Vô Đề


Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo

Vô Đề là một tập thơ gồm toàn bộ 17 bài thơ không đầu đề của Lý Thương Ẩn mà Con Cò thu thập được trong Google rồi dịch thành thơ Việt. Để phân biệt bài Vô Đề này với bài Vô Đề khác, tác giả ghi câu đầu của mỗi bài ngay sau chữ Vô Đề của bài ấy, khiến có người hiểu nhầm rằng tác giả muốn dùng câu đầu của mỗi bài làm đầu đề.

Mỗi bài đều có lời bàn của Con Cò, mục đích để hiểu thấu thơ của họ Lý. Cò cố gắng dịch thật sát nguyên bản, nhất là văn phong của tác gỉa. Nói cách khác, bài dịch sẽ có mùi LTẨ. Những bài thất ngôn bát cú thì giữ đúng Đường luật (vận, bằng trắc và đối xứng). Những bài thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngũ ngôn thì niêm luật nới lỏng hơn nên dễ xoay xở hơn và vì thế lời thơ sẽ tự nhiên hơn. Còn một tham vọng nữa: cố gắng dịch nét bác học và nét lẳng lơ (cấm kỵ) của thơ LTẨ.

Vô Đề là một đề mục độc đáo của Lý Thương Ấn. Không thi hào nào trên Thế giới đã dùng đầu đề giống như vậy. Gần 1000 năm sau Âu châu mới nghĩ tới loại đầu đề không tên này nhưng chưa dùng cho thơ mà chỉ dùng cho nhạc (synphony n: 1, 2, 3…concerto n: 1, 2, 3…sonata: 1, 2, 3…). Cuối thế kỷ 20 Vũ Thành An mới bắt chước làm dăm bài nhạc không tên đánh số từ số 2 tới dăm ba số nữa.
Dường như họ Lý muốn độc gỉa cùng làm thơ với mình. Ông muốn nhắn rằng: “Bài thơ làm xong rồi nhưng đầu đề thì chưa có. Xin các độc giả điền giùm”. Nếu thế thì thật là kỳ diệu.

Lý Thương Ẩn có tinh thần cấp tiến cao độ. Trong loạt bài Vô Đề này, ông tả những mối tình lãng mạn, những u tình rướm lệ, những tâm sự cay đắng, những hoạt kê bật cười, những châm biếm thú vị. Sex, dưới ngòi bút của họ Lý, là một khai phá cấm kỵ (nó vẫn còn phần nào cấm kỵ ở thế kỷ 21 này). Ông bênh vực cảm nghĩ và cảm giác của người nữ bất chấp sự nghiêm khắc của Tam Tòng Tứ Đức. Mỗi bài là mỗi ngạc nhiên. Mỗi lần đọc là một lần khoái trí! Đọc LTÂ mà bỏ qua Vô Đề là một thiếu sót rất đáng ân hận.
Tiểu sử Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858)
Văn Lý Thương Ẩn có phong cách khôi lệ ỷ cổ, thơ nổi tiếng ngang Ôn Đình Quân, nên người Đương Thời gọi là “Ôn – Lý”, hoặc ngang Đỗ Mục, nên được gọi là “tiểu Lý – Đỗ” (để phân biệt với “Lý – Đỗ” là Lý Bạch – Đỗ Phủ). Vương An Thạch đời Tống khen ngợi rằng người đời Đường học tập Đỗ Phủ mà đạt được mức “phiên ly” (rào dậu, xấp xỉ) của ông, thì chỉ có một mình Thương Ẩn. Dương Ức và Lư Tử Nghi mô phỏng thơ ông làm ra tập Tây Côn thù xướng nên có tên Tây Côn thể. Tác phẩm của ông có Phàn nam giáp tập (20 quyển), Ất tập (20 quyển), Ngọc khê sinh thi (3 quyển); ngoài ra còn một quyển phú và một quyển văn. Tương truyền ông có tình luyến ái với nữ đạo sĩ Tống Hoa Dương và các cung nữ Lữ Phi Loan, Khinh Phụng, nên ông làm bảy bài Vô đề mang tính diễm lệ, bí ẩn.

Thơ ca Lý Thương Ẩn có nhiều nét rất đặc sắc so với truyền thống thơ ca cổ điển Trung Quốc. Ông tiếp thu ảnh hưởng cổ thi, nhạc phủ Hán – Nguỵ và cả cung thể Lương – Trần. Ông cũng học tập ngũ ngôn hiện thực của Đỗ Phủ, phong cách lãng mạn của Lý Hạ cho nên thơ ông khá phức tạp cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật.

Hãỹ trích mộtt đoạn trong Trang thơ Lý Thương Ẩn. Google. thivien.net.:
Đặc sắc nhất trong thơ Lý Thương Ẩn là thơ tình. Với những bài Vô đề, ta thấy được đời sống tình ái của kẻ sĩ đại phu xưa. Lễ giáo phong kiến và chế độ hôn nhân không cho phép tự do, vì thế không thoả mãn yêu đương, họ có nhiều ảo tưởng và khát vọng, hoặc là mang tâm trạng ẩn ức, hoặc là sống phóng đãng buông lung. Thơ Lý Thương Ẩn ít nhiều nói lên niềm mơ ước về hạnh phúc lứa đôi và có tính chống lại lễ giáo phong kiến. Những bài thơ Vô đề của ông âm điệu nhịp nhàng uyển chuyển, tình điệu thê luơng ai oán, niêm luật nghiêm túc chỉnh tề, ngôn từ gọt giũa bay bướm, tạo nên những hình tượng tươi đẹp, sinh động, cảm xúc sâu sắc chân thành. Tuy nhiên do không thể đấu tranh đập tan những gông cùm ấy nên ông cũng như tầng lớp của ông trở nên bi quan tiêu cực, bám lấy hư vô chủ nghĩa, kết hợp với sự suy tàn của thời đại và giai cấp

無題(相見時難別亦難)
相見時難別亦難
東風無力百花殘
春蠶到死絲方盡
蠟炬成灰淚始幹
曉鏡但愁雲鬢改
夜吟應覺月光寒
蓬萊此去無多路
青鳥殷勤為探看

Dịch âm
Vô Đề (Tương kiến thì nan biệt diệc nan)
Tương kiến thì nan biệt diệc nan,
Đông phong vô lực bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ty phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can.
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải,
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ,
Thanh điểu ân cần vị thám khan.

Dịch thơ

Không Đầu Đề (Cùng khó như nhau nỗi hợp tan)
Cùng khó như nhau nỗi hợp tan
Gió đông bất lực để hoa tàn
Tằm xuân đến chết tơ còn nhả
Ngọn nến thành tro lệ vẫn tràn
Sáng ngắm gương buồn màu tóc bạc
Tối ngâm thơ lạnh ánh trăng vàng
Bồng Lai chả biết xa là mấy
Xin mách giùm ta cánh hạc ngàn.

