Bùi Đức Tính
Kỳ trước, Chương 5: Đêm Vẫn Đen
– Mình dọt được rồi!
Ngó lên tôi, đang đứng trên mui giữ cần lái, Vũ báo cho tôi biết và gài số cho ghe chạy tới. Bị tàu
biên phòng kè nãy giờ, hai chiếc nằm xoay ngang mà thả trôi. Dòng nước đùa ghe của chúng tôi ngược
ra hướng cửa biển một đoạn khá xa. Tôi đẩy cần lái qua phải, đem mũi quay vòng sang trái; lấy lại
hướng và cho ghe chạy về bến công ty. Anh Ba cuộn dây xong, để trên nắp hầm mũi, rồi đi lên mui, ngồi
cùng băng ghế với tôi. Vũ vẫn đứng chồm người qua khung cửa trổ lên mui. Ba anh em xót xa, ngó
mông lung trong màn đêm.
Đêm tối đen.
Đêm vẫn đen.
Ngày trên quê hương bây giờ là đêm đen.
Ngày qua ngày, ngày đã biến thành những đêm đen dài như bất tận!
Hai bên bờ, đây, đó; vô số lùm cây, bụi cỏ… Vạn vật là muôn vàn hình thù đen đủi, chờn vờn, run
rẩy trong gió… Nơi đây có lẩn trốn, và nơi đây có rình rập để vồ bắt những linh hồn bất hạnh. Quanh
đây không thấy bóng dáng di động của ghe tàu nào khác. Chúng tôi nghĩ đến chiếc ghe, đang bị Ba Thơ
và công an biên phòng lùng kiếm, mà lo lắng cho những người trên ghe. Không còn nghe tiếng súng;
chắc là ghe vượt biên còn đang trốn thoát. Cầu mong sao cho mọi người ra đi gặp được nhiều may mắn,
thoát khỏi móng vuốt của loài quỷ đỏ và đến được bến bờ tự do.
Tự do ơi tự do!
Ngày nào còn cộng sản, quê huơng mình còn lắm ly tan, lắm đoạ đày!
Đây, Chương 6: Chuyến Đi Cuối Năm
. . .
Chuẩn bị cho ghe rời bến, chạy đi lấy nước đá đem giao cho Trạm Thu Mua. Tôi cuốn dây neo lại
cho gọn để cất vào trong hầm mũi, trước khi ra biển. Chợt nghe có tiếng va chạm bên thành ghe,
tôi ngừng tay, và ngó sang thì thấy Hải đang cặp xuồng vào ghe chúng tôi.
Hải ngước nhìn tôi, cười thật tươi:
– Chạy chưa anh Tính!
Tính là tên thật của tôi, nhưng không đúng với tên trên “Chứng Minh Nhân Dân” mà tôi đang
dùng. Là tù chính trị còn bị “quản chế”, tôi bị kiểm soát và phải tuân theo nhiều điều luật khắt khe
của nhà cầm quyền cộng sản. Trong đó có các lệnh: phải trình diện công an hàng tuần, phải khai
báo mọi sinh hoạt cá nhân, phải ở tại chỗ đã quy định, không được phép tự ý ra khỏi nơi cư trú,
v.v… Thế nhưng, tôi đã không thi hành và còn tự ý rời khỏi nơi cư trú. Dùng giấy đi đường của em
trai, tôi trốn xuống ghe để cùng Vũ tìm cách vượt biển. Cho nên, Tính là tên thật mà Hải vừa gọi,
nó khác với lý lịch mà tôi đang dùng. Cùng tên là Tính, nhưng tôi đã là một người khác và ở một
đoạn đời khác biệt. Bây giờ, tôi là dân “đi ghe, đi sông, đi biển", trên chiếc ghe chở hàng với Vũ.
Hai đứa tôi hầu như chân không, áo quần bê bết dầu máy, giống như những người lao động chân
tay quanh khu bến tàu. Thèm nhớ sách báo lắm, nhưng không dám chứa trên ghe hay tẩn mẩn
đọc. Nhờ Vũ che dấu tôi trên ghe, và nhờ chiếc ghe này, tôi có nơi lẩn tránh công an lùng xét. Đây
là mái ấm gia đình của tôi trên sông nước.
