Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa công bố kế hoạch áp mức thuế bổ sung 12,5% lên 45 đối tác, trong đó có Việt Nam, vì cho rằng việc thực thi các biện pháp chống lao động cưỡng bức chưa hiệu quả.
USTR cho biết các nền kinh tế này sẽ phải chịu thuế vì không giải quyết được vấn đề nhập cảng hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.
Các mức thuế đề xuất này được đưa ra sau cuộc điều tra do Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer khởi động vào tháng Ba nhằm đánh giá liệu 60 đối tác thương mại của Mỹ có thực hiện hiệu quả việc ngăn chặn lao động cưỡng bức hay không.
“Việc các đối tác thương mại quan trọng nhất của chúng ta không giải quyết vấn đề nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức là điều không thể chấp nhận,” ông Greer nói trong một tuyên bố.
“Điều này tạo ra một tình huống người lao động Mỹ bị buộc phải cạnh tranh trên toàn cầu trong một sân chơi không công bằng.”
Trong số 60 đối tác này, báo cáo kết luận rằng 54 quốc gia và nền kinh tế đã không đưa ra các quy định mang tính ràng buộc đối với nhập khẩu hàng hóa được sản xuất từ lao động cưỡng bước, “đồng thời cũng không thực thi hiệu quả lệnh cấm đó”.
Theo báo cáo, trong 54 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, việc vừa không ban hành quy định pháp lý, cũng như không thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức là “không hợp lý”.
Mức thuế đề xuất đối với 45 quốc gia – trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn– là 12,5%.
Trong khi đó, một số đối tác như Anh, Malaysia, Đài Loan, Indonesia và Liên minh châu Âu chịu mức thuế 10%.
Trong thông báo về việc khởi xướng điều tra, Đại diện Thương mại đã thiết lập một giai đoạn lấy ý kiến công khai và đồng thời công bố các phiên điều trần công khai, diễn ra trong các ngày 28–29/4/2026.
Theo quy định, vào 12/3/2026 – ngày các cuộc điều tra được khởi xướng – USTR đã tiến hành các cuộc tham vấn kín với chính phủ của 46 nền kinh tế đang bị điều tra, trong đó có Việt Nam.
USTR khẳng định Việt Nam đã không đưa ra quy định, cũng như không thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập cảng hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức – và điều đó được coi là “không hợp lý”.
USTR kết luận việc không ban hành và không thực thi hiệu quả lệnh cấm này gây ra gánh nặng hoặc hạn chế thương mại của Mỹ.
Việt Nam cũng thuộc nhóm các quốc gia xuất cảng hàng đầu của ít nhất một mặt hàng có dấu hiệu sử dụng lao động cưỡng bức trong chuỗi cung ứng.
Theo USTR, việc sử dụng lao động cưỡng bức trong sản xuất bông sợi được ghi nhận rộng rãi, và các mặt hàng nhập cảng liên quan bị cấm đưa vào Hoa Kỳ theo luật chống lao động cưỡng bức của Mỹ.