Lời bàn của Con Cò
Thơ của Lý Thương Ẩn còn lại khoảng vài trăm bài. Nhiều bài rất trữ tình và thâm thúy. Bài Cẩm Sắt là một đề tài bình luận bất tận khắp Âu Á trong nhiều thế kỷ. Bài Vô Đê này tuy không nổi tiếng bằng bài Cẩm Sắt nhưng cũng là một bài siêu việt. Tương đối dễ hiểu hơn. Dễ hiểu nhưng vẫn khó dịch. Ngay cái đầu đề (chỉ có 2 chữ) đã không thể dịch bằng hai chữ tương xứng. Từ thanh điểu (chim xanh) trong câu chót muốn nói tới một cánh chim bay cao, có thể đem tin từ xa tới. Không nhất thiết phải dịch cái màu xanh của con chim này. Cụm từ cánh chim ngàn rất thông dụng trong thơ Việt nhưng chữ chim là vần bằng nên thi sĩ Đỗ Qúy Bái đề nghị thay bằng chữ hạc. Bài dịch dùng cụm từ cánh hạc ngàn cho hợp niêm và vận.

Lời thơ rất minh bạch nhưng ý chính của thơ thì chưa sáng tỏ. Thường thường chỉ cần nhìn vào đầu đề của bài thơ là biết được ý chính của tác giả. Nhưng bài thơ này không có đầu đề. Trông giống như có nhưng có cũng như không bởi vì cái gọi là đầu đề chỉ vỏn vẹn có 2 chữ “vô đề”. Vậy thì tùy độc giả, muốn gán cho nó ý gì cũng được miễn là lời gán ghép phải có lý lẽ vững vàng̉.

Dưới đây là lý giải của Con Cò:
Đây là một Cuộc Tình Không Trọn Vẹn. Mỗi câu trong bài mô tả mỗi chi tiết của cuộc tình không trọn vẹn này.
Câu 1: Một cuộc tình mà cả kết hợp và ly tan đều khó khăn. Lý do làm cho kết hợp khó khăn thì đầy dẫy nhưng không phải thứ mà tác giả muốn nêu ra. Lý do làm cho ly tan khó khăn là ý chính thì tác giả không muốn nói thẳng mà chỉ nói bóng gió. Lý do đó nằm ở câu 2.
Câu 2: Vì chàng (gió đông) bất lực (vô lực) để thiếp (hoa) khát tình rồi héo tàn. Bất lực không phải là cái tội mà chỉ là cái tật của chàng nên thiếp không thể vin vào đó mà ruồng bỏ chàng. Nền luân lý cổ kính với tam tòng tứ đức không cho phép thiếp bộc lộ bất mãn chỉ vì chàng bất lực, chứ đừng nói đến ly thân hoặc ly dị. Đó là lý do tại sao ly tan khó khăn (dù thiếp muốn). Chữ vô lực (bất lực) đã hoàn toàn Việt hóa, không cần dịch. Nó là cái chìa khóa cho tất cả 8 câu thơ. Nếu dịch sẽ làm loãng nghĩa bóng của bài thơ.
Câu 3: Thiếp như con tằm mới lớn (tằm xuân), tới chết mới hết nhả tơ. Thiếp sẽ yêu chàng với lòng chung thủy, bền vững, mãn đời (mặc dù chàng có tật bất lực).

Câu 4: (Yêu chàng như thế mà) thiếp phải buồn tủi lâu dài, suốt đời nhỏ lệ, giống như ngọn nến tới khi cháy rụi thành tro mà vẫn nhỏ giọt dài dài!
Câu 5: (Ngày nào cũng vậy), cứ sáng sớm soi gương thấy tóc đổi màu thì thiếp lại buồn.
Câu 6: (Mỗi) tối hễ ngâm thơ là thấy lạnh (người, lạnh tới cả) ánh trăng.
Câu 7: Bồng lai (nơi có tình yêu hoàn hảo) có xa lắm không?
Câu 8: Chim xanh ơi, làm ơn dò tin vui giùm ta nhé!
Một bài thơ trữ tình tuyệt diệu, chứa đựng một u tình mênh mông. Chàng bất lực. Thiếp khát tình. Chàng không phụ bạc mà từng đêm thiếp vẫn nằm co. Thiếp cần một người đàn ông thật sự (khác chàng) mà không được phép xa lìa chàng. Cuộc tình này bên ngoài trông hào nhoáng nhưng chứa đầy nước mắt. Thoạt nhìn không thấy nó thê thảm. Không thấy ai phụ bạc ai. Nó chỉ là một cuộc tình không trọn vẹn. Nhưng than ôi, cái “không trọn vẹn” ấy lại chính là cái cốt lõi của tình vợ chồng. Không là thiếu phụ cùng cảnh ngộ thì không thể trải nghiệm được nỗi buồn này. Thiếp chán ngấy những cuộc tình hào nhoáng, sơn phết bởi ngòi bút tài tình của văn nhân thi sĩ (tỉ dụ như một mái tranh nghèo, hai trái tim vàng v.v..) rất xa vời với thực tế.

無題(待得郎來月已低)
待得郎來月已低
寒暄不道醉如泥
五更又欲向何處
騎馬出門烏夜啼

Dịch âm

Vô Đề (Đãi đắc lang lai nguyệt dĩ đê)
Đãi đắc lang lai nguyệt dĩ đê,
Hàn huyên bất đạo tuý như nê.
Ngũ canh hựu dục hướng hà xứ?
Kỵ mã xuất môn ô dạ đề
.
Chú giải: Bài này học theo lối dân ca “Ô thê khúc, Ô dạ đề” thời Tề, Lương, là một tuyệt tác diễm tình.

Dịch thơ

Không Đầu Đề (Tới lúc chàng về nguyệt đã tà)
Tới lúc chàng về nguyệt đã tà
Hàn huyên chẳng nổi khướt như ma
Canh Năm chả biết đi đâu nữa!
Cưỡi ngựa xuất cung khiến qụa la*

Lời bàn của Con Cò
*Chỉ một câu chót cũng đoán được ý chính của bài này. Câu nguyên bản là: Cưỡi ngựa ra khỏi cửa (làm kinh động để) qụa kêu đêm. Nhưng đó chỉ là nghĩa đen. Nghĩa bóng hấp dẫn hơn nhiều. Phải xét thật tỉ mỉ cả 4 câu thì mới lộ ra cái nghĩa bóng ấy:
Câu 1: Chờ chàng tới qúa nửa đêm (nguyệt đã tà, cũng có nghĩa là thiếp hết ham rồi) mới thấy chàng về. Đã biết chàng thường xuyên vắng nhà đi uống rượu mà vẫn cố chờ. Chờ để làm gì? Chả có việc gì ngoài việc ấy! Đừng vội chê Cò bới lông tìm vết nhé! Thời ấy nếu vợ đi đến nửa dêm mới về thì ắt bị chồng đánh nát thây mà chả ai can ngăn. Còn chồng đi vắng suốt đêm thì vợ cũng chả được phép cằn nhằn (chứ đừng nói tới mắng mỏ). Chỉ có LTÂ mới dám chê bai đàn ông để bênh vực đàn bà nên bị đời công kích. Theo ông, đàn bà cũng có quyền đòi chồng về sớm để làm tình chứ!