Cách điều khiển ghe có phần khó khăn, còn luộm thuộm lắm. Phải có người đứng gần động cơ
mà đạp cần ly hợp để đổi số, giống như chạy chiếc máy cày trên ruộng đồng vậy. Anh Ba và tôi
giữ tay lái trên mui, chỉ có thể gia giảm tốc độ mà thôi. Vũ giỏi về động cơ, đứng bên dưới mui
giúp sang các số chạy tới hay gài vô số chạy lui. Nhưng cũng nhờ ghe là loại mũi bầu, chỉ dùng
chở hàng trong sông. Nó chậm chạp, lại dùng hộp số của xe máy cày, không thích hợp với ghe
tàu. Chiếc ghe này càng khó chạy trên sóng to ngoài biển khơi. Cho nên chúng tôi được cái lợi là
ít bị công an để ý canh chừng về vượt biển.
Không chờ tôi trả lời, Hải nhanh lẹ giới thiệu:
– Dạ, có hai dì này xin có giang ghe đó mấy anh…
Dì Năm tiếp lời Hải, hướng về người đàn bà đang ngồi vịn chặt hai tay vào thành xuồng, trông
như chưa quen sóng nước cho lắm, nói thêm vào:
– Mấy chú mần ơn cho tui… dới lại chị Bảy đây… xin có giang ra ngoài xóm trạm nghen!
Đang kiểm động cơ trong mui, nghe lời qua tiếng lại, Vũ ngừng tay, đứng lên trên hầm máy để
ngó qua khung cửa trổ lên mui xem chuyện gì. Thấy dì Năm là người quen, Vũ vui vẻ mời:
– Dạ! Lên! Lên ghe đi hai dì. Tụi tui phải chạy lợi đằng hãng nước đá ngay bây giờ!
– Ê Hải, mấy đứa bây sao sáng nay lặn đâu mất tiêu hết vậy? Có muốn vác nước đá hay không
hả?
– Dạ, muốn chứ anh! Tụi nó chèo lợi đằng hãng hết rồi. Còn tui thì mắc chở hai dì này lại đây
nè…
Hải lanh lẹ lắm. Nó đã quen nghề chèo xuồng đưa đón khách rồi. Miệng nói, tay Hải lần chiếc
xuồng ra phía sau đuôi ghe, nơi ghe thấp gần với mặt sông hơn cho khách dễ lên ghe. Dân đi
buôn bán như dì Năm thường quá giang ghe tàu xuống cái “Xóm Trạm”. Cái xóm nhỏ có chợ
quán, ở quanh trạm công an biên phòng. Họ tìm mua các thứ như tôm khô, cá khô, đem về thành
phố để bán lại kiếm lời. Dì Năm đi buôn thuờng lắm. Hầu như ghe tàu nào trong đoàn ghe vận
chuyển cũng biết bà dì này. Nhưng dì Bảy thì chúng tôi chưa từng gặp. Nhìn Vũ và dì Năm cùng
giúp cho dì Bảy lên ghe, thì khó tin dì Bảy là bạn theo ghe đi buôn. Bộ dạng nhút nhát, sợ sóng
nước như thế, chắc dì Bảy này vốn là dân chỉ quen sống ở thành thị mà thôi, và là người mới tập
tành đi buôn bán.
Khách đã rời xuồng, không cần hỏi han hay ai kêu bảo, Hải xếp đôi chèo lên xuồng, và rồi gọn
gàng phóng người lên ghe chúng tôi. Nó cột xuồng vào móc đuôi ghe, để chúng tôi kéo chiếc
xuồng của nó theo, cho khỏi mất công chèo đến hãng nước đá. Thấy mọi người đã yên chỗ, tôi
cuốn nhanh tay cho hết cuộn dây và cất vào hầm chứa neo. Dọn dẹp xong, tôi đi tháo lỏng sợi dây
mũi. Chừa một vòng quấn chéo qua cọc, tôi cầm sợi dây ghịt giữ cho ghe đừng trôi. Tôi gọi Vũ
đang đứng chờ trên hầm máy:
– Cho máy chạy được rồi, anh Tư!
