹ nó mang về hồi sáng này. Đang đói, nó gắp, xốc mớ cá có cái vị mặn mặn nuốt vào.

Người ta kháo chuyện hải âu.

Chuyện rằng, ngày xưa có một tổ chim, gồm ba con, trên hàng cây gần bãi biển. Ba con chim khác hẳn trong loài chim. Chúng có bộ lông lấm chấm, hỗn hợp các màu xám đậm nhạt, một cách không đẹp mắt cho lắm, trông không được sạch sẽ. Mỏ trên thô kệch và cong quặp. Đôi chân có màng để bơi. Người ta thấy, mấy con chim nầy không bay đi đâu xa, chỉ tìm mồi quanh quẩn trên bãi biển, gần bên dưới tổ.

Một hôm, tàu đánh cá về bến. Trên tổ, gia đình chim vui mừng và nôn nao chờ cho người ta xúm xít mua bán cá xong, để xuống tàu tìm thức ăn.

Khi mặt trời đứng bóng, hết người đến mua hải sản. Những thuỷ thủ, sau khi dọn dẹp lưới gọn gàng, họ kéo nhau tản mát lên tiệm quán bên trong chợ, để ăn uống, để mua sắm lương thực, để ra khơi tiếp. Đang mùa cá trích, người ta bận rộn đánh cá kiếm tiền. Ba con chim bèn lợi dụng lúc tàu vắng bóng người, bay sà xuống tìm cá vụn và tôm tép rơi rớt trên tàu. Cùng nhau thưởng thức cá trích và các món hải sản đến thoả thích.

Chim con mới biết bay; lần đầu được theo cha mẹ xuống kiếm ăn trên tàu, nó thích lắm, vừa kiếm ăn, vừa tò mò nhảy lanh quanh xem tàu cho biết. Người ta sơ sót, đậy nấp hầm cá không kín. Nhìn theo vùng ánh sáng xuyên qua khoảng trống, nó thấy ánh vảy bạc lấp lánh trên những con cá trích còn tươi trong hầm, thật hấp dẫn. Nó không chần chừ, vừa thèm món cá trích tươi, vừa thích mạo hiểm; nó phóng lên cạnh nấp hầm, rồi khom xuống, bay ngay vào trong hầm chứa cá. Nó khoan khoái vô cùng, khi đôi chân đáp lên trên những thân cá trích cứng chắc còn mát lạnh.

Nó gắp một con rồi bay lên.

A!

Lúc chui cái thân qua khoảng trống, rồi bay xuống thì quá dễ; nhưng nó không ngờ, khi bay trở lên xuyên qua lỗ trống, có khó hơn nhiều. Khép cánh cho vừa lọt qua khoảng trống, thì nó bị rớt xuống. Bay lên, rồi rớt xuống; càng lúc nó càng thêm lúng túng và lo sợ, nó rối rít kêu cầu cứu cha mẹ nó.

Bỗng thân tàu lắc mạnh, nghiêng ngả từ bên này sang bên kia, theo những cuộn sóng lớn đùa vào.

Két…. Kẹt.

Nấp hầm bị dao động chạy đùa vào; đột ngột khép lại. Góc ánh sáng bên trên chỉ còn là khe hở hẹp.

Nó kêu lên kinh hoảng, đập cánh bay lòng vòng trong căn hầm gần như tối đen, để tìm lối thoát; để rồi mệt mỏi đáp lên trên những con cá dưới đáy hầm.

Nghe tiếng cha mẹ bên trên gọi tìm con, nó kêu lên đáp lời. Ba con chim rối rít gọi nhau, trong lo âu.

Sóng đến, sóng đi; tàu lao chao mà chẳng thấy cái nấp hầm di chuyển trở ra. Rồi tiếng chân người rầm rập trên sàn tàu. Nó lắng tai, không còn nghe tiếng cha mẹ. Nó kêu lên trong tuyệt vọng.

Máy tàu chạy ầm ĩ, sóng vỗ đì đùng vào mạn tàu; con tàu ra khơi….