Câu 2: Chả hàn huyên được gi vì chàng say khướt. Chữ hàn huyên ở đây chỉ là giả tạo. Đêm nay chàng về qúa trễ, và còn say khướt, vậy thì khờ lắm mới nghĩ tới việc hàn huyên trong lúc này. Họ Lý muốn nói khéo rằng người vợ thức khuya chờ chồng về làm tình. Câu này dịch nỗi tức giận của người vợ bằng 3 chữ khướt như ma!

Câu 3: Canh năm (3-5 giờ sáng) lại bỏ đi nữa! Mớ́i say bí tỉ tới lúc gần sáng (qúa nửa đêm) thi ma men cũng không mò đi uống rượu lúc 3-5 giờ sáng. Nghĩa bóng của câu này sẽ được nói rõ ở câu sau.
Câu 4: Cỡi ngựa ra cửa (làm kinh động) khiến qụa kêu đêm. Tả màn mây mưa rất khéo léo. LTÂ lợi dụng số chữ rất hạn chế của ngũ ngôn để viết một câu thật cô đọng hầu dấu kín thâm ý của mình. Ngựa này là ngựa người! Nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen thì 4 chữ “kỵ mã xuất môn” phải bao gồm những động tác này: chàng bước xuống giường, mở cửa phòng ra ngoài lấy ngựa cỡi đi. Chỉ có 4 chữ mà phải tả nhiều động tác như vậy là qúa tải. Hiểu theo nghĩa bóng sẽ đơn giản hơn: rút ra và lăn xuống chiếu. Vậy thì xuất môn là rút ra, cho nên bài dịch dùng chữ xuất cung. Quạ kêu đêm! Đã 5 giờ sáng rồi, qụa phải đi kiếm mồi cho đỡ đói chứ đâu còn đậu ở đó để kêu đêm! 5 giờ sáng không còn là đêm nữa! Thiếp kêu đó!

Nghĩa bóng của toàn bài khá rõ ràng: Lúc chàng về đã qúa nửa đêm và chàng thì qúa say. Thiếp để cho chàng ngủ tới sáng mới hích chàng dậy. Thế mà chàng chỉ làm qua loa lấy lệ rồi lăn đùng ra để thiếp bực mình la ầm lên!

Chưa thấy bài thơ 4 câu 28 chữ nào (kể cả Đông Tây, kim cổ) tả một màn kịch sống động và tuyệt vời đến thế.
Lý Thương Ẩn suốt đơì long đong chuyện công danh nên xa vợ triền miên. Ông luôn luôn mặc cảm thiếu sót bổn phận với vợ. Ông tự nghĩ lo công danh là bổn phận chung của hai vợ chồng nên ông có quyền được vợ tha thứ. Nhưng những kẻ tối nào cũng say khướt nơi quán rượu, bỏ vợ nằm không ở nhà thì không thể tha thứ được. Vì lý do đó mà hậu thế được đọc bài thơ vô tiền khoáng hậu này.

無題(戶外重陰暗不開)
戶外重陰暗不開
含羞迎夜復臨臺
瀟湘浪上有煙景
安得好風吹汝來

Dịch âm
Vô Đề (Hộ ngoại trùng âm ám bất khai)
Hộ ngoại trùng âm ám bất khai,
Hàm tu nghênh dạ phục lâm đài.
Tiêu Tương lãng thượng hữu yên cảnh,
An đắc hảo phong xuy nhữ lai?

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Ngoài cửa đêm đen thiếp mủi lòng) *
Ngoài cửa đêm đen thiếp mủi lòng
Lầu đêm e thẹn nỗi chờ mong
Tiêu Tương ngọn sóng chùm mây khói
Khi nổi gió lành chàng tới không?

*Bài này hấp thụ được phong điệu dân ca, tình cảm nồng nàn.

Lời bàn của Con Cò

Câu đầu: Ngoài cửa đêm tối đen như mực (thế là chàng sẽ không về đêm nay đâu!)
Câu 2: Lên lầu đêm e thẹn (hàm tu) mong chờ chàng! Ban đêm chờ chồng về là đức tính chung thủy của người vợ hiền thì việc gì mà e thẹn! Cái thú mây mưa hé mở ở câu này. (LTÂ không nghĩ rằng vợ chồng làm tình với nhau là việc đáng e thẹn. Ông chỉ muốn bịt miệng mấy gã hủ nho đạo đức gỉa).
Câu 3, 4: Gió làm sóng lớn trên sông Tương (con sông tình) gây ra mây khói trên đầu sóng. Gió ơi! nếu mi là ngọn gió lành thì hãy cõng chàng về với thiếp. (Chàng mà về theo gió thì nguy hiểm qúa. ngoại trừ cơn gió lành). Chữ lành là chữ bài dịch phải cố gắng bảo tồn trong câu chót (dù thiếu chỗ cũng phaỉ tim cách nhét nó vào).
Rất gợi cảm. Rất tình tứ. Rất chung thủy.

無題(鳳尾香羅薄幾重)
鳳尾香羅薄幾重
碧文圓頂夜深縫
扇裁月魄羞難掩
車走雷聲語未通
曾是寂寥金燼暗
斷無消息石榴紅
斑騅只系垂楊岸
何處西南待好風

Dịch âm
Vô Đề (Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng)
Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng,
Bích văn viên đính dạ thâm phùng.
Phiến tài nguyệt phách tu nan yểm*
Xa tẩu lôi thanh ngữ vị thông.
Tằng thị tịch liêu kim tẫn ám,
Đoạn vô tiêu tức thạch lựu hồng**.
Ban chuy chỉ hệ thuỳ dương ngạn,
Hà xứ tây nam nhiệm hảo phong.

Chú giải: *phiến tài: mảnh vải nhỏ. Nguyệt phách tu: trăng mờ (như e thẹn). **Thạch lựu hồng: hoa thạch lựu đỏ như máu vào tháng Năm. Điển tích: có một nàng sinh giữa tết Nguyên tiêu trên thuyền. Ông bố tên là Thạch, chả biết đặt tên cho nàng là gì. Bà mẹ nhìn lên bờ thấy hoa trên hàng cây lựu đỏ như máu bèn đặt tên cho nàng là Thạch lựu. Điển này chỉ muốn nói rằng đã tới tháng Năm rồi (mà vẫn không có tin tức của chàng).

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Phượng vĩ màn thơm rủ mấy tầng)
Phượng vĩ màn thơm rủ mấy tầng
Thức đêm may chiếc mũ xanh tròn
Nguyệt mờ vải nhỏ khôn khâu đúng
Xe chạy ồn ào át tiếng lòng
Từng ngắm tịch liêu đèn mờ ảo
Chẳng nghe tin tức lửa lựu hồng*
Thùy dương buộc ngựa Ban Chuy đó
Biết gió tây nam ở đâu không?