Thời còn đi học và ở nội trú, Vũ là một trong tám người ngồi ăn cơm chung một bàn. Sau đó,
Phát và tôi nhập ngũ cùng một lúc, được vào cùng khóa, và cùng Đại đội 32. Vũ cũng vào quân
đội, nhưng theo học bảo trì động cơ trực thăng của Không Quân. Khi tôi rời trại tù gọi là “cải tạo”;
về gặp lại nhau, thì Phát và Vũ tuần tự có vợ và có con. Chúng tôi cho hai ông bạn này lên làm
đàn anh, và hay gọi đùa là “anh Tư”, vì Phát và Vũ đều thứ Tư trong gia đình.
Cái máy dầu cặn khởi động, rồi bắt trớn chạy ngay. Tiếng máy ấm áp, nhịp nhàng, nghe thật
an tâm. Động cơ ghe lấy từ chiếc máy cày cũ, hiệu Fiat 615. Nó có bốn máy, 66 mã lực, thừa sức
đẩy chiếc ghe trọng tải 15 tấn. Có điều, cái máy đã cũ rồi. Hồi tháng trước đây, miếng đệm của
nắp động cơ bị cháy. Ghe phải nằm bến hơn cả tuần để chờ kiếm đồ phụ tùng. Sau khi cộng sản
chiếm miền Nam, mọi thứ từ hạt gạo đều bị kiểm soát và khan hiếm. Đồ phụ tùng cũng rất là khan
hiếm, phải tự chế biến cho có để máy chạy.
Theo hướng dẫn của bạn ghe, Vũ sang Vĩnh Long tìm được người biết làm miếng đệm của
nắp động cơ. Thấy các miếng đệm mới làm xong cho khách, gồm nhiều lớp nhôm mỏng đã cắt và
ép rất tỉ mỉ; khó tính đến đâu, cũng phải thán phục tài khéo tay của ông thợ. Dựa vào tấm giấy đã
đồ theo hình dạng và vị trí tất cả lỗ ốc, đường rãnh trên mặt máy, cùng với miếng đệm bị cháy làm
mẫu, người thợ chế biến miếng đệm mới cho máy ghe. Trong tình trạng khó khăn này, ông chính
là vị ân nhân cho những người sinh sống nhờ vào động cơ, như chúng tôi. Có điều, đồ phụ tùng
được chế biến theo cách thủ công, thì khó mà biết nó sẽ bền được bao lâu. Vũ đặt làm luôn ba
miếng đệm, để có sẵn khi cần.
Anh Ba đã về quê nhà, thăm gia đình mấy hôm nay. Trên ghe chỉ còn hai người. Vũ chạy máy
và sang số, còn tôi coi lái và chịu mũi. Chờ cho máy nóng, chạy đều một lát, Vũ đứng ló người lên
trên mui, tay giữ ga, tay cầm cần sang số, sẵn sàng cho động cơ chạy tới và gọi vọng ra ngoài mũi
ghe:
– Dọt được rồi, Tính!
Nghe Vũ gọi, tôi tháo hẳn dây mũi, lấy sào chống mạnh cho mũi ghe hướng ra ngoài sông, rồi
chạy nhanh xuống phía sau, để leo lên mui mà giữ cần lái. Hải ngồi sau đuôi ghe trông chừng
chiếc xuồng của nó. Chiếc xuồng nhỏ không người, nhẹ bỗng, nhảy lướt trên ngọn sóng, và chạy
ào ào theo phía sau ghe. Ngồi yên lặng, thòng chân đong đưa, đùa với những cuộn sóng vòng lên
sau đuôi ghe một lúc, Hải gợi chuyện với Vũ:
– Anh Vũ biết hông, chuyến rồi, tụi tui chia nhau hổng tới đâu hết á!… Kỳ này…
Vũ đang loay hoay kiểm nước và châm thêm dầu cho máy, nghe Hải than vãn bèn lên tiếng:
– Ba đứa tụi bây, chặt hết bốn năm khúc nước đá của người ta, mà dám nói là hổng tới đâu
hết. Chỉ cần nửa khúc thôi, ba anh em tụi tao có hủ tíu nè, có cà phê sữa đá nè và còn chơi cả
bao thuốc ba số năm… Xạo tổ mẹ! Tới thấy bà, chớ mà hổng tới…, mậy!
Bị Vũ ngắt lời, Hải cười hề hề, rồi kèo nài thêm:
– Hôm nào có chở tôm, anh cho tui hốt một mớ, cho bà nội tui “bồi dưỡng”… nghen anh Vũ.