Tiếng động mạnh nơi nấp hầm, ánh sáng chói chang tràn ập xuống. Nó tỉnh ngủ, vội vàng đập mạnh cánh bay lên ngay.

Người mở nấp hầm giật mình né tránh và ngạc nhiên nhìn theo con chim, từ dưới hầm bay vụt lên. Nhưng người ta không quan tâm cho lắm, với mấy con chim hay bám theo tàu để kiếm mồi, lấy vợt vớt cá lên làm thức ăn. Đứng trên mui tàu, nó nhìn quanh quẩn và vui mừng cho mình được thoát khỏi hầm cá.

Trời về chiều. Con tàu đang chạy vào một hòn đảo. Người ta neo tàu nơi đây, tránh sóng gió để nghỉ qua đêm nay.

Chim con không dám bay vể tổ ấm, nó bám theo chiếc tàu, chờ tàu quay về bến, nơi có tổ ấm của gia đình nó.

Sáng lại, thấy thuỷ thủ kéo nhau lên đảo, chim con bay theo.

Đảo nhiều con người quá, người nhiều vô số. Họ là người nước Việt. Đất nước của họ bị một loài quỉ, gọi là quỉ đỏ; bởi chúng dùng loại cờ nhuộm đỏ bằng máu nạn nhân và phết dấu hiệu ngôi sao năm cánh màu vàng để nhận diện. Khi xua quân đi săn con người, bọn chúng thường cùng nhau hò hét những câu khát máu man rợ, như: “thề phanh thây uống máu quân thù.” Những kẻ chịu dâng linh hồn cho quỉ đỏ, tuân lịnh cưởng bức hành hạ đồng loại thì được ăn chia, ban thưởng. Bất cứ ai không tuân phục đều bị xem là tội phạm, là kẻ thù. Người ta đành liều mạng trốn đi; dù rằng họ phải chết, vì bị bắt, vì hiểm nguy trên đoạn đường vượt rừng, vượt biển. Một người may mắn đến được bến bờ tự do, có đến hai người đã phải nằm lại trong đáy biển hay rừng sâu. Những thuyền nhân Việt tạm trú đây, để mong chờ cơ hội được đến một đất nước nào đó, nơi họ được quyền sống như con người.

Mãi bay chuyền từ cành này sang cây khác, con chim biển quên chiếc tàu. Khi nó nhớ lại, thì tàu đã xa, xa mù mịt. Nó không dám bay tìm về tổ ấm. Nó không có nước mắt để khóc cho tuổi thơ bơ vơ côi cút.

Buổi sáng ở bãi biển không đông người.

Con chim biển bước chậm chậm đến gần một em bé gái ngồi riêng rẻ cô độc, tay mân mê những viên sỏi nhỏ; em nói chuyện một mình hay nói với ai đó xa xăm ngoài biển cả:

– Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba

Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị

Viên kẹo lớn nầy để lại cho em

Còn viên kẹo thật to nầy …là phần Bé đấy!*

 

Con chim nhỏ lân la đến gần bé gái, làm quen:

– Ba Mẹ em đâu, sao ngồi đây một mình?

– Còn ngoài biển…

– Em của em đâu?

– Sóng cuốn mất em rồi…

– Chị của em đâu?

– Hải tặc bắt đi đâu không biết…

Nó nghẹn lời, thật gần gũi; cùng nỗi nhớ thương, cùng côi cút.

– Chim có cha?

– Chíp!

– Chim có mẹ?

– Chíp!

– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa!

Bé gái rưng rưng nước mắt nói với con chim biển, rồi lại lầm thầm chia phần kẹo:

– Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
Còn viên kẹo thật to nầy …là phần Bé đấy!*

Người ta nói: em đến từ nước Việt; trên chiếc ghe nhỏ chỉ còn sống sót dăm người. Cha mẹ em đã chết sau sáu tuần trôi nổi. Những người sống sót đã cắt thịt lấy máu thắm môi em. Những giọt máu Việt linh diệu đã nuôi sống em, người con gái nước Việt. Suốt tuần nay, em vẫn ngồi. Ngồi một mình lẩm bẩm. Ngồi ngơ ngác, nhìn ra phía biển xa xôi…

Rồi bé gái nước Việt không còn ra biển ngồi chia kẹo.