Lời bàn của Con Cò

Chúng ta có thêm một bài Vô Đề tuyệt vời nữa. Bài thơ thất ngôn bát cú rất cô đọng và khó hiểu.
Hai câu đầu: tả người vợ sang trọng (nhà có màn phượng vĩ và ngựa Ban chuy) thức đêm may mũ xanh tròn (cho chồng).
Hai câu kế: Á́nh trăng thì mờ (nguyệt phách) mà mảnh vải thì nhỏ (phiến tải) nên khó đặt đúng chỗ để khâu. Xe (ngoài đường) chạy ầm ầm như sấm nên không nghe được lời em (có lẽ nàng đang lẩm bẩm những lời ân ái).
Hai câu 5, 6: Em đã từng ngắm cảnh tịch liêu dưới sáng lờ mờ (kể khổ). Đã tới hè rồi (hoa lựu đã đỏ) mà vẫn không tin tức (tiếp tục kể khổ).
Hai câu kết nói lên hoài bão của nàng: Cỡi ngựa Ban Chuy (ngựa qúy) ra rặng liễu (liễu là biểu hiệu của chia ly) cũng chỉ biết buộc ngựa vào cây liễu (để ngóng chàng). Chả biết nơi nào có gió lành từ tây nam (để em nhờ gió đưa chàng về).
無題(昨夜星辰昨夜風)
昨夜星辰昨夜風
畫樓西畔桂堂東
身無彩鳳雙飛翼
心有靈犀一點通
隔坐送鉤春酒暖
分曹射覆蠟燈紅
嗟余聽鼓應官去
走馬蘭臺類轉蓬

Dịch âm
Vô Đề (Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong)
Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong,
Hoạ lâu tây bạn quế đường đông.
Thân vô thái phượng song phi dực,
Tâm hữu linh tê nhất điểm thông.
Cách toạ tống câu xuân tửu noãn,
Phân tào xạ phúc lạp đăng hồng.
Ta dư thính cổ ưng quan khứ,
Tẩu mã lan đài loại chuyển bồng.

Chú giải: Bài thơ này làm năm Khai Thành thứ 4 (839) đời Đường Văn Tông, khi tác giả mới nhậm chức Hiệu thư lang tại kinh thành. Trước đó, Lý Thương Ẩn từng làm Kinh Nguyên tiết độ sứ, là môn khách của Vương Mậu Nguyên 王茂元. Khi vào kinh, Lý Thương Ẩn hoặc chưa, hoặc mới cưới con gái của Vương Mậu Nguyên ít lâu, nhớ tới nàng mà viết hai bài thơ này

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Tối trước đầy sao gió lộng phòng)
Tối trước đầy sao gió lộng phòng
Vẽ lầu tây mỏi ngủ lầu đông
Thân không cánh phựơng bay xa tắp
Lòng có sừng tê để cảm thông
Cách biệt chuốc nhau hơi rượu ấm
Chung vui ánh lửa nến soi hồng
Chao ôi! Tiếng trống quan nha giục
Phóng ngựa lan đài tựa cỏ bồng.

Lời bàn của Con Cò
Bài này vừa lộng lẫy vừa chung tình vừa cảm động. Đây là thơ nhớ vợ làm theo thể thất ngôn bát cú, lời lẽ bay bướm, niêm luật chỉnh tề, ý tứ tưởng như lỏng lẻo nhưng kỳ thực vẫn xoắn quanh đề tài.
Hai câu đầu: Tối hôm qua trời đầy sao, ta (khi thì) vẽ trong phòng họa ở phía tây (khi thì) nẳm trong phòng ngủ ở phía đông, cửa bỏ ngỏ (ở trong phòng mà gió lộng).
Hai câu 3, 4: (ta quanh quẩn như vậy vì nhớ em) thân không có cánh phượng để bay xa tới gặp em nhưng lòng có sừng tê giác (qúy hiếm và cứng rắn) để cảm thông với em.
Hai câu 5, 6: Ta bèn hâm rượu nóng, (mơ rằng) hơi rượu có thể chuốc say cho em ở nơi xa. Ta thắp nến lên, (hy vọng) ánh sáng màu hồng tới chiếu em.
Hai câu kết cảm động nhất: (ta thức suốt đêm như vậy đến sáng, cho tới khi nghe thấy trống trong dinh giục đi làm cũng còn chần chừ, sau cùng thì phải) phóng con ngựa lan đài như bay (nhẹ tựa cỏ bồng) mới kịp tới sở̀.
Cô vợ trẻ của LTẨ đọc bài này ắt phãi khóc hết nước mắt, chả còn than trách chồng bỏ mình chăn đơn gối chiếc theo đuổi danh vọng.

無題(重帷深下莫愁堂)
重帷深下莫愁堂
臥後清宵細細長
神女生涯原是夢
小姑居處本無郎
風波不信菱枝弱
月露誰教桂葉香
直道相思了營益
未妨惆悵是清狂
Dịch âm
Vô Đề (Trùng duy thâm há Mạc Sầu đường)
Trùng duy thâm há Mạc Sầu đường,
Ngoạ hậu thanh tiêu tế tế trường.
Thần nữ sinh nhai nguyên thị mộng,
Tiểu Cô cư xứ bản vô lang.
Phong ba bất tín lăng chi nhược,
Nguyệt lộ thuỳ giao quế diệp hương.
Trực đạo tương tư liễu vô ích,
Vị phương trù trướng thị thanh cuồng.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Mạc Sầu nhà kín bức màn buông)
Mạc Sầu nhà kín bức màn buông
Tối ngủ im lìm đến lạ thường
Thần nữ* ăn nằm là mộng mị
Tiểu Cô* tự tại vắng đàn ông
Chưa tin sóng gió lăng chi* nhũn
Dễ biết sương trăng lá quế thơm
Đã biết tương tư là vô ích
Nỗi đau chưa đổi tiếng điên cuồng.

*Thần nữ: điển vua Sở năm mơ thấy giao hoan với thần nữ ở núi Vu sơn, lúc tỉnh dậy thấy tiếc giấc mơ mây mưa dang dở. Tiểu Cô: nàng Tiểu Cô Thanh Khê, thời cổ đại, suốt đời chọn cách sống tự tại, không chịu lấy chồng. Lăng chi: dây ấu.

Lời bàn của Con C

Bài thơ thất ngôn bát cú vừa kín đáo vừa dí dỏm.
Hai câu đầu: Nàng Mạc Sầu qúa đẹp, lẳng lơ, nhà kín cổng cao tường (hoặc tả một thiếu phụ đẹp, cao sang và lẳng lơ như Mạc Sầu).
Hai câu 3, 4: (Phận hèn như ta đây mà) muốn giao hoan với nàng (mây mưa với thần nữ Vu sơn) thì chỉ là mộng hão thôi. (Nàng đang khát tình nhưng) có thấy gã (bảnh trai) nào lai vãng đến đó đâu! Giống như Tiểu Cô Thanh Khê suốt đời chả được nếm mùi đàn ông.
Hai câu 5, 6: Nằm trong sóng gió thì sẽ biết dây ấu có mềm mại hay không (nằm chung giừơng với ta sẽ biết sự mềm mại, dẻo dai của ta). Đứng trong sương dưới trăng thì không thể không ngửi được mùi thơm của lá quế. (Làm tình với ta thì không thể không biết ngón nghề của ta).
Hai câu kết: Thôi ta biết phận ta rồì. Tương tư thật là vô ích! Thà chịu đau khổ (vì nhớ) còn hơn điên khùng (vì thèm).
Thơ của LTÂ qủa nhiên đi trước thời gian. Rắt hiện thực. Rất táo bạo. Không hiểu tại sao một bài thơ dí dỏm siêu việt như vậy mà các thi sĩ lão thành tiền bối của VN, nổi tiếng phong lưu, mà bỏ qua không thèm dịch!