– Ừ!… Dễ mà! Tụi bây muốn hốt thì cứ xuống ghe mà hốt thoải mái. Sẵn đó mày lên kêu Ba
Thơ xuống đây hốt anh Ba, hốt luôn tao với thằng Tính cho gọn!… Giỡn mặt hoài mậy! Bộ mày
hổng thấy nhân viên trên hãng, tụi nó ngó chừng chừng mấy cái thùng tôm à!
Ba Thơ mà Vũ nói là trưởng phòng vận chuyển hải sản. Hắn có quyền ký giấy cho ghe chạy,
cho mua dầu… Dĩ nhiên là phải theo nguyên tắc phổ thông: đồng tiền đi trước! Cơ quan nào cũng
thế, quan quyền “cách mạng” nào cũng vậy, biết điều mà kèm phong bì và có quà biếu, thì có
nhiều chuyến chở hàng. Ghe vận chuyển vì sinh kế mà ngán Ba Thơ. Đám trẻ chèo xuồng cũng
ớn Ba Thơ lắm, vì hắn khoái đeo súng lủng lẳng đi xuống bến mà hò hét xua đuổi tụi nó. Chúng tôi
đã gặp hắn theo tàu công an đi lùng bắt ghe vượt biên để chia chát tiền vàng của người vượt biển.
Nghe Vũ bảo thế, Hải ngồi im lặng nhìn sóng từ cánh quạt cuộn nước đẩy vào hai chân mình.
Thấy vậy, Vũ tội nghiệp, thân mật lên tiếng:
– Ê Hải, bây giờ thì tao không có tôm, nhưng tao có nồi mực kho nè, chịu thì vô đây… làm
miếng cơm với tao.
Nghe Vũ mời, Hải vui lắm, lẹ làng rút chân lên, lau cho khô chân và chui tọt vào trong mui. Nó
quên mất là phải trông chừng chiếc xuồng của nó, miệng ngọt xớt:
– Dạ! Anh Vũ … Anh Vũ để đó em. Em dọn cơm cho anh Vũ!
Hải sống với bà nội phía bên kia sông. Chúng tôi chưa nghe biết, mà cũng không hỏi về cha
mẹ của Hải. Như các bạn, chỉ trong trạng lứa mười bốn, mười lăm tuổi, Hải đã quen dầm mưa dãi
nắng kiếm tiền phụ với gia đình. Những lúc không có khách, nhóm trẻ chèo xuồng này hay theo
các ghe chở hàng, xin khuân vác hay phụ việc để kiếm thêm tiền. Mấy đứa nó lẹ làng, chịu khó,
khôn lanh hơn tuổi đời. Nhưng lắm lúc, vẫn còn vương vấn nét thẻ thơ, rất đáng thương. Tôi giảm
tốc độ cho bớt sóng, và giúp Hải ngó cầm chừng chiếc xuồng đang kéo theo phía sau ghe…
Đã gần chín giờ sáng rồi mà trông sao u ám quá, chưa thấy ánh mặt trời. Chốc lát chắc phải
có mưa. Sáng sớm, tiết trời cuối năm se sẽ lạnh, lại thêm mưa, mà phải vác nước đá. Chỉ mới
nghĩ tới thôi, đã thấy ngán quá. Ngó chân trời, tôi mong cho mây đen chậm kéo tới.
Tôi cúi xuống nói vọng vào dưới mui:
– Hải!… Vừa ăn, vừa coi chừng chiếc xuồng nghen. Anh phải cho ghe chạy lẹ một chút. Mình
phải ráng tới hãng sớm và xuống hết nước đá trước khi mưa mới được!
Trời mưa thì ướt át và trơn trợt. Cây nước đá cũng trơn và ướt. Tránh bớt được nửa cái khó
khăn thì vẫn hơn. Từ bến đến hãng nước đá, không xa lắm. Xuôi theo con nước, chỉ chạy một
đoạn ngắn chừng mười phút là tới. Và rồi, được cái may là sáng nay hãng chưa có đủ hai trăm
cây nước đá theo yêu cầu. Cho nên khi xuống xong một trăm cây, thì mưa mới bắt đầu lâm râm
rơi hạt.