Những viên kẹo của em bé đã kết tinh thương nhớ và mong đợi thành những viên sỏi huyền diệu.

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.*

Viên sỏi vuông, sỏi tròn, sỏi nhỏ, sỏi lớn và viên sỏi thật to còn nằm đây trên bãi biển. Người ngoài biển vẫn mù khơi, nghìn trùng xa cách.

– Em bé! chim sẽ mang kẹo của em ra biển tìm Mẹ em!

Chưa bao giờ nó dùng đôi cánh để bay đi nơi nào xa hơn từ tổ xuống bến tàu. Bây giờ nó lại liều lĩnh hứa bay tìm mẹ của em bé gái nước Việt ở ngoài khơi xa mù mịt. Con chim biển gấp viên sỏi tròn. Nó chạy nhanh ra biển và đập mạnh đôi cánh. Nó vượt lên trên cuộn sóng vừa đập mạnh vào bờ. Ngoài xa, biển xanh thẫm, sóng trùng trùng làm nó bồn chồn lo lắng.

Nó đã hứa với bé gái, nó không quay vào!

Cứ bay!

Bất chợt, nó thấy đôi chim bay phía trước.

– Con!

– Con bay theo Ba Mẹ.

Đập cánh mừng rỡ, nó không ngờ còn được gặp lại gia đình.

Thì ra đôi chim thương nhớ con đã liều mình bay đi tìm con. Nhìn đôi cánh của chim mẹ, chim cha, nó không ngờ khi sải cánh thì dài rộng lắm. Nó bắt chước cha mẹ nó sải dài đôi cánh và khám phá ra, chỉ cần vài đập cánh nó có thể nương theo gió để bay cả giờ mới phải đập cánh thêm.

Bãi biển đã khuất phía sau. Ba con chim biển bay vòng trên mặt sóng. Trên biển xanh, đây đó rải rác mảnh ván, vật dụng của con người. Xa xa ngoài kia, chiếc tàu nhỏ bị vỡ vụn, chỉ còn đoạn mũi đen đủi nhấp nhô trên sóng bạc. Không thấy con người. Mẹ của bé gái chắc cùng những con người bất hạnh nằm ngủ trong lòng biển cả nơi đây. Con chim biển lượn thấp xuống, thả viên sỏi tròn vào lòng biển. Nó lướt lên cao, kêu lên trong nỗi thống khổ…

Ba con chim biển cùng nhau bay về tổ ấm nơi bến tàu.

Rồi người ta thấy có thêm nhiều tổ chim quanh bến tàu. Từ đó, nơi bến tàu có loài chim biển, bay lượn trên sóng nước với đôi cánh thật dài và thỉnh thoảng cất tiếng kêu lên những tràng dài quang quác. Có người gọi chúng là chim biển, có người gọi là hải âu. Tiếng kêu của loài chim biển lắm khi nghe thống khổ, như đang chứng kiến những đau thương kinh hoàng của thuyền nhân ngoài biển khơi…

Người ta chuyện trò một lúc rồi trở vào làm việc.

Chuyện hải âu nghe sao buồn quá!

Cuộn mình trong thùng giấy, con chim biển lim dim mơ mộng. Nó mơ, mơ nhiều thứ lắm. Mơ ngày nó biết bay. Mơ ngày bay ra bến tàu. Mơ lúc sải cánh lượn thật cao trên Thái Bình Dương. Mơ một ngày nó sẽ theo đàn, vượt cả chục ngàn cây số đến Biển Đông. Mơ thấy mình đang gắp viên kẹo sỏi mang ra ngoài khơi; mang niềm thương nhớ đến sưởi ấm thân người đã phải nằm lại trong lòng biển lạnh….

Quác!… Quác!…. Quác!…

Chíp! Chíp!

Đúng là tiếng cha nó. Con chim nhỏ mừng rỡ kêu lên.

Quác! Quác! Quác! Quác!

Phía bên kia có tiếng chim mẹ rối rít gọi con.

Có tiếng đập cánh quen thuộc của ba mẹ nó.