無題四首其一(來是空言去絕蹤)
來是空言去絕蹤
月斜樓上五更鐘
夢為遠別啼難喚
書被催成墨未濃
蠟照半籠金翡翠
麝薰微度繡芙蓉
劉郎已恨蓬山遠
更隔蓬山一萬重
Dịch âm
Vô Đề tứ thủ kỳ 1 (Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung)
Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung,
Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung.
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán,
Thư bị thôi thành mặc vị nùng.
Lạp chiếu bán lung kim phỉ thuý,
Xạ huân vi độ tú phù dung.
Lưu lang dĩ hận Bồng sơn viễn,
Cánh cách Bồng sơn nhất vạn trùng.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Đi Mất Tăm Hơi Về Hứa Suông)
Đi mất tăm hơi về hứa suông
Canh Năm trăng xế vẳng nghe chuông
Mộng ly biệt mãi kêu không tỉnh
Thư giục mau xong mực nhạt giòng
Ánh nến lập lòe chăn phỉ thúy
Xạ hương thoang thoảng gối phù dung
Chàng Lưu hận núi Bồng xa qúa
Ta cách Bồng Lai cả vạn trùng

Lời bàn của Con Cò

Bài này trách người tình hay đi xa, lại còn hay hứa cuội. Vai chính là một chàng trai (ví mình với chàng Lưu) trách người tình chứ không phải chồng trách vợ hoặc vợ trách chồng (nếu là vợ chồng trách nhau thì không hợp lý vì trong gia đình Á châu người hay đi xa là người chồng chứ không là người vợ). Cô ả này có lẽ giầu hoặc buôn bán giỏi cho nên anh chàng (nhân tình) ức mà vẫn cố bám riết. Hãy xét từng câu để thấy rõ nét ưu việt của bài thơ (4 câu đầu tha thiết nhất).
2 câu đầu: Vào thẳng vấn đề, trách rằng đi thì mất tăm mà hứa về thì toàn hứa cuội. Tuyệt vời!
2 câu 3, 4: Hễ ngủ là mơ thấy ly biệt nên ai gọi cũng không tỉnh. Viết thư cho em thì cố viết cho nhanh nên nét chữ mờ mực. Không thể tha thiết hơn!
2 câu 5, 6: Đêm chờ mong em mà chỉ thấy ánh nến lập lòe chiếu lên chăn thêu lồng chim phỉ thúy (mà hai đứa từng đắp chung) và ngửi mùi hương thoang thoảng từ cái gổi phù dung (mà em vẫn gối). Anh muốn thưởng thức em chứ không muốn những thứ này! Rất ân ái.
2 câu chót: Chàng Lưu ngày xưa than rằng núi Bồng xa xôi. Anh còn cách xa Bồng Lai (xa em) tới vạn dặm.
Nếu cô ả đọc được bài thơ này thì dẫu ai dụ dỗ cho cái kẹo to như cái chày cũng phải từ chối để tức tốc quay về gặp chàng.
無題四首其二(颯颯東風細雨來)
颯颯東風細雨來
芙蓉塘外有輕雷
金蟾嚙鎖燒香入
玉虎牽絲汲井回
賈氏窺簾韓掾少
宓妃留枕魏王才
春心莫共花爭發
一寸相思一寸灰
Dịch âm
Vô Đề tứ thủ kỳ 2 (Táp táp đông phong tế vũ lai)
Táp táp đông phong tế vũ lai,
Phù dung đường ngoại hữu khinh lôi.
Kim thiềm niết toả thiêu hương nhập,
Ngọc hổ khiên ty cấp tỉnh hồi.
Giả thị khuy liêm Hàn duyện thiếu,
Mật phi lưu chẩm Nguỵ vương tài.
Xuân tâm mạc cộng hoa tranh phát,
Nhất thốn tương tư nhất thốn hôi.


Dịch thơ

Không Đầu Đề (Gió đông nhè nhẹ mưa phùn rơi)
Gió đông nhè nhẹ mưa phùn rơi
Ao sen ngoài ngõ sấm xa xôi
Cóc vàng khói toả mùi hương nhẹ*
Hổ ngọc dây tơ múc nước chơi*
Họ Giả ngó rèm viên Hàn trẻ**̉
Mạc Phi trả gối Ngụy vương tài**
Lòng xuân chớ mộng đua hoa nở***
Một tấc tương tư một ngậm ngùi .***

*Đốt hương thơm trong cái bình bằng vàng có hình con cóc. Múc nước giếng với cái gáo bằng ngọc có hình con hổ. Hai câu này muốn nói học làm sang.
**Gã họ Giả nhìn lén qua rèm viên duyện lại họ Hàn. Mạc Phi muốn trả cái gối đầu lại cho Ngụy vương tài ba. Hai câu này muốn nói tình yêu mãnh liệt (HXT sẽ giải thích hai điển này).
***Hai câu chót muốn nói lòng tuy đam mê nhưng đừng tranh đua với hoa nở bởi vì một tấc tương tư là một tấc tro tàn (vì phải hợp vận nên dịch là ngậm ngùi)

Lời bàn của Con Cò

Bài này là thơ gửi cho vợ hoặc ít nhất cũng viết để nếu vợ đọc được thì sẽ hiểu thâm ý của mình. Những chữ cóc vàng, hổ ngọc ngụ ý vợ là con nhà quan. Những điển tích họ Gỉa và Mạc Phi ngầm nói rằng vợ cũng là thi nhân.
Hai câu kết thật hữu tình: Thôi! Anh không dám chạy đua với hoa nở đâu. Tương tư đau đớn lắm em ơi! Một tấc tương tư là một tấc tro tàn đó.
Rất bác học. Rất thi vị. Rất chung tình.
Góp ý của Hoàng xuân Thảo: Câu 5 và 6 nói tình ái có sức quyến rũ mãnh liệt, theo điển tích: Giả Thị là con Giả Sung, dưới quyền Sung có Hàn Thọ làm chức duyện lại, Giả Thị thường đứng sau rèm liếc tình Thọ, hai người tư thông nên Giả Sung phải cho họ lấy nhau. Còn Mạc Phi tên là Đào Chân cùng Tào Thực có tình với nhau nhưng Tào Tháo lại gả cho Tào Phi là anh tức Ngụy Văn đế. Mạc Phi vẫn không quên Thực, bị dèm pha phải tự sát nhưng gửi chiếc gối lại cho Ngụy Vương tứcTào Thực. Khi Thực vào chầu, Phi đưa chiếc gối cho Thực, Thực ôm gối khóc.