Mấy đứa chèo xuồng đã theo nhau ra chợ để bán và chia chác mớ nước đá lén chặt được.
Trong ghe chỉ còn Vũ và tôi. Chúng tôi đứng nghỉ tay, đốt thuốc hút cho ấm, rồi phụ nhau che khối
nước đá trên ghe.
– Ra biển mà mưa, thấy chán quá mậy!
Vũ lầu bầu và quay ngó quanh bến. Bến vắng, sáng sớm, chỉ có ghe chúng tôi đến nhận nước
đá. Vũ để tấm ny-lông lên đống nước đá:
– Ê!… Còn một tấm, mày đậy luôn giùm tao cho rồi… Giờ này, mà sao không thấy ai trên công
ty xuống hết! Coi bộ không có đứa nào đi theo ghe mình hay sao á…
Nói rồi, Vũ ngẫm nghĩ:
– Kệ, tao phóng lẹ lên quán lấy hờ một lít rượu…
– Xách đại vài ba lít đi!
Đao phủ “đáng sợ” nhất nước Mỹ
Bài hát “ Ngọc Lan” và mối tình đầu không thành của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Tôi hạ giọng nói thêm với bạn mình:
– Lát nữa, tới trạm biên phòng, tụi công an hay xuống quá giang ra Trạm Thu Mua. Mình có…
mà đổ cho nó ngủ. Để tụi nó thức, cứ lải nhải ba cái đồ “nhất trí”, “hồ hởi”, “phấn khởi”, nghe nó
xốn lỗ tai lắm!
– Ráng nhịn đi mày!
Vỗ vai tôi, Vũ thân mật:
– Tụi mình còn bà con trông cậy, đừng để “hư bột, hư đường”, mậy… Thôi! Tao dọt đi mua
rượu, rồi tụi mình dông.
Vũ thay cho bác Chín, trông coi ghe để chờ cơ hội mang gia đình đi. Xuống đây, nhằm tháng
Ba, biển êm như câu nói “tháng Ba bà già đi biển”, thế mà chiếc ghe vẫn chưa chạy tới đâu hết.
Đã vậy, còn thất bại hết một chuyến định vượt biển rồi!
Bây giờ, Tết lại sắp đến.
Đã biết bao lần chạy ra và rồi chạy vào cửa biển, như hôm nay. Chúng tôi vẫn chưa biết, bao
giờ sẽ là cơ hội ra khơi tìm tự do. Mong chờ và lo lắng cho ngày chạy trốn lắm. Sống gần cửa
biển, tất nhiên có nghe thấy thảm cảnh của đồng bào vượt biên bị bắn chết, hay bị bắt lại. Đêm
nghe tiếng súng ngoài biển, thảng thốt ngồi bật dậy nhìn đêm đen; nghe như có tiếng trách hờn,
xót đau trong lòng.
Trời cuối năm thường không mưa nặng hạt. Nhưng chạy ra hướng cửa biển, chỉ thấy trời âm u
thôi, thì đúng như bạn tôi nói: cũng chán thiệt!
Lúc nước đầy sông thì các cọc đáy bị gãy đứng ngầm bên dưới mặt nước, đón chờ lườn ghe.
Bây giờ dòng thủy triều đổ ra biển. Nước đang ròng thấp xuống làm các cọc đáy đâm đầu lên,
nhấp nhô trên mặt sóng. Mấy cây cọc đáy gãy chưa quá lâu, còn góc cạnh, trông đe doạ hơn mấy
đầu cọc đã lâu năm, đầu nó tròn lẳn. Nhưng vỏ ghe mà cũ kỹ như chiếc ghe này, nếu không may
đụng vào cọc nào thì cũng nguy hết. Cọc đáy dù tròn hay còn nhọn, lườn ghe cũng bị vỡ bể ngay.
Tôi giữ tay lái, vừa xem chừng để tránh và vừa cố gắng ôn nhớ vị trí các cọc đáy. Đây là một trong
ba tuyến đường đã được chọn, và tôi cần ghi nhớ. Để tránh bị phát giác, đêm chạy trốn ra cửa
biển, ghe sẽ phải tránh dùng đèn rọi để dò tìm các cọc đáy.
. . .