Vụt! Vụt!

Chim cha và mẹ bay sà xuống. Theo hướng chim chíp của chim con, đôi chim bước lại thùng giấy, lo lắng nhìn con mình nằm. Hai đứa nó gọi con, rồi quay lưng bước đi, rồi dừng lại thúc dục con mình đi theo. Nhưng chim con không còn đủng đỉnh bước theo cha mẹ như hồi sáng này được. Nó vẫn nằm đó. Tiếng chíp chíp nghe đau thương, khi thấy cha mẹ nó tuyệt vọng bay đi.

Bên ngoài, ánh nắng không còn gay gắt. Trời về chiều. Nhân viên ồn ào chào nhau rời chỗ làm.

Có tiếng chân người lại gần.

Rick, lão già râu bù xù, cúi xuống đặt gần bên nó lon cá hộp.

– Ăn đỡ cá hộp nghen chim con…. Chiều nay, thằng James sẽ xuống bến tàu tìm cá trích tươi….

Mùi thơm của cá, hương vị của biển thật quyến rũ, nhưng sao nó không muốn ăn ngay lúc này. Nó nhìn Rick lấy tấm vải che kín miệng thùng. Con người trông dữ dằn, khó có cảm tình mà giàu tình cảm; ông ta lo gió lạnh lùa vào nơi nó nằm khi đêm xuống.

Tiếng chân của Ríck xa dần. Tiếng cửa đóng nghe sầm sập, ổ khóa khua lách cách… rồi chung quanh nó gần như vắng lặng. Những người tốt bụng, nó được gặp hôm nay, sau cùng đều rời nó; họ phải về với gia đình, tổ ấm của họ. Chỉ có tiếng xe chạy ngoài đường. Chiều xuống, ngay bên trên nó, tiếng hàng xóm hải âu gọi nhau về tổ, quang quác ồn ào làm nó nghe đau nhói trong tim. Tiếng cha và mẹ nó gọi tìm nó thảng thốt. Nó nhớ cha mẹ nó. Nó nhớ tổ ấm. Nó muốn tìm về tổ ấm. Tiếng chim gọi đàn rối rít càng lúc càng thôi thúc. Nó gượng đứng dậy.

Chíp!

Nó khẻ kêu; tiếng gọi đàn yếu ớt, đau đớn. Tiếng cha và mẹ nó vẫn từng chập gọi tìm con mình nghe thảng thốt, đau thương.

Nó ráng sức nhún cái chân còn lại để nhảy từng bước ngắn. Lê lết từng bước ngắn. Rồi nó cũng đến được nơi đã bị rớt xuống hồi sáng này. Con chim nhỏ đuối sức, nó nằm xuống, ngước nhìn lên mái nhà; tổ ấm của nó trên ấy đấy. Nó nằm đó, đau đớn nhắm mắt…

Buổi chiều đi qua thật nhanh. Tiếng chim gọi đàn thưa dần. Không còn tiếng gọi đàn. Đêm đen phủ trùm….

Bước vào sân, thấy Ríck đứng hút thuốc, không vào bên trong uống cà phê như thường lệ; James nghĩ, ông ta trông đón nó với món cá tươi cho con chim biển, bèn lên tiếng chào hỏi và tay đưa mớ cá trích tươi trong túi nhựa lên lúc lắc, tươi cười:

– Kiếm được mớ cá tươi đây!

– Con chim biển đã… bay đi rồi…

Ríck thẫn thờ bảo nó. Nhìn theo ánh mắt ông ta, James lặng người; quanh vết nâu đen trên mặt nhựa đường, mớ lông màu xám của con chim biển còn nắm rải rác. James buông thõng túi cá, thở dài, ngẩn ngơ.

– Ừ! Nó đã tìm về tổ ấm!

Cơn gió buổi sáng vụt đến se sẻ lạnh. Những chiếc lông vũ rơi rớt đây đó khẻ lao chao run rẩy…

 Bùi Đức Tính

……………………………………………………………………………………….

* “Em Bé Việt Nam và Viên Sỏi” – Thơ Trần Trung Đạo

More Stories...