無題四首其四(何處哀箏隨急管)
何處哀箏隨急管
櫻花永巷垂楊岸
東家老女嫁不售
白日當天三月半
溧陽公主年十四
清明暖後同牆看
歸來輾轉到五更
梁間燕子聞長歎
Dịch âm
Vô Đề tứ thủ kỳ 4 (Hà xứ ai tranh tùy cấp quản)
Hà xứ ai tranh tùy cấp quản,
Anh hoa vĩnh hạng thùy dương ngạn.
Đông gia lão nữ giá bất thụ,
Bạch nhật đương thiên tam nguyệt bán.
Lật Dương công chúa niên thập tứ,
Thanh minh noãn hậu đồng tường khán.
Quy lai triển chuyển đáo ngũ canh,
Lương gian yến tử văn trường thán.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Đàn sáo buồn tênh nơi đâu đó?)
Đàn sáo buồn tênh nơi đâu đó?
Thùy dương xanh bến đào tươi ngõ
Nhà Đông gái ế chẳng ai ngó
Giữa tháng ba ngày xuân đến độ
Lật Dương công chúa trăng vừa tỏ
Thanh minh ấm áp cũng chơi xuân
Khi về trằn trọc tới canh năm
Xà nhà chim én nghe than thở!

Lời bàn của Con Cò

Bài thơ trào phúng thất ngôn bát cú nhưng không theo Đường luật. Những chữ cuối câu gieo vần trắc trắc trắc trắc trắc bằ ng bằng trắc. Bài dịch đáp ứng toàn vận trừ câu 6 và cố giữ ý trào phúng (ý chính).
Ý toàn bài: Khi xuân về, đàn sáo vang vọng đó đây, dương liễu xanh trên bến sông, hoa đào tươi nơi ngõ hẹp. Khi tới tuổi dậy thì, Các cô gái, từ cô gái ế chồng nhà họ Đông tới công chúa Lật Dương mới 14 tuổi cũng đua nhau đi chơi Thanh minh (để kiếm chồng). Khi về, buồn bã than thở (vì khát tình) mà chả ai thèm nghe, ngoại trừ con chim yến nhỏ đậu trên xà nhà.
Chả có thi hào đương thời nào dám tả như LTÂ, nửa hiện thực, nửa bảo thủ.
Rất mới mẻ. Rất dí dỏm. Rất lãng mạn.

無題(八歲偷照鏡)
八歲偷照鏡
長眉已能畫
十歲去踏青
芙蓉作裙衩
十二學彈箏
銀甲不曾卸
十四藏六親
懸知猶未嫁
十五泣春風
背面鞦韆下
Dịch âm
Vô Đề (Bát tuế thâu chiếu kính)
Bát tuế thâu chiếu kính,
Trường my dĩ năng hoạ.
Thập tuế khứ đạp thanh,
Phù dung tác quần xái.
Thập nhị học đàn tranh,
Ngân giáp bất tằng tá.
Thập tứ tàng lục thân,
Huyền tri do vị giá.
Thập ngũ khấp xuân phong,
Bối diện thu thiên hạ.

Chú giải: Bài thơ này ngụ ý rằng tác giả tài hoa nhưng không gặp thời thi thố tài năng của mình. Khuất Phục trong “Ngọc Khê Sinh Thi Ý” nói: “Thiếu niên tài sĩ chẳng gặp vận, cũng đáng oán thán lắm”. Bài thơ hấp thu thủ pháp biểu hiện của dân ca, lời lẽ thanh tân hoạt bát, hàm súc ý vị.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Tám tuổi lén soi mình)
Tám tuổi lén soi mình
Mày ngài biết vẽ sớm
Mười tuổi đi thanh minh,
Phù dung cài quần đẹp.
Mười hai học đàn tranh,
Móng đàn không rời ngón.
Mười bốn trong gia đình,
Mẹ cha chưa hứa gả.
Mười lăm khóc xuân tình,
Xích đu buồn úp mặt.

Lời bàn của Con Cò

LTÂ thường so sánh mình với mỹ nữ, khác hẳn thái độ̣ của giới nho sĩ đương thời. Giới nho sĩ rất kỵ bị so sánh với đàn bà. Thế mà họ Lý hãnh diện làm như vậy. Tư tưởng của ông đi trước thời thế hơn một thiên kỷ. Hèn chi ông bị công kích kịch liệt. Nhưng ông bất cần. Xin đọc chú giải để biết ý nghĩa của sự so sánh và để biết tâm sự mà LTÂ gởi gấm trong bài thơ.
Ai cũng ngậm ngùi cho LTẨ có tài mà không gặp thời. Con Cò nghĩ xa hơn một chút, mừng rằng ông không gặp may nên đời sau mới có những dòng thơ tuyệt vời, xuất chúng. Nếu ông gặp hên, làm quan to, thì đã nát với cỏ cây và đời sau sẽ chả biết LTÂ là ai.

無題(白道縈迴入暮霞)
白道縈迴入暮霞
斑騅嘶斷七香車
春風自共何人笑
枉破陽城十萬家
Dịch âm
Vô Đề (Bạch đạo oanh hồi nhập mộ hà)
Bạch đạo oanh hồi nhập mộ hà*,
Ban chuy tê đoạn thất hương xa.
Xuân phong tự cộng hà nhân tiếu,
Uổng phá Dương thành thập vạn gia.
Đề bài này có nơi chép là “Dương thành”
陽城.

Chú giải:
Bài này rất dễ dịch sai nên cần tra cứu từng chữ:
Câu 1: Bạch: trắng, sáng, đẹp. Đạo: đường. Oanh: quanh co. Hồi: về, quanh co. Mộ: chiều. *Hà: ánh sáng mặt trời xuyên qua đám mây lúc hoàng hôn trông rất đẹp, thơ Việt dịch là ráng. Đường đẹp quanh co nhập vào ráng chiều lộng lẫy.
Câu 2: Ban chuy: ngựa Ban chuy. Tê: hí. Đoạn: dứt, hết. Thất hương xa: xe có 7 mùi thơm. Con ngựa kéo xe có 7 hương thơm ngừng hí
Câu 3: Tự: tự nhiên, tự mình. Cộng: cùng, thêm. Hà: nào? Gió xuân tự nhiên thổi mặc kệ ai cười
Câu 4: Uổng: uổng phí, oan uổng. Phá: phá phách, chọc tức. Uổng cho thành Dương có 10 vạn nóc nhà mà bị chọc chơi.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Đường sáng quanh co ngợp ráng chiều)
Đường sáng quanh co ngợp ráng chiều
Xe thơm ngưng tiếng ngựa Chuy kêu
Gió xuân cứ thổi ai cười mặc!
Chọc giận thành Dương chục vạn lều (nhà)

Lời bàn của Con Cò
Bài thơ thoạt nhìn có vẻ nghênh ngang thách đố nhưng nghiên cứu kỹ từng chữ thì rất phóng khoáng. Nó chỉ mô tả một con đường chiều vô cùng ngoạn mục.
Hai câu đầu: Con đường quanh co đẹp đẽ chìm vào ráng chiều lộng lẫy đến nỗi ngựa Ban Chuy cũng phải ngừng hí để thưởng ngoạn.
Câu 3: Gió xuân mặc sức thổi chẳng ngại ai cười.
Câu 4: Xin lỗi mười vạn nóc nhà của thành Dương nhé! (Ta chỉ đam mê ngắm cảnh thần tiên này thôi) Ta không chủ tâm chọc giận ai đâu!
Lý Thương Ẩn thật là đa sự, chỉ đơn thuần tả một cảnh đẹp chứ có chọc giận ai đâu!