Sông nước sáng nay khá vắng. Thỉnh thoảng mới thấy ghe tàu. Phía trước có chiếc xuồng
nhỏ. Người trên xuồng nghe tiếng máy ghe ở phía sau, từ xa đã ngưng tay bơi và nép xuồng sát
vào bờ. Thấy vậy, tôi biết là xuồng chở nặng, đang bị khẳm. Tôi hạ nhanh tốc độ máy xuống thật
thấp, cho đừng dậy sóng khi chạy qua. Nước ròng, dòng sông cạn và hẹp, không thể tránh nhau
xa hơn. Ghe và xuồng thật gần nhau. Cánh áo đã bạc màu, sắc tím lan đây đó phơn phớt, mộc
mạc như cánh bông lục bình ven sông. Bông lục bình sáng nay, sao trông thật yêu kiều!
Ngó sang chiếc xuồng đầy ấp dưa hấu, tôi lên tiếng chào hỏi:
– Cô ơi, dưa đã có mối chưa cô?
Trong màn mưa lất phất, có đôi mắt ngước nhìn lên e dè, ngập ngừng:
– Dạ… Dạ… có rồi!…
– Anh em tui xin mua một cặp dưa để ăn Tết được không cô?
Cô gái kéo nón che đôi mắt, ấp úng:
– Dạ… giao thiếu dưa, Má rầy! … Nhưng… biếu… chú một trái ăn Tết thì được!
Ghe chậm chậm lướt xuôi qua. Tôi nhìn theo xuồng dưa đang xa dần ra phía sau:
– Không sao đâu cô, dịp khác vậy… Cám ơn cô nhiều lắm… À… cô làm ơn cho anh em tụi tui
kính lời thăm chúc Má: sang Năm Mới mua may bán đắt nghen cô!
Bên dưới vành nón lá, nụ cười bẽn lẽn còn mọng ướt hạt nước mưa. Tôi vẫn để ghe chạy thật
chậm, như nấn níu, như không muốn khuấy động dòng nước hiền hoà.
– Ê, làm một điếu cho ấm đi!
Lúc nghe tôi giảm tốc độ máy, Vũ đã chồm người lên mui để xem tình hình, rồi đứng yên lặng
xem thằng bạn thăm hỏi sang chiếc xuồng dưa, đến bây giờ mới lên tiếng.
Tôi khom người xuống, đón lấy điếu thuốc đã mồi sẵn từ tay Vũ:
– Cám ơn bạn hiền!
Điếu thuốc rê, hơi khói nặng đặc quánh. Nhưng thà vấn thuốc rê mà hút, tôi ghét thứ thuốc hút
có cái tên rất dị hợm là “Sài Gòn Giải Phóng”. Không cần biết nó ngon hay dở ra sao, tôi chỉ ghét
cái hai chữ “giải phóng” gian manh, xảo trá của đảng cộng sản, mà đâm ra ghét lây cả gói thuốc,
thế thôi! Thà nhịn thèm, còn hơn phải hút, hay phải rớ tay vào các thứ có cái chữ “giải phóng” bất
nhân đó.
Quay lại nhìn chiếc xuồng dưa, giờ đã xa mờ phía sau. Tôi kéo tăng tốc độ máy, cho ghe chạy
nhanh hơn. Xoay điếu thuốc vấn vào trong để che mưa, cho đóm lửa con con sưởi ấm lòng bàn
tay. Màn mưa mù mờ. Dòng sông vắng bóng ghe tàu. Nhà lưa thưa, xa hút trong bờ. Tôi giữ cần
lái, lòng bồi hồi nhớ thương gia đình. Nhìn làn khói thuốc tan loãng nhanh theo gió lùa, bâng
khuâng, tôi nói lầm thầm: Sắp Tết rồi!
Bao cái Tết qua đi, gia đình đã không thấy tôi về. Tết nơi hành quân, Tết trong tù… Năm nay,
thêm một cái Tết lưu lạc trên chiếc ghe này. Rồi đây, nếu chúng tôi trốn thoát, không biết bao giờ
mới hết loài cộng phỉ, để tôi được trở về quê hương vui đón Tết?
Vũ nghe tôi nói, thở dài:
– Ừ, mau quá!
Tôi hướng về hai người khách quá giang đang ngồi trước mũi ghe:
– Sao… tao thấy bà dì Bảy này… trông không phải là dân đi buôn chuyên nghiệp. Với lại, sáng
nay hình như hai bà có ý tìm kiếm chi đó bên kia sông.
– Thì tao cũng thấy vậy!… Tao có mời vào trong mui tránh mưa gió mà không ai chịu, cứ ngồi
miết ngoài ấy… Cũng gần tới xóm trạm biên phòng rồi, hai bà cũng lên trên bến đó… Thôi, tao
xuống chuẩn bị giấy tờ đi trình trạm công an để mình ra biển.
– Ừ, đến vàm lục bình rồi đó!
Nói đến vàm lục bình, tôi chợt nhớ ra và theo hướng nhìn của hai người khách ngoài mũi, tôi
cho ghe chạy chậm lại và áp gần vào bờ hơn. Dòng nước mang đất bồi phía vàm lục bình, làm
lòng sông cạn ra gần giữa sông. Ghe lớn hay chở nặng không thể chạy gần bờ. Xa bên trong, dải
lục bình ven bờ lao xao, nhấp nhô theo làn sóng đùa vào. Trên thảm lá xanh mướt sau cơn mưa,
sắc bông tím nhạt điểm nhuỵ vàng trông càng tươi thắm. Những mầm sống này lững lờ trôi dạt
từng cụm nhỏ theo dòng nước. Như có hẹn hò, chúng gom tụ vào đoạn sông này, rồi nấn níu với
nhau, không chịu rời đi nơi khác. Mấy ngày nay, không rõ từ hôm nào, bên đám lục bình dày đặc
này cùng những mảng vỏ tràm, bọt bèo… người trên ghe xuồng thấy nổi phập phìu một phần lưng
của xác người. Cái quầng nâu sậm gần cuối lưng, nhìn từ xa, không rõ là dính đất nâu đỏ của phù
sa hay là vết máu. Thân người nằm sấp xuống mặt nước, nên khó định được hình dạng và tuổi
tác.
Ở đây, nghe tin lính biên phòng rượt bắn ghe tàu vượt biên, sau đó thường có xác người trôi
dạt theo dòng nước, và bị vướng vào vàm lục bình này. Như từ thời cướp chính quyền ở miền
Bắc, quân “cách mạng” giết người thả trôi sông, để đe doạ những người mà chúng luôn miệng ve
vãn gọi là “đồng bào”. Bây giờ, nhà cầm quyền cũng để dòng nước mặc tình đưa đẩy thi thể người
bất hạnh trôi nổi qua lại, hay bị cuốn ra biển khơi. Bây giờ, những kẻ có quyền bắn giết, chờ thân
quyến nộp tiền vàng để nhận xác về. Chúng ăn trên xác chết của nạn nhân. Tội nghiệp cho gia
đình quyến thuộc, họ thường thăm hỏi, xin theo ghe tàu chạy ngang để tìm và nhìn thi thể người
bất hạnh.
Ghe chạy chậm. Tiếng máy dầu nghe lưa thưa, thật buồn. Chạy chậm như thả trôi theo dòng
nước, và rồi chúng tôi cũng qua dần, rời vàm lục bình. Tôi theo ánh mắt của dì Năm và dì Bảy
ngoài mũi ghe, nhìn những vệt sóng đang rì rào gọi nhau tìm kiếm ven bờ. Không biết thi thể của
người bất hạnh ấy đang trôi dạt hay đã chìm nơi đâu?
Có phải chăng…
Thêm một mùa xuân hy vọng đã phải chìm vào mênh mông!
Rồi đây, mùa xuân có còn trở về trong ánh mắt tiếc thương của người thân còn sót lại?
Hay mỗi độ xuân về, mâm cơm cúng chiều Rước Ông Bà, còn là để tưởng nhớ ngày giỗ thân
quyến và ánh nến trắng tang thương lại đốt cháy thiệp xuân hồng!
Mắt nghe cay xót.
Dòng nước đổ ra biển vẫn đang cuộn dậy, như sôi sục sóng uất hờn…
Bùi Đức Tính
(KỲ TỚI: CHƯƠNG 7 – RỒI TẾT LẠI ĐẾN)
………………………
Audio: https://www.youtube.com/watch?v=LeJ3eQ9VFE8&t=1257s