無題(近知名阿侯)
近知名阿侯
住處小江流
腰細不勝舞
眉長惟是愁
黃金堪作屋
何不作重樓
Dịch âm
Vô Đề (Cận tri danh A Hầu)
Cận tri danh A Hầu,
Trú xứ tiểu giang lưu.
Tế yêu bất thăng vũ,
Mi trường duy thị sầu.
Hoàng kim kham tác ốc,
Hà bất tác trùng lâu?

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Mới nghe danh A Hầu)
Mới nghe danh A Hầu
Từ xứ suối trôi thâu
Eo thon không thể múa
Mày dài vẫn u sầu
Nhà vàng làm cho ở
Sao chưa tặng lầu cao?

Lời bàn của Con cò
Bài thơ mượn thân thế của nàng A Hầu để nói về mình. Nàng này eo thon mà không thể múa, mày đẹp mà chứa u sầu. Đã cho ở nhà vàng sao không cho thêm lầu cao.
LTÂ ngụ ý: tôi đã được tri ngộ hậu đãi, ân nhân đã giúp nhau khẳng khái như thế sao không chịu tiến cử tôi lên triều đình để được trọng dụng.
Rất khéo léo. Rất tham vợng.

無題(照梁初有情)
照梁初有情
出水舊知名
裙衩芙蓉小
釵茸翡翠輕
錦長書鄭重
眉細恨分明
莫近彈棋局
中心最不平
Dịch âm

Vô Đề (Chiếu lương sơ hữu tình)
Chiếu lương sơ hữu tình,
Xuất thuỷ cựu tri danh.
Quần xái phù dung tiểu,
Thoa nhung phỉ thuý khinh.
Cẩm trường thư trịnh trọng,
Mi tế hận phân minh.
Mạc cận đàn kỳ cục,
Trung tâm tối bất bình.

Dịch nghĩa
Không Đầu Đề (Soi xà nắng hữu tình)
Hữu tình như ánh bình minh chiếu vào rường nhà,
Xinh đẹp như đoá sen ló khỏi mặt nước.
Chéo quần thêu cánh phù dung nhỏ,
Đầu cài trâm phỉ thuý nhẹ xinh.
Bao lần dệt bức thư dài gởi người,
Nỗi sầu hiện rõ trên nét mày thanh mảnh.
Khuyên người chớ lại gần cuộc cờ,
Trong lòng sẽ buồn khi thấy chuyện bất bình.
Chú giải: Bài thơ mượn lời cô gái thất tình để ký thác nỗi sầu khổ thất ý của tác giả trong hoạn lộ. Trần Bá Hải trong bài “Thơ vô đề của Lý Thương Ẩn có nội dung gì? Nghệ thuật biểu hiện có đặc điểm gì?” in trong “Cổ điển văn học tam bách đề” cho rằng bài này là thơ đáp tặng người vợ. Ông viết: “Người xưa chú rằng: năm Lý Thương Ẩn 26 tuổi, sau khi vào kinh thi rớt khoa thi Bác học hoành từ, có gửi một bài thơ cho họ Vương, vợ mới cưới của ông, có lẽ họ Vương gửi thơ trước cho ông để an ủi việc thi hỏng, nên nhà thơ mới đáp tặng lại.”

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Soi xà nắng có duyên)
Soi xà nắng có duyên
Đẹp tợ nụ hoa sen
Quần thêu phù dung nhỏ
Trâm cài phỉ thúy xinh
Gấm thư đề trịnh trọng
Mày liễu nhuốm sầu tình
Cuộc cờ nên suy xét
Lòng buồn dễ bất bình.

Lời bàn của Con Cò
Xin xem chú giải trước khi đọc lời bàn này. Tác gỉa tả cả tài sắc của vợ và tài năng của mình trong 8 câu thơ này. Hai câu kết nói rằng lúc buồn (có tin thi rớt) thì dễ bất bình nên phải suy xét kỹ. LTÂ có vẻ sợ vợ qúa thất vọng mà thay lòng đổi dạ.

無題(壽陽公主嫁時妝)
壽陽公主嫁時妝
八字宮眉捧額黃
見我佯羞頻照影
不知身屬冶遊郎

Dịch âm
Vô Đề (Thọ Dương công chúa giá thì trang)
Thọ Dương công chúa giá thì trang,
Bát tự cung my phủng ngạch hoàng.
Kiến ngã dương tu tần chiếu ảnh,
Bất tri thân thuộc dã du lang

.
Dịch nghĩa
Vô Đề (Trang điểm như công chúa Thọ Dương)
Người đẹp trang điểm như công chúa Thọ Dương lúc xuất giá,
Mày vẽ hình chữ bát, tô sống mũi màu vàng.
Gặp ta thẹn thò, cứ luôn nhìn bóng,
Không biết thân mình thuộc về khách làng chơi.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Giống như công chúa buổi tân hôn)
Giống như công chúa buổi tân hôn,
Lông mày chữ bát mũi tô vàng.
E thẹn nhìn ta hình liếc bóng,
Chẳng dè ta thuộc khách chơi hoang.

Lời bàn của Con Cò
Bài thơ sặc mùi phong lưu. Mỹ nhân trang điểm kỹ như công chúa Thọ Dương ngày tân hôn. Vẽ xong lông mày hình chữ bát và tô sống mũi màu vàng (vẻ mặt của thiếu nữ vương giả) thì ra tiếp ta. Liếc ta kỹ qúa (như hình liếc bóng). (Nhưng chẳng sơ múi gì đâu vì) em đâu biết rằng ta chỉ là khách làng chơi thôi mà!
3 chữ giá thì trang (trang điểm trong ngày cưới) rất khó dịch bởi vì phải dùng ít nhất 5 chữ Việt mới dịch nổi. Nghĩa của câu đầu: Trang điểm giống như công chúa Thọ Dương trong ngày cưới. Cần gói ghém 11 chữ này trong một câu thất nên phải dịch thoát là Giống như công chúa buổi tân hôn.

無題(長眉畫了繡簾開)
長眉畫了繡簾開
碧玉行收白玉臺
為問翠釵釵上鳳
不知香頸為誰回

Dịch âm
Vô Đề (Trường my hoạ liễu tú liêm khai)
Trường my hoạ liễu tú liêm khai,
Bích Ngọc hành thâu bạch ngọc đài.
Vị vấn thuý thoa thoa thượng phụng,
Bất tri hương cảnh vị thuỳ hồi?

Dịch nghĩa

Vô Đề (Điểm nét ngài xong giục vén màn)
Vẽ xong nét mày dài, vén rèm lụa lên,
Tì nữ thu dọn đài gương ngọc trắng.
Hỏi thử cánh phụng trên chiếc thoa cài đầu,
Không biết cổ người đẹp thơm vì ai?
Chú giải: Hai bài Vô đề Thọ Dương Công Chúa Giá Thì Trang và Trường My Họa Liễu Tú Liêm Khai như không hề có ý gởi gấm gì khác, cũng không giống những bài thơ làm lúc ngao du. Lời thơ hý lộng, có thể là thơ tặng các kỹ nữ.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Tô xong mày liễu vén rèm nhanh)
Tô xong mày liễu vén rèm nhanh
Thu dọn đài gương ngọc trắng xanh.
Ướm hỏi ngọc thoa hình cánh phượng:
Vì đâu người đẹp cổ thơm lành?

Lời bàn của Con Cò

Bài này là một tuyệt chiêu. Gái giang hồ sợ nhất là già và xấu cho nên trang điểm từng giờ. Mặt mày thì có thể soi gương nhìn thấy nhưng cổ và gáy thì không.
Hãy coi LTÂ lợi dụng điều này để tán gái giang hồ. Ông ôm nàng từ sau lưng, hôn nhẹ lên gáy rồi hỏi cây thoa hình cánh phượng cài trên đầu nàng rằng: “Thoa ơi! làm ơn mách cho ta biết vì sao mà cổ của người đẹp lại thơm lành mãi như vầy?”. Chắc chắn nàng đã khóc và đã miễn phí cuộc vui hôm đó cho ông (Cò đoán rằng LTẨ chỉ vì 2 câu thơ tuyệt vời ấy mà được chơi gái miễn phí).
Ngòi bút LTÂ thiên biến vạn hóa cho nên những nho sĩ đạo đức gỉa tuy chống đối mà không thể làm tổn hại thanh danh ông.

無題(萬裡風波一葉舟)
萬裡風波一葉舟
憶歸初罷更夷猶
碧江地沒元相引
黃鶴沙邊亦少留
益德冤魂終報主
阿童高義鎮橫秋
人生豈得長無謂
懷古思鄉共白頭
Dịch âm

Vô Đề (Vạn lý phong ba nhất diệp chu)
Vạn lý phong ba nhất diệp chu,
Ức quy sơ bãi cánh di do.
Bích giang địa một nguyên tương dẫn,
Hoàng hạc sa biên diệc thiểu lưu.
Ích Đức oan hồn chung báo chủ,
A Đồng cao nghĩa trấn hoành thu.
Nhân sinh khởi đắc trường vô vị,
Hoài cổ tư hương cộng bạch đầu.

Chú giải: Tác giả làm bài thơ này vào năm Đại Trung thứ hai, khi rời khỏi Quế Quản, đi đường thuỷ ngang qua Đàm Châu (nay là thành phố Trường Sa), Hình Nam (nay là huyện Giang Lăng) trở về bắc. Bài thơ tả nỗi lòng buồn bã của người nửa đời làm mạc chức (lo việc giấy tờ trong trướng phủ), tuổi cao nhưng sự nghiệp chẳng thành, hoàn cảnh khó khăn, công danh mù mịt. Nhưng đó là nỗi lòng của người không cam chịu để mất tuổi hoa niên, ông muốn thi thố tài sức, vì nước nhà lập công.

Dịch thơ
Không Đầu Đề (Sóng gió ngàn trùng một thuyền chao)
Sóng gió ngàn trùng một thuyền chao
Ở̉ đi chưa quyết định bên nào
Sông xanh đất lở lăn chầm chậm
Cát trắng hạc vàng bước lao đao
Ích Đức hồn oan đền nợ chúa
A Đông cao nghĩa lộng trời sầu
Đời người chả nhẽ long đong mãi
Hoài cổ thương quê tóc bạc mau

Lời bàn của Con Cò
Bài thơ là cả một tâm sự rối bời:
Bốn câu đầu: u buồn cho thân phận, bực bội vì bất công, có tài mà không được thi thố, xui xẻo vì ở giữa hai thế lực đối nghịch nhau.
Hai câu 5, 6: LTÂ than rằng ta là người biết ơn nghĩa (như Ích Đức và A Đông) mà sao không ai cứu giúp để ta long đong cả đởi vậy?
Hai cău 7, 8: Buồn qúa khứ, nhớ quê hương, thương thân thế sẽ làm ta già mau lắm.
Chỉ dùng 56 chữ mà kể lể được những nét chính của đời mình, nói lên được tâm sự cay đắng của bản thân mình và gây súc động cho độc giả thì thật là một qúy hiếm.

無題(聞道閶門萼綠華)
聞道閶門萼綠華
昔年相望抵天涯
豈知一夜秦樓客
偷看吳王苑內花

Dịch âm
Vô Đề (Văn đạo Xương Môn Ngạc Lục Hoa)
Văn đạo Xương Môn Ngạc Lục Hoa,
Tích niên tương vọng đế thiên nha (nhai).
Khởi tri nhất dạ Tần lâu khách,
Thâu khán Ngô vương uyển nội hoa.

Dịch thơ

Vô Đề (Nghe Nói Xương Môn Ngạc Lục Hoa)
Nghe nói Xương Môn Ngạ̣c Lục Hoa,
Năm xưa cùng ước viếng Thiên Hà.
Một đêm khách trọ lầu Tần dám:
Vườn uyển cung Ngô trộm ngắm hoa

Lời bàn của con Cò
Dường như không có tâm sự gì trong bài này. Lúc đầu Cò nghĩ thế nhưng không hẳn thế. Xin coi góp ý của HXT dưới đây.
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo: Xương Môn là tên cửa thành Tô Châu của Ngô Phù Sai, Ngạc Lục Hoa là tên một tiên nữ. Trong bài này LTẨ gợi lại chuyện Phạm Lãi từng mê Tây Thi nhưng buộc lòng phải dâng hiến cho Ngô Phù Sai, nên đôi khi ngắm trộm nàng trong cung Ngô. Họ Lý muốn kín đáo nói đến tình cũ của mình với Phi Loan và Khinh Phụng (Phi Loan và Khinh Phụng là hai cung phi của triều Đường trước khi bị tiến cung đã từng yêu LTÂ).

Cảm đề của Hoàng Xuân Thảo

Tôi tuy không dịch Vô Đề nhưng từ khi Con Cò gửi cho đọc thì thấm thía cái hay của những bài thơ này của Lý Thương Ẩn nên cảm hứng viết ra bài Cảm đề khi đọc Con Cò Nguyễn Văn Bảo dịch trọn bộ chùm thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn như sau:

Vô đề mà lại hóa có đề
Rõ tài viết lách để bao che
Chuyện tình ân ái xưa nay ấy
Không có, đời thôi có nghĩa gì?

Tin tức